|
Người viết: NGUYỄN DUY AN
Bài số 752-1331-98-vb6200505
Tác giả Nguyễn
Duy-An là cư dân Virginia, hiện làm việc cho National
Geographic. Lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ, ông gửi một tự
truyện và một truyện t́nh, đều bắt đầu từ B́nh Giả, một địa
danh quen thuộc của Việt Nam thời chiến. Trước hết, xin mời
đọc tự truyện.
*
Tôi ra đi vào một buổi chiều cuối tháng 5
– năm 1983, dưới cơn mưa đầu mùa ḥa lẫn với tiếng sấm ầm ́
nghe như tiếng pháo kích của những ngày binh lửa xa xưa.
Sau bao nhiêu lần vượt biên thất bại, tôi trở về B́nh Giả
với hai bàn tay trắng, sống qua ngày với nghề dạy tiếng Anh
“chui” cho con em những gia đ́nh có diện đi đoàn tụ, hoặc
đang nuôi mộng vượt biên như chính tôi.
Cũng nhờ việc dạy “chui” nên tôi đă gặp dịp may để ra đi.
Tôi không muốn kể dông dài về chuyến vượt biên làm ǵ, nhưng
chỉ muốn nhân dịp nầy nói lên lời tri ân chân thành của tôi
đến 4 gia đ́nh ở làng 3 đă chung nhau làm ghe và cho tôi một
chỗ để ra đi.
Trước hết tôi phải kể tới gia đ́nh anh chị Thái (đang ở Úc),
gia đ́nh anh chị San (đang ở California), gia đ́nh anh chị
Cẩn (xin dành một phút cầu nguyện cho linh hồn anh được
hưởng vinh phúc trên thiên đàng và ơn an b́nh cho chị và các
cháu hiện đang sinh sống ở Texas), và chị Dung cũng là người
chị họ của tôi, nhưng nay không c̣n nữa. Nguyện xin Thiên
Chúa và Mẹ Maria trả công bội hậu cho những người đă làm
phúc cho con, những người c̣n đang sống cũng như đă ĺa trần.
Trong cơn mưa chiều, tôi g̣ lưng trên chiếc xe đạp cũ kỹ hơn
2 tiếng đồng hồ từ B́nh Giả ra Láng Cát cho kịp chuyến đi
tối hôm đó. Giá như gia đ́nh tôi có chiếc xe Honda, tôi có
thể nhờ em tôi chở đi v́ buổi chiều không c̣n xe đ̣ nữa,
nhưng biết làm sao hơn được v́ gia đ́nh tôi nghèo quá! Em
trai tôi lúc bấy giờ chỉ là một thầy giáo dạy cấp I tại vùng
kinh tế mới Xuân Sơn, lương không đủ sống nhưng phải cố giữ
lấy nghề để tránh t́nh trạng đi “Nghĩa Vụ Quân Sự”.
Gia đ́nh tôi đă nghèo lại càng nghèo hơn v́ lo cho anh em
chúng tôi ăn học. Cha mẹ tôi sau khi di cư vào B́nh Giả một
thời gian, sau khi mất đi một người anh và một người chị của
tôi từ lúc mới sinh qua những cơn bệnh ngặt nghèo v́ “ngă
nước” nơi vùng đất mới B́nh Giả, nên đă theo người ta đi
dinh điền lên Phước Tín thuộc quận Phước B́nh, tỉnh Phước
Long.
Sau khi sinh tôi, cha mẹ tôi ra đi khỏi B́nh Giả v́ sợ rằng
tôi cũng sẽ không thọ được như anh chị tôi tại vùng đất đầy
chướng khí lúc mới thành lập trại di cư này. Nhưng rồi thực
tế quá phũ phàng, gia đ́nh tôi lại dọn ngược trở về B́nh Giả
năm 1966 v́ chiến tranh lan rộng trên vùng Phước Long. Trở
về B́nh Giả với hai bàn tay trắng, cha mẹ tôi đă phải bắt
đầu lại từ con số không, ăn nhờ ở đậu anh em bà con, làm
thuê làm mướn sống qua ngày, rồi phát rừng kiếm đất cày cấy.
