HĂY PHỤC SINH ĐỨC TIN
Lm. Vũ Xuân Hạnh


Chúng ta đang sống trong mùa Phục sinh. Hăy làm cho ơn phục sinh vươn mạnh, lớn lên và bung ra cả trong chiều sâu nội tâm của đức tin, trong các sinh hoạt đạo đức cá nhân hay tập thể, lẫn trong đời sống thường ngày của ḿnh. Đó là cách tốt nhất để diễn tả niềm tin phục sinh. Đó cũng là cách tốt nhất để cùng với Chúa Kitô, ta làm cho đời sống của ta, xung quanh ta tràn ngập niềm vui phục sinh. Tôi gọi đó là phục sinh đức tin.


NHỮNG LƯ DO CẦN ĐẾN ƠN PHỤC SINH ĐỨC TIN.


Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong nội tâm, để nội tâm lắng đọng một chiều sâu phục sinh đích thực: Biết bao nhiêu người, kể cả bạn và tôi đă mừng Chúa phục sinh, nhưng sự mừng ấy có khi chỉ là lễ hội, là sự háo hức về một đêm thánh mà trong đó phụng vụ có nhiều diễn tả lạ, khác mọi cử hành phụng vụ khác. Thiếu chiều sâu nội tâm của đức tin, v́ thế, mừng ơn phục sinh vĩ đại, nhưng ḷng ta, ơn phục sinh chẳng thấm, chẳng biến đổi ǵ. Ta chẳng phục sinh.


Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong các sinh hoạt đạo đức: Nhiều người sống nguội lạnh, bỏ cầu nguyện, bỏ các giờ kinh sớm chiều, bỏ luôn cả việc tham dự thánh lễ và lănh nhận bí tích. Nhiều người chạy theo dục vọng, tiền tài đă sống bê tha trong tội lỗi, thậm chí nhiều năm không đến nhà thờ, bỏ luôn cả việc xưng tội, rước lễ. Nhiều anh chị em tích cực hơn, nhưng chỉ giữ đạo theo mùa: Cứ đến lễ trọng, mùa Vọng, mùa Chay, mùa Giáng Sinh, mùa Phục Sinh th́ chạy đôn, chạy đáo t́m linh mục giả tội, nhưng rồi