Ông cha xứ
Nguyên Nhung
♣
www.caimon.org
mến chào bạn
* Lời người viết:
Chuyện kể lại một góc đời thường của một linh
mục sau năm 1975, với những nhọc nhằn trên đôi
vai của ông cha xứ trong một xứ đạo nghèo, và
tinh thần bác ái của ông bao giờ cũng là một món
quà Giáng Sinh đáng trân trọng.
Nguyên Nhung
Nhà là nhà xứ mà cũng là nhà Ḍng, Cha là cha xứ
lại kiêm luôn việc trông nom tu viện, gồm một số
tu sĩ nam, nữ nguyện tận hiến cuộc đời cho Thiên
Chúa và tha nhân. Ấy là số tu sĩ chỉ độ hơn mười
người, sau khi đổi đời một số đă bỏ về nhà làm
ăn sinh sống. Có làm linh mục vào thời buổi ấy
mới cân lượng được cây thánh giá Chúa gửi đang
vác trên vai, chứ đâu sung sướng ǵ như người ta
nghĩ: “ Một người làm Cha... cả họ được nhờ”.
Xứ chỉ là xứ nghèo, số giáo dân đến nhà thờ được
vài trăm, đa số đều vất vả và đơn chiếc. Nh́n là
biết ngay, giáo dân chỉ toàn đi dép nhựa với mặc
áo bà ba, mấy cái áo dài chắc được đem ra chợ
trời để đổi lấy cơm gạo, hoặc mấy bà mẹ khéo tay
đă lấy may lại tấm áo Tết cho con. Đám trẻ con
lại càng tội hơn, chúng nó đi chân đất đến nhà
thờ, áo quần xộc xệch, mặt mũi vêu vao, nh́n đám
con chiên cha xứ chỉ muốn rơi nước mắt...
Bây giờ nhà thờ lại thiếu linh mục, chiều thứ
Bảy, ngày Chủ Nhật là ngày chạy “ show” làm lễ
cho giáo dân ở hai nơi khác nhau. Mà đă xong đâu,
c̣n phải chọn giờ làm lễ sao cho phù hợp, không
làm mất th́ giờ lao động của nhân dân. Chỉ có
những buổi lễ ngày thường Cha phải dậy sớm lắm,
nhà thờ chỉ lác đác mấy ông bà già không ngủ
được đi lễ sớm, c̣n đám người lớn phải lo chạy
gạo giờ nào mà đi lễ. Không có hát Thánh ca,
không có đàn sáo trầm bổng ǵ hết, quanh đi quẩn
lại chỉ có mấy cha con chúc B́nh An cho nhau.
B́nh An là tốt rồi, không dám mong mỏi ǵ hơn.
Khu nhà thờ nằm trong khuôn viên rộng răi giờ
này như mâm cỗ đập vào mắt những kẻ đói ăn,
khiến Cha nghĩ nát đầu để giữ lấy làm nơi thờ
phượng và làm chỗ tu học cho các tu sĩ. Nh́n bề
ngoài khu nhà thờ có vẻ bề thế, nhưng sau nhiều
năm không được sửa chữa, tường đă nứt, mưa đến
dột nát tứ tung, tiền không có ăn, nghĩ đến
chuyện quét vôi cho sáng sủa nhà thờ chắc chỉ là
chuyện chiêm bao.
Nghĩ măi Cha mới nảy ra ư kiến trồng rau nuôi gà,
tất cả đều “tay làm hàm nhai”, các tu sĩ bây giờ
tíu tít lên v́ phải “tăng gia sản xuất”. Không
phải v́ cái khẩu hiệu “lao động là vinh quang”
vẽ chữ vàng trên nền vải đỏ treo bên kia đường
đập vào mắt Cha, nhưng “đói th́ đầu gối phải ḅ”
thôi. Nghĩ cho cùng cha vẫn thấy hợp lư, con
người không thể dấn thân vào Đạo khi không tự
ḿnh lo được cho ḿnh miếng ăn, lại cứ phải sống
nhờ vào ḷng từ tâm của tín hữu.