Trong thời gian chạy loạn và di chuyển trở lại B́nh Giả, tôi
đă mất một năm học, rồi v́ tuổi trẻ ham chơi, phải ở lại lớp
một năm nên tôi học trễ hơn bạn bè cùng tuổi 2 lớp. Lúc bấy
giờ tôi thích lắm v́ trong lớp ḿnh lớn hơn các bạn nên lúc
nào cũng được làm trưởng lớp. Tôi vui, nhưng cha tôi lo buồn
lắm v́ nghĩ tới lúc tôi phải đi lính sớm v́ quá tuổi để được
hoăn dịch và tiếp tục học lên cao. Cũng trong ư hướng đó,
cha tôi đă theo những người quen biết lúc bấy giờ là cứ đứa
anh lấy khai sinh đứa em để đi học. Điều đó cũng b́nh thường
nếu em kế ḿnh là con trai, chỉ khổ cho những người có đứa
em kế là gái! Lúc bấy giờ tôi vẫn được gọi là “cu An”, nhưng
tự nhiên thấy giấy tờ từ năm tôi học lớp nhất (về sau là lớp
5) đề tên là Tuyết để nộp đơn thi vào Tiểu Chủng Viện Phước
Lâm (thuộc địa phận Xuân-Lộc). Điều đáng buồn là tên Tuyết
theo nghĩa phải trắng trẻo, nhưng v́ ngày ngày tôi vẫn phải
đi chăn ḅ sau giờ học, giang nắng cả buổi nên da đen như
thiểu số. Nhưng đó cũng là điều hay, v́ tên là Tuyết nhưng
da lại đen nên cả trường mấy trăm chú chủng sinh lớp lớn,
lớp nhỏ ai ai cũng biết tôi v́ cái tên lạ lùng ấy. Thôi,
không nói dông dài nữa, để tôi kể tiếp chuyện tôi rời B́nh
Giả.
Hôm ra đi, tôi cũng có thể nhờ một vài người bạn thân quen
chở đi, nhất là trong thời gian sau này, để trốn tránh cái
nạn “Nghĩa Vụ Quân Sự”, tôi nhận làm kế toán trưởng cho tập
đoàn Nông Cơ B́nh Giả nên quen biết các chủ máy cày khá thân.
Nhưng rồi tôi quyết định đạp xe đạp ra đi v́ không muốn cả
đám vượt biên bị lộ v́ ḿnh.
Rồi chúng tôi tới trại tỵ nạn Galang – Indonesia bằng yên
sau 4 ngày vượt biển trên chiếc thuyền bằng tre nhỏ bé. Nhờ
vốn liếng sinh ngữ Anh và Pháp từ những ngày trong chủng
viện, tôi lên làm thông dịch viên cho Cao Uỷ Tỵ Nạn và tiếp
tục dạy học kiếm thêm ít tiền c̣m phụ vào cơm Cao Uỷ nên
cuộc sống ở trại tương đối thoải mái, mặc dầu tôi không có
thân nhân ở nước ngoài. Đáng lẽ tôi có thể đi Úc hoặc Canada
thật nhanh và dễ dàng, nhưng v́ một vài lư do riêng tư, tôi
chỉ muốn đi Mỹ, mặc dầu chẳng có diện ǵ để đi Mỹ cả! Nói
theo ngôn ngữ của dân tỵ nạn lúc bấy giờ gọi là diện “hốt
rác”.
Việc đầu tiên tôi làm khi tới trại tỵ nạn là lấy lại tên An
để không phải làm tṛ cười cho bạn bè nữa, v́ da tôi càng
ngày càng đen sau những buổi lang thang trên băi biển Galang.
Lúc làm giấy tờ trong trại tỵ nạn, tôi cứ “thành thật khai
báo” là đă từng ở trong chủng viện, nhưng v́ muốn đi vượt
biên nên xin ra đời, cha mẹ làm nghề nông ở B́nh Giả, cá
nhân tôi làm kế toán trưởng cho tập đoàn Máy Cày B́nh Giả...
Chính nhờ cái gốc B́nh Giả mà tôi được nhận đi Mỹ sau khi từ
chối đi Úc, mặc dầu tôi đă được phái đoàn Úc nhận!