Khu nhà thờ biến thành một trại gà, v́ thế mỗi
buổi lễ con chiên vẫn ngửi được mùi phân gà
thoang thoảng trong câu kinh nguyện. Những mảnh
đất xung quanh khu nhà thờ, giờ này trồng đủ thứ
rau xanh. Mùa nào thức nấy cả nhà Ḍng trông vào
mảnh vườn rau làm thức ăn chính. Su hào, cải bắp,
khoai lang, mùng tơi, rau đay, rau muống, có
chút rau xanh nấu với tôm khô cũng đẩy được bao
nhiêu bát cơm gạo hẩm vào bụng. Khổ nỗi, số rau
ấy được lũ trẻ đi nhà thờ tận t́nh chiếu cố, chả
lẽ chúng nó mở miệng xin mà Cha lại từ chối,
thành ra sau buổi lễ dành cho thiếu nhi ngày chủ
nhật, bao nhiêu rau trong vườn được vặt trụi.
Đất c̣n rộng, sợ ngứa mắt người khác, cha nghĩ
đến chuyện đào ao nuôi cá, thêm chút chất đạm
cho mỗi bữa cơm. Ban đầu chưa có kinh nghiệm,
mua bao nhiêu cá giống về thả xuống ao, chỉ ngày
hôm sau cá con đă nổi lềnh bềnh trắng xóa trên
mặt nước. Ít lâu sau ao cá mới gầy được một vài
lứa, hôm nào lưới lên Cha con được một bữa bồi
dưỡng cũng thỏa ḷng. Nhưng lại có vấn đề, lũ
trẻ đi nhà thờ ngày chủ nhật hay leo trèo,
nghịch ngợm, ao cá nằm phơi ra đó lỡ đứa nào sảy
chân chết đuối là Cha lănh nợ. Lại phải rào, dây
kẽm gai lúc ấy rất hiếm, dù ngày xưa chỉ để rào
quanh đồn bót với những cơ quan quân sự. Thế là
cha con lại h́ hục chạy vạy để rào ao nuôi cá,
tiền bán trứng gà dành dụm măi bây giờ lại đổ
vào việc mua dây kẽm gai, gà không có thực phẩm
đầy đủ cứ gầy teo, rồi mùa gió chướng năm đó gục
xuống chết hết, cha con tha hồ ăn thịt gà” toi”.
Vấn đề chạy gạo cho cả chục người ăn là “căng”
nhất. Nghĩ tới nghĩ lui, may là c̣n được chiếc
xe Honda cũ, Cha vẫn dùng để chạy đi làm lễ từ
nhà thờ này sang nhà thờ kia. Cha nghĩ ngay đến
việc chạy xe “lôi” kiếm sống, gia nhập vào
nghiệp đoàn “Xe Lôi” rất đông đảo. Xe lôi là một
loại xe chuyên chở b́nh dân rất thông dụng ở
miền Tây, chỉ cần một cái thùng xe phía sau là
cha xứ có thể biến thành một bác chạy xe xích lô
rất chân chính. Miệng lưỡi thế gian không thể
cho cha là loại người trốn tránh lao động, sống
bám vào công sức của người khác, lại c̣n giải
quyết được chuyện bao tử cho bấy nhiêu con người
trong nhà Ḍng.
Mỗi buổi sáng ngày thường sau khi tan lễ, cha ăn
uống qua loa rồi tất tả cởi chiếc áo chùng thâm,
thay vào đó là cái áo lính cũ, với một mũ rộng
vành kiểu nhà binh, bấy nhiêu đó là Cha có thể
ḥa nhập vào với ḍng đời xôn xao ngoài kia. Bởi
vậy mới xảy ra chuyện cười ra nước mắt giữa một
ông cha xứ chạy xe lôi với một bà già giáo dân
trong họ Đạo. Sáng sớm bà già đón xe đi chợ, v́
chân yếu, chợ lại xa, bà không làm sao lạch được
ra chợ. Bà già đứng bên đường ngoắc chiếc xe lôi
vừa chạy tới. Chiếc xe tấp vào lề đường, cha xứ
giấu mặt có đôi kính trắng dưới cái mũ rộng vành
đội sùm sụp.
“Từ đây ra chợ, chú lấy bao nhiêu?
“Bà cho bao nhiêu cũng được.”
Bà già vừa ngồi trên xe vừa lẩn thẩn hỏi cho vui
chuyện:
“Chú chạy xe có khá không?”
“Th́ cũng nhàng nhàng đủ ăn, thưa bà.”
“Nhà chú được mấy đứa con?”
“Nhà tôi đông con lắm...”
Cha chỉ trả lời cầm chừng, v́ cụ bà th́ cha biết
rồi, chỉ có bà không nhận ra ông cha xứ của ḿnh
thôi. Bà là bà cụ đọc kinh to tiếng nhất trong
nhà thờ, khoác tấm áo dài màu cánh gián, ngồi
gật gù dưới chiếc cột có tượng Đức Mẹ Lộ Đức,
tuy mắt kém nhưng vẫn ḷ ṃ đi nhà thờ mỗi buổi
sớm. Bà cụ than:
“Đông con nhưng chú có chiếc xe để kiếm cơm cũng
c̣n khá. Tôi bây giờ chỉ sống nhờ vào con , con
trai lại đi tù, con dâu ở nhà nuôi cháu cho ḿnh
thấy vất vả quá. Hôm nay, tôi phải đi chợ để làm
mấy món tiếp tế cho con, chia với vợ nó chút khổ,
chứ trông vào một ḿnh nó, thật ái ngại!”
Cha thấy nao nao buồn, xung quanh Cha là những
cây Thập giá đè nặng lên thân phận của những gia
đ́nh giáo dân trong xứ đạo, nhà nào cũng khổ như
nhau, chỉ ít hay nhiều mà thôi. Đa số đàn ông
vắng mặt trong nhà, đàn bà th́ chân yếu tay mềm,
suốt ngày quần quật ngoài chợ kiếm ăn, nuôi một
đàn con nheo nhóc cơm không đủ ăn, áo không đủ
mặc. Đức bác ái th́ không thiếu trong con người
linh mục, nhưng lấy ǵ để chia xẻ đây?
Chiếc xe rề rề tấp vào vỉa hè con phố ở đầu chợ.
Bà già xuống xe, bàn tay nhăn nheo run run mở
cái kim băng ngoài túi áo để lấy tiền, nhưng ông
chạy xe lôi tử tế kia nhất định biếu không cho
bà chuyến xe mở hàng đầu ngày. Mắt bà hấp hem
nên chưa nhận ra ông ta là ông cha xứ của ḿnh,
dù nghe giọng nói kia quen quen mà chịu chưa nhớ
ra được. Măi tới khi lần ṃ đi vào khu chợ, vừa
đi vừa cầu nguyện cho người đă làm ơn cho ḿnh,
bà mới ngờ ngợ nhận ra cái tiếng nói quen quen
kia là tiếng nói ông cha xứ. Bà bồi hồi cảm động,
hai hàng nước mắt cứ chực tuôn ra trên hai g̣ má.
Bà vừa đi vừa thầm thĩ cầu nguyện Chúa nhân lành
trả công cho ông cha xứ của ḿnh.
Làm ăn quần quật thế mà cha con vẫn sống thật
vất vả, bữa cơm bày biện trên chiếc bàn dài,
nh́n vào chỉ có canh cua đồng nấu rau đay, một
đĩa cá kho, thêm một đĩa cà pháo, hôm nào ngon
lắm th́ thêm một vài miếng đậu hũ xốt cà. Tiện
tặn, khiêm nhường, co kéo mà sống vậy cũng chưa
yên thân, giáo dân nghèo bần cùng, đơn chiếc
thỉnh thoảng vào nhờ cha giúp mấy lít gạo cũng
không từ chối được.