Nhờ làm việc trên văn pḥng Cao Uỷ nên tôi học lỏm được một
điều là muốn được Mỹ phỏng vấn theo diện “chùa”, trước hết
phải xin Pháp, Canada, và Úc từ chối (nói theo tiếng phe ta
lúc bấy giờ là “bị xù”). Với Pháp và Canada th́ tương đối dễ
bị từ chối v́ tôi chỉ nói không chịu được khí lạnh Canada v́
có bệnh kinh niên (không cần nói là bệnh ǵ), c̣n Pháp th́
chỉ nói không thích đế quốc là họ từ chối ngay.
Điều nan giải với tôi lúc bấy giờ là phái đoàn Úc. Nguyên
việc xuất thân từ tỉnh Phước Tuy là đă đủ tiêu chuẩn để được
Úc nhận rồi, v́ trong cuộc chiến, Úc đă “đỡ đầu” cho tỉnh
Phước Tuy, thêm vào đó tôi đang làm việc cho văn pḥng Cao
Uỷ nên sinh ngữ không thành vấn đề. Tôi t́m cách từ chối,
nhưng mấy nhân viên phái đoàn Úc cứ ghi vào hồ sơ là đủ tiêu
chuẩn đi Úc. Lúc bấy giờ anh Thái (chủ ghe cho tôi đi) cứ
bảo tôi là ông thầy đi Úc cho vui, nhưng tôi cứ ỡm ờ qua bữa,
t́m cách trốn phái đoàn Úc và chờ đi Mỹ.
Lúc bấy giờ tôi đă quen biết khá nhiều nhân viên Cao Uỷ và
phái đoàn các nước trong trại tỵ nạn Galang, nên họ nhờ mỗi
tuần lên dạy tiếng Việt 3 tối cho nhân viên Cao Uỷ và các
phái đoàn. Chính nhờ cái việc chỉ được trả lương mỗi tối một
bữa cơm này đă tạo dịp may cho tôi đi Mỹ.
Lúc bấy giờ trong phái đoàn Mỹ có ông “Ba Gà Đá”, là người
Mỹ lấy vợ Việt Nam, và biết nói tiếng Việt rất sành sơi đủ
giọng Bắc Trung Nam. Trong một lần ghé qua xem cách tôi dạy
tiếng Việt cho người ngoại quốc, ông ta hỏi tôi một câu bằng
tiếng Việt:
- Quê mày ở đâu bên Việt Nam?
Ông ta hỏi tôi câu này v́ thỉnh thoảng nghe tôi nói giọng
Trung với bà con ta, b́nh thường lại nói tiếng Bắc, lúc vui
cũng pha tṛ một vài câu giọng Nam.
V́ đă nghe nói về thành tích của ông “gà đá” này nên tôi
cũng hơi run run, chỉ nhỏ nhẹ trả lời:
- Tôi ở nhiều nơi khác nhau, nhưng tôi chọn B́nh Giả làm quê
hương v́ tôi được sinh ra ở đó, và cũng ra đi từ đó.
Tôi nói thế v́ từ lúc sơ sinh, cha mẹ tôi đă dẫn dinh điền ở
Phước Long, mới về B́nh Giả được vài năm tôi lại đi chủng
viện, măi tới năm 1979 mới thực sự trở về B́nh Giả...
Tôi hơi ngạc nhiên khi nghe ông ta nói lại:
- Có phải B́nh Giả trong bài hát “Kỷ Vật Cho Em” của Phạm
Duy không?
- Đúng thế.
- Dạy xong mày qua pḥng tao nói chuyện. OK?
- OK.
Nói thế rồi ông ta về pḥng. Anh chàng Mỹ lấy vợ Việt này có
biệt danh là “gà đá” v́ ông ta loại đi rất nhiều hồ sơ đi Mỹ,
cho dẫu là người có diện cựu quân nhân, và trên bắp tay có
xâm h́nh con gà đá (gà chọi). Biết là gặp phải thứ dữ của
phái đoàn Mỹ nên sau giờ dạy tiếng Việt, tôi thầm th́ đọc
một kinh Kính Mừng trước khi bước qua pḥng của “Ba Gà Đá”.