Khi dấy lên phong trào hồi hương lập nghiệp, nhà
nhà đưa nhau đi xây dựng vùng quê hương mới, Cha
nghĩ ngày nghĩ đêm để t́m cách giúp con chiên
được ở lại thành phố. Họ đổi mới thị trường công
thương nghiệp, thay v́ phải đi cày sâu cuốc bẫm,
cho nên cha lại phải khôn khéo ngoại giao mới
được giao cho công việc điều hành một Tổ Hợp Dệt
Thảm bằng cói lác, được đánh giá là hàng mỹ nghệ
xuất khẩu ra nước ngoài. Nhà xứ lại nhộn nhịp
người ra kẻ vào, các tu sĩ thay cha điều khiển
Tổ Hợp và dạy nghề lại cho bà con trong xứ.
Không tham gia vào mấy cái Tổ hợp th́ không phải
là người thức thời, ai cũng biết chả sống được
bằng cái nghề ấy, v́ có làm cong lưng ra cũng
không chạy đủ gạo cho con ngày hai bữa, chỉ có
những người độc thân bám víu mà sống được, c̣n
người nặng gánh gia đ́nh tham gia cho có h́nh
thức, rồi cắp túi ra chợ Trời ngồi mua chui bán
nhủi. Dĩ nhiên chỉ có các vị tu sĩ phải chăm chỉ
làm để lấy sản phẩm giao cho nhà nước, cũng được
cấp phiếu mua gạo giá quy định, đỡ đần gánh nặng
cho cha xứ.
Cũng v́ ḷng thương người, đức bác ái mà đời cha
đôi phen điêu đứng, việc ngoài đối phó chưa xong
mà việc trong lại rối rắm bằng mười. Điều làm
cha buồn ḷng nhất sao nó giống hệt nỗi buồn của
Chúa Giêsu năm xưa, bị chính người môn đồ thân
yêu bán đứng lấy ba mươi đồng bạc. Cha cô đơn
chống chỏi với bên ngoài, cũng chỉ v́ muốn giữ
lấy cái nhà ḍng cho các tu sĩ và ngôi nhà thờ
cho giáo dân. Nhưng điều hành một giáo xứ và một
nhà ḍng, cha không tránh được chuyện người ưa
kẻ không thích, khổ tâm nhất là bất cứ việc ǵ
cha làm v́ ḷng bác ái, lại bị nhiều lời đàm
tiếu vô căn cứ. Để rồi đôi khi cha thấy ḿnh y
hệt phạm nhân nằm trên cây thập giá, mà mỗi lời
châm chích lại y như những cái đinh vô h́nh đóng
vào tâm hồn cha, khiến Cha chỉ biết thở than với
Chúa.
Cha hiểu trong đêm tối chỉ có Chúa mới lắng nghe
được cha đang nói ǵ, hay chính tiếng nói của
lương tâm đang ủi an cha để làm nốt trách nhiệm
quá nặng nề trên đôi vai người linh mục tội
nghiệp. Ngày xưa Chúa chỉ có mỗi Phi la Tô xét
xử, mà với áp lực của đám đông đang gầm thét đ̣i
đóng đinh Chúa, trước khi giao Chúa cho quân dữ,
hắn đă phải rửa tay để thề rằng không có trách
nhiệm ǵ trong cái chết của người công chính này.
Cuối cùng, cha quyết định ḿnh sẽ học bài học im
lặng của Chúa, chờ đến một ngày người ta sẽ hiểu
cha hơn, qua những việc cha làm, đó là cách hữu
hiệu nhất mà vẫn rất cần thời gian mới trả lời
được.
* * *
“Ai bảo chăn trâu là khổ”, cũng như “ai bảo làm
Cha ... là sướng”. Thời nào Cha sướng không biết,
chứ lúc ấy nghề linh mục là nghề cay đắng nhất,
hai ba thứ dâu đổ vào đầu tằm, việc Đạo việc Đời
phải khéo léo giải quyết, ai vác thay được cho
Cha cây Thánh giá nặng nề chừng ấy. Nói theo Tôn
giáo bạn th́ đi tu là xa lánh việc đời, quẳng
cái đa đoan để tầm đường t́m sự giải thoát cho
bản thân, giá được vậy th́ đă đỡ khổ. Từ sáng
tinh sương tới tối mịt, khi chuông nhà thờ vang
lên từng hồi dồn dập mỗi buổi sớm mai, Cha đă
bắt đầu lo cho một ngày sắp đến.
Nh́n xuống hàng ghế quỳ càng ngày càng thưa thớt
giáo dân, cha thấy ḷng nặng trĩu một nỗi buồn.
Mùa Giáng sinh sắp tới rồi, mùa Vọng thường là
mùa chuẩn bị cả phần hồn lẫn phần xác. Năm nào
cũng vậy, nhà thờ vui nhất mùa Giáng Sinh, ca
đoàn bắt đầu chuẩn bị tập hát, những ca khúc
giáng sinh rộn ràng khiến ḷng ai cũng như mở
hội. Đám trẻ dạo này ít tới nhà thờ, ngoài giờ
đi học chúng nó bận họp hành tối ngày, công tác
kiểm điểm liên miên giờ đâu mà tham gia sinh
hoạt của nhà thờ. Đúng ra cũng chỉ có mỗi ca
đoàn là c̣n tương đối hoạt động, mấy hội đoàn
kia tự động giải tán, chả ai bảo ai cứ lẳng lặng
mà tan hàng...
Những chiếc đèn ngôi sao sau mùa Giáng Sinh hằng
năm, được bọc giấy báo cất kỹ trong kho, bây giờ
được lôi ra làm lại như mới, giăng hai hàng song
song bên hông nhà thờ, khiến khu nhà xứ lại tràn
ngập bầu không khí Giáng Sinh.
Nhưng sao vẫn buồn thế nào ấy? Góc sân kia có
thể làm hang đá ở chỗ ấy, dưới bóng mấy cây
dương xỉ để nghe tiếng lá reo vi vu, như âm điệu
buồn buồn của bài ca sinh nhật “Đêm Thánh Vô
Cùng”, hay cảnh màn trời chiếu đất của một gia
đ́nh cách đây gần hai ngh́n năm. Năm nay Cha
dâng Lễ ngoài trời, v́ lễ sớm, bọn trẻ con đông,
nhà thờ không đủ chỗ chứa bấy nhiêu con người,
ngồi trên cung thánh nh́n xuống, cha thấy mướt
mồ hôi. Tất cả đă được cha tính toán để ít là
cũng mang được niềm vui Giáng Sinh đến cho giáo
dân trong họ đạo. Ai cũng biết xứ nghèo lắm, cha
xứ cũng nghèo nàn, hiền lành nên mùa Giáng Sinh
cũng chỉ được có thế, nhưng họ vẫn tuôn đến nhà
thờ vào đêm Giáng Sinh. H́nh như trong lúc này,
họ mới cảm nhận được cái tương quan giữa cảnh
đời của họ với gia đ́nh Giêsu trong hang đá bé
nhỏ kia, có vẻ ǵ gần gũi lắm.
Cha hồi tưởng lại những mùa Giáng Sinh vài năm
trước, cả khu nhà thờ sáng rực đèn sao như mở
hội. Người người không phân biệt tôn giáo kéo
đến đứng đầy trên sân, vừa nghe nhạc Giáng Sinh,
vừa ngắm nghía Chúa Hài Nhi nằm trong máng cỏ.