Tôi chưa kịp đưa tay gơ cửa, ông ta đă bước ra:
- Đi một ṿng Galang, vừa đi vừa nói chuyện. Cho mày gói
thuốc Malboro đây.
- Cám ơn ông Ba.
- Cứ gọi tao là Bill được rồi.
Chúng tôi vừa bước ra khỏi “Staff House”, Bill lên tiếng:
- Tao có người bạn chết ở B́nh Giả. Không bao giờ tao quên
cái làng đó, kể từ đầu năm 1965, lúc tao theo trực thăng tới
lấy xác người bạn không c̣n nh́n ra h́nh người nữa. Tao để ư
thấy mày nói chuyện với mấy người Việt-Nam nghe giống giọng
nói ở đó nên hỏi thăm, không ngờ mày lại là người ở đó.
- Lúc đó tôi c̣n bé tư, và cũng không ở B́nh Giả nên không
biết ǵ nhiều về trận đó.
- Tao biết chứ, mày có bao nhiêu tuổi, cho dẫu ở đó cũng
chẳng nhớ ǵ, có điều tự nhiên hồi chiều nghe giọng nói của
mày trên Văn Pḥng Cao Ủy, tao muốn gặp mày, hỏi thằng Joe
nó bảo tối nay mày lên dạy tiếng Việt ở “Staff House” nên
tao đến gặp mày nói chuyện.
- Cám ơn.
- Tao cũng biết nhiều người Việt Nam ghét tao, nhưng tao
“đá” tụi nó v́ nó khai đầu đuôi bất nhất, lại không có giấy
tờ chứng minh, làm sao kiểm chứng được.
- Tôi hiểu.
- Riêng mày, có cần giúp đỡ ǵ không?
- Nói thật nhé. Tôi muốn đi Mỹ, nhưng chẳng có diện ǵ cả!
Tôi đă bị Pháp và Canada đá, nhưng tụi Úc nó không chịu đá
nên phái đoàn Mỹ không mở hồ sơ theo diện nhân đạo.
- Mai tao mở cho, v́ mày “đến từ B́nh Giả”. Tao giúp mày để
nhớ người bạn đă chết trong trận B́nh Giả, và đă được dân
chúng ở đấy gánh xác về.
- Thật nhé?
- Tao có lừa người B́nh Giả bao giờ chưa?
Chúng tôi c̣n nói nhiều chuyện khác, nhưng đầu óc tôi chẳng
c̣n nhớ ǵ nữa cả, chỉ mong cho đêm chóng tàn để “trời lại
sáng”.
Và quả thật, Bill đă giữ lời hứa. Chiều hôm sau tôi được
phái đoàn Mỹ gọi lên phỏng vấn, điền đơn đi Mỹ theo diện
nhân đạo. Với tôi, đó là phép lạ. Tôi c̣n được Mỹ nhận trước
một vài người tới đảo cùng ngày, lại có giấy tờ lính tráng...
Lúc qua bàn “hướng nghiệp” để quyết định sẽ về đâu bên Mỹ
trước khi lên “tuyên thệ” ở bàn “Ba Gà Đá”, tôi mừng quá nên
trả lời đi đâu cũng được, v́ tôi chẳng có thân nhân bà con ở
Mỹ, chỉ một vài người quen sơ nên không dám làm phiền. Đây
chính là cái sai lầm đầu tiên trong đời tỵ nạn của tôi.
Thế là tôi được Mỹ nhận dưới diện mồ côi. Tôi vui mừng không
bút mực nào tả được, cùng bạn bè tiệc tùng lai rai cho tới
ngày đi học khóa “Cultural Orientation” chuẩn bị lên đường
đi Mỹ. Nhưng than ôi, nơi tôi đến lại là một vùng quê hẻo
lánh, một nông trại nhỏ bé cách thành phố Pittsburgh, tiểu
bang Pennsylvania hơn một tiếng đồng hồ lái xe.
Tôi nhớ măi những ngày đầu gian khổ đó, và nghĩ thật nhiều
về cuộc sống vất vả của gia đ́nh đang lây lất qua ngày ở
thôn B́nh để làm động lực thúc đẩy ḿnh vươn lên.