Năm xưa ấy, hang Bê Lem cũng khác với bây giờ,
những ngọn đèn màu nhấp nháy liên tục làm lóng
lánh thêm những sợi kim tuyến giăng ngang dọc
trong hang đá. Có lẽ Chúa cũng không hài ḷng
lắm v́ cái tưng bừng tương phản với sự nghèo khổ
của gia đ́nh Thánh gia, v́ thế năm nay vừa để
tiết kiệm điện, vừa để thích hợp với cảnh nghèo
nàn rất ư nghĩa, Cha chỉ dùng một ngọn đèn mờ,
tỏa ánh sáng hắt hiu xuống những tượng thánh.
Buổi tối trước ngày Lễ, cha đứng ngắm nghía cảnh
nghèo nàn của gia đ́nh Thánh gia trong hang đá
đơn sơ, cha chỉ biết xin Chúa ban cho cha trở
nên hột muối ướp cho mặn đời, với tinh thần khó
nghèo, cha có cơ hội tận hiến đời ḿnh cho anh
em mà thôi.
Buổi chiều trước lễ Giáng Sinh, lũ trẻ đă túa ra
nhà thờ vây xung quanh hang đá, trầm trồ nh́n
Chúa Giêsu bé nhỏ xinh đẹp đang nằm mỉm cười
trong máng cỏ, tay chân giơ lên như muốn nhảy ra
chơi đùa với bọn trẻ rất dễ thương kia, những nụ
cười ngây thơ ấy nh́n đời rất thánh thiện như
tâm hồn của chúng nó. Đám trẻ nhỏ xô đẩy nhau để
được đứng gần lại với tượng Chúa, lúc này y hệt
em bé của chúng nó ở nhà. Cha chưa bao giờ mắng
mỏ lũ trẻ con , như đám người lớn vẫn gầm gừ với
lũ nhỏ khi muốn độc quyền lănh đạo từ trong nhà
ra tới ngoài xă hội. H́nh như chưa bao giờ cha
nổi giận với ai, vẫn chỉ là nụ cười hiền với một
câu nói nhẹ nhàng khiến người kia dù có lỗi, vẫn
không mặc cảm ḿnh là người có tội.
Cha dự trù phải có một món quà Giáng Sinh ư
nghĩa cho những gia đ́nh nghèo, mà nghĩ măi chưa
ra. Cuối cùng cha “ à” lên sung sướng, chiếc xe
Honda cũ kỹ của cha kể cũng rất được việc, chỉ
cần để dành chút tiền nhỏ của mỗi cuốc xe trong
nhiều tuần lễ, cha cũng sẽ có tiền để thực hiện
cái mộng ước đơn giản trong mùa Giáng Sinh. Đó
là những ổ bánh ḿ nóng ṛn để làm quà cho những
gia đ́nh neo đơn, khốn cùng trong cái xứ đạo
nghèo của Cha. Cha thiết thực tính toán với ông
chủ tịch nhà xứ, chả có ǵ bằng “một miếng khi
đói, bằng gói khi no”, vừa hợp t́nh, vừa hợp
cảnh, bởi h́nh ảnh người đàn bà trong xứ đạo
trong cuốc xe buổi sáng hôm nào, vẫn c̣n ghi đậm
trong ḷng cha nỗi khổ của một người mẹ, cha vẫn
nghe ḷng nao nao xúc động...
Thánh Lễ cử hành vào lúc 8 giờ, thay v́ nửa đêm
như những năm trước, lễ đêm khuya khoắt chỉ có
người lớn, ông già bà cả, c̣n đám trẻ con đă lên
giường từ lúc 10 giờ. Nh́n vẻ náo nức của lũ trẻ
con trên sân nhà thờ, tự cha cũng biết không nên
dập tắt niềm vui giáng sinh trong ḷng lũ nhỏ.