Tôi được đón về nhà người bảo trợ vào khoảng 11 giờ khuya
ngày 2 tháng 8 năm 1984, và được mời dùng bữa cơm tối nấu
bằng gạo trộn lẫn với bơ, đậu xanh, và nhiều thứ khác nữa,
trông như một tô cám heo con nên tôi rớt nước mắt ngồi nhâm
nhi thật chậm, trong khi ông bà bảo trợ và đứa con trai 19
tuổi ngồi nh́n, v́ cả nhà đă dùng cơm tối trước khi ra phi
trường đón tôi.
Nhâm nhi được vài miếng, tôi làm bạo hỏi xin một miếng bánh
ḿ v́ không tài nào nuốt nổi cơm nấu theo kiểu Mỹ. Ông bà
bảo trợ nghe thế mừng lắm, v́ họ sợ tôi không ăn được bánh
ḿ nên đă nấu riêng nồi cơm đặc biệt đó đón tôi, v́ họ được
hướng dẫn là người Việt chúng ta chỉ ăn cơm hằng ngày.
Sau bữa tối, cả nhà đi ngủ sau khi chỉ cho tôi một pḥng nhỏ
có chăn gối đầy đủ. Tôi trằn trọc măi v́ lạ nhà, lạ giờ, và
buồn tủi cho số phận. Tôi nuôi mộng sang Mỹ nếu không đi tu
nữa cũng phải học cho đến đầu đến đũa, nay lại lọt vào một
nông trại xa xôi hẻo lánh thế này, chẳng biết than thở cùng
ai!
Măi tới gần sáng tôi mới chợp mắt được mấy phút th́ đứa con
trai người bảo trợ gọi dậy ăn sáng và ra đồng. Nó nhờ tôi
sửa cái máy cày bị hư cả tháng trước đang nằm giữa ruộng bắp.
Tôi chẳng biết một tư ǵ về máy móc nên dở khóc dở cười. Tôi
giải thích sao nó cũng chẳng chịu nghe, cứ luôn miệng bảo
tôi “give it a try”. Mấy ngày sau tôi mới khám phá ra là
người ta bảo trợ tôi v́ nghĩ tôi làm nghề nông rất giỏi, lại
trông coi máy cày ở B́nh Giả. Đúng là tờ giấy khai lư lịch
đă hại tôi rồi.
Tôi sinh ra và lớn lên ở miền quê, nhưng từ bé tới lớn, tôi
chỉ biết chăn ḅ rồi đi học thôi. Tôi nhớ măi những lời nhắc
nhủ của cha tôi mỗi lúc anh em chúng tôi chán học: “Các con
cố gắng mà học, đời cha đă khổ v́ ông nội mất sớm, không
được học nhiều nên cứ phải cày sâu cuốc bẫm. Thời nào người
có học cũng hơn, các con cố lên, đừng chán nản.” Chính nhờ
những lời khuyên dạy đó mà tôi đă t́m mọi cách để rời nông
trại, tự đi t́m cho ḿnh một tương lai.
Cũng may là người bảo trợ ngoài việc cho tôi nơi ăn chốn ở,
mỗi ngày cũng trả cho tôi 20 dollars, nên sau mấy tháng tôi
đă để dành được một ít tiền để ra đi.
Trong thời gian ở nông trại, tôi liên lạc thư từ về Việt Nam
cũng như với bạn bè quên biết để t́m chỗ ra đi. Thật may cho
tôi: Trong thời gian c̣n là chủng sinh, nhờ cha bố là linh
mục Trần Đ́nh Trọng, chánh xứ Vinh Trung, tôi quen biết cha
Trần Duy Nhất lúc đó ngài ở Vũng Tàu, nay nghe tin ngài đang
trông coi một cộng đoàn Việt Nam ở Falls Church, tiểu bang
Virginia. Tôi cũng có người bạn quen bên trại tỵ nạn định cư
ở vùng này, nên t́m cách liên lạc và quyết định sẽ dọn về đó.
Người bạn tôi không có đạo và cũng mới qua nên không biết có
cha Nhất ở đó hay không, nhưng bảo tôi cứ xuống, cùng lắm
kiếm việc ǵ làm sống qua ngày cũng được.