Trên khuôn mặt chúng, cha nh́n thấy Chúa Giêsu
đang hiện diện trong tâm hồn đơn sơ của chúng,
nh́n niềm vui của trẻ con cha mới thực sự nh́n
thấy sự b́nh an của tâm hồn. Quanh năm ngày
tháng chúng được mấy giờ vui, nhất là đêm Chúa
sinh ra đời, dù bối cảnh hang đá năm nay không
rực rỡ, tưng bừng như những năm trước, nhưng ư
nghĩa của hang đá Bê Lem chắc hẳn sẽ ghi đậm
trong ḷng những đứa bé thơ suốt cuộc đời. ”Suy
bụng ta ra bụng người”, hồi cha c̣n bé, cha cũng
là một cậu bé con nhà nghèo hiền lành, cha đă
hiểu được niềm vui ấy vẫn rạo rực nhiều ngày
trước mùa Sinh Nhật, nó cháy măi như ngọn nến
trong chiếc đèn ngôi sao lẻ loi treo bên cạnh
máng cỏ, để dù khi khôn lớn, mỗi mùa Giáng Sinh
về, tâm hồn cha vẫn cứ reo vui như độ c̣n là một
chú bé con.
Khi tiếng chuông ngân từng hồi giục giă, ca đoàn
bắt đầu cất tiếng hát vang dội cả một góc sân
nhà thờ, những đứa trẻ con bắt đầu ḥa nhịp với
hội hát, khiến ḷng cha tự dưng xúc động. Bao
nhiêu đứa bé đứng dưới kia là bấy nhiêu hoàn
cảnh gia đ́nh bày trải trước mắt cha, có những
gia đ́nh neo đơn mà cha nh́n thấy trong giáo xứ,
nhà nhà quạnh vắng chỉ có đàn bà và trẻ con. Cha
hy vọng rằng lễ Giáng Sinh sang năm, trong
khoảng sân giáo đường này, sẽ là h́nh ảnh ríu
rít của đám trẻ con bên cha mẹ. Bà già được cha
chở giúp trong chuyến xe lôi buổi sớm hôm ấy,
dạo này đôi chân đă yếu, hai mắt đă mờ, không
c̣n lạch được tới nhà thờ những buổi lễ sớm, con
người cũng y như chiếc lá thoảng rơi xuống sân
cỏ, chẳng mấy chốc lại chỉ là hạt bụi giữa cơi
trần ai....
Lễ tan, giáo dân tản mát ra về, một vài người
c̣n ra đứng trước hang đá cầu nguyện, cơn gió
tháng chạp thổi qua khiến đêm Giáng Sinh mang
mang một chút buồn hiu hắt. Những đêm Noel bây
giờ, đâu phải tất cả trần gian đều ch́m ngập
trong an ḥa và hạnh phúc, h́nh như trong Cha
lại phảng phất nỗi buồn rầu nhớ thương của người
chồng xa vợ, những giọt lệ âm thầm rơi trên đôi
má người cô phụ, và những đứa bé thèm thuồng có
được món quà nhỏ của ông già Noel trong câu
chuyện huyền thoại ngày xưa.
Sau lễ, trời dần khuya, cha xứ sửa soạn đi với
ông chủ tịch hàng xứ, vác bao bánh ḿ trên vai
đi đến những nhà giáo dân neo đơn, nghèo khổ đă
được chọn sẵn trước ngày lễ. Con ngơ đi vào xóm
vắng gập ghềnh tối om, hai cha con bước thấp
bước cao lần ṃ như hai thằng ăn trộm. Một bên
là bờ sông, một bên là nhà ở mập mờ trong bóng
đêm và cây cối, ánh điện câu vàng quạch c̣n hắt
lên trong những căn nhà nhỏ, mùi hoa ngọc lan
thoang thoảng trong gió và trên kia là bầu trời
đêm nhấp nháy những v́ sao muộn.
H́nh như lâu lắm rồi cha chưa bước chân ra khỏi
nhà xứ vào ban đêm, bởi vậy cũng v́ thế mà cha
chưa h́nh dung hết được cái buồn ngất ngây của
một đêm buồn trong xóm vắng. Bóng tối làm âm u
thêm những mảnh đời rách nát tả tơi, bóng tối
cũng che giùm những vá víu trên manh áo cũ. Nếu
làm cha xứ để chỉ biết loanh quanh khu nhà xứ,
để suốt ngày bảo ban mọi người tĩnh tâm, cầu
nguyện, đọc kinh ŕ rầm hết giờ này sang giờ
khác, cha vẫn thấy không đủ. Phải đem Đạo vào
Đời là thế, nhưng nhất định không thể để Chúa ở
trong những chiếc hang đá diêm dúa với đèn màu
chớp tắt, những cây Giáng Sinh trang hoàng ḷe
loẹt, hay trong cung Thánh đèn hoa rực rỡ. Nh́n
những căn nhà nằm im ngủ trong bóng đêm, ánh đèn
c̣n lay lắt bên trong cánh cửa, cha cho rằng giờ
này Chúa cũng đang ẩn ḿnh trong bóng tối với
những người cô đơn, cùng khổ.
Khi Cha vừa đến căn nhà cuối xóm, qua cánh cổng
gỗ, cha nh́n thấy bà cụ già hôm trước vẫn ngồi
nhai trầu bỏm bẻm ngoài hiên. Cha và ông chủ
tịch nhà xứ im lặng đứng ở phía bên ngoài khung
cửa sổ c̣n mở, giáp với đường đi ngoài bờ sông,
ṭ ṃ nh́n hai đứa bé đang lúi húi chúi đầu vào
một góc bàn học. Trên ấy dưới một cành cây khô
có từng cụm tuyết làm bằng bông g̣n, chiếc hang
đá bé cỏn con, trong hang là một tấm ảnh gia
đ́nh Chúa Hài Nhi bé tư teo. Hai đứa bé đang say
sưa hát, tiếng hát non nớt theo cung điệu “ Chúa
Sinh Ra Đời” do hai thằng bé đồng ca, tiếng hát
ngọng nghịu, đớt đát của thằng bé em làm cha cảm
động.Chỉ có một ngọn nến bập bùng soi vào hang
đá, hắt lên khuôn mặt thiên thần của hai thằng
bé đang say sưa ngắm nh́n hang đá bé nhỏ của
ḿnh, cha chưa hề nh́n thấy một bức tranh nào
đẹp hơn thế.....
Hai đứa bé vẫn say sưa với ngọn đèn cầy trước
chiếc hang đá bằng giấy bé tẻo teo trên bàn học,
bà nó chắc là vừa ăn trầu, vừa th́ thầm đọc kinh
trong bóng tối, c̣n mẹ nó th́ đang lỉnh kỉnh dọn
dẹp trong nhà bếp. Cha khẽ bảo ông chủ tịch rút
hai chiếc bánh ḿ, khe khẽ luồn qua song cửa sổ,
đặt nhè nhẹ lên góc bàn con trong bóng tối, rồi
vội vă bước đi...
Những ổ bánh ḿ t́nh nghĩa của ông cha xứ nghèo,
như một phép lạ đêm Giáng Sinh v́ nó đến đúng
nơi, đúng lúc. Cha h́nh dung ra nét mặt ngạc
nhiên của hai đứa bé khi nh́n thấy hai ổ bánh ḿ
thơm mùi bột nướng nằm trên chiếc bàn nhỏ, nhưng
điều thú vị hơn cả là ân sủng của Chúa đă tràn
ngập đem niềm hy vọng vào tâm hồn hai đứa bé thơ.
Biết đâu từ đây trong cuộc đời của hai đứa nhỏ,
mỗi mùa Giáng Sinh về, sẽ là câu chuyện kể về
hai ổ bánh ḿ tự trên Trời rơi xuống vào giữa
đêm Chúa sinh ra đời.
Để nhớ lại một mùa Giáng Sinh xưa
Nguyên Nhung