Thực t́nh mà nói, nếu chỉ muốn sống qua ngày th́ tôi cứ ở
ngay tại nông trại c̣n tốt hơn. Cũng có một vài người quen
rủ tôi dọn về vùng New Orleans, Houston hoặc San Jose, nhưng
v́ cứ mang trong đầu ấn tượng là phải sống gần vùng thủ đô
mới dễ vào đại học (lúc bấy giờ tôi đâu có biết bên Mỹ này
chỗ nào cũng có trường đại học), nên tôi đă quyết định mua
vé xe bus dọn về vùng Virginia, bên bờ sông Potomac sát cạnh
thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
Xuống tới Springfield, Virginia tôi mới biết tin cha Nhất đă
mất trước đó mấy tháng, tôi làm liều gọi điện thoại lên nhà
thờ cho cha Trần Đ́nh Nhi, cũng là em họ của cha Nhất, lúc
bấy giờ đang là chánh xứ giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
và đă được ngài hướng dẫn, giúp đỡ thật nhiều trong những
ngày chập chững hội nhập vào cuộc sống mới tại Mỹ.
Năm sau (1985), lúc cha bố của tôi là linh mục Trần Đ́nh
Trọng được Chúa gọi về, tôi đă xem cha Nhi như là người cha
tinh thần cho tới bây giờ. Cha Trần Đ́nh Nhi đă hướng dẫn và
giúp đỡ tôi kiếm chỗ ở (share pḥng), xin tiền trợ cấp, xin
tiền đi học đại học... Và cũng tại vùng này, tôi được gặp
lại một người B́nh Giả đầu tiên ở Mỹ, đó là anh Đinh Văn
Khang người Nghi Lộc, giáo xứ Vinh Châu. Một người mà lúc
nào tôi cũng kính trọng như là anh ruột của ḿnh, v́ tôi
không có người anh ruột nào cả. Điều ngẫu nhiên nữa là anh
Khang cũng có người em ruột tên An, ngày trước cũng học ở
tiểu chủng viện Phước Lâm, trên tôi một lớp (h́nh như anh
Đinh Văn An bây giờ đang ở Atlanta, Georgia).
Có một chuyện xảy ra trong năm học đầu tiên ở tiểu chủng
viện Phước Lâm, không biết anh An c̣n nhớ hay không, riêng
tôi chẳng bao giờ quên cả. Số là một buổi chiều đang lúc ăn
cơm ở chủng viện, có người gọi anh An ra gặp khách v́ có
người lính nào đó đến thăm. Nhưng lại không phải khách của
anh Đinh Văn An, mà là chú của tôi đang đi huấn luyện quân
sự ở Long Hải, nghe tin tôi học ở tiểu chủng viện Phước Lâm
nên ghé thăm. Chú tôi chỉ biết tôi tên là An chứ có bao giờ
biết đến cái tên Tuyết trong giấy tờ. Nghe nói An ở B́nh Giả
th́ người ta gọi anh Đinh Văn An. Chuyện xảy ra từ cuối năm
1969 mà tôi vẫn nhớ như mới ngày nào. Ôi thời gian trôi
nhanh quá!
Khi có điều kiện tôi sẽ viết lại cuộc sống sinh viên nghèo
tại Mỹ, và những diễn tiến kế tiếp trong cuộc đời tỵ nạn của
tôi, từ một cậu bé chăn ḅ ở B́nh Giả trở thành nhân viên
của National Geographic tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ.
*
Con viết những ḍng này để bày tỏ ḷng
biết ơn chân thành của con đối với cha mẹ đă sinh thành và
dưỡng dục con nên người. Bây giờ cha không c̣n nữa, nhưng
con vẫn ghi sâu trong tâm khảm những lời dạy dỗ của cha từ
khi con c̣n thơ bé. Những lúc gian nan vất vả, con vẫn nghĩ
nhiều về tấm ḷng hy sinh tận tuỵ của cha mẹ để tạo điều
kiện cho anh em chúng con được ăn học cho bằng người ta, để
cố gắng vươn lên, không thất vọng, nản chí. Con xin được ghi
nhớ công ơn tất cả mọi người: Các cha, các thầy cô và anh em
bà con đă giúp con cách này hay cách khác cho con có đủ
“hành trang vào đời”.
Nguyễn Duy-An
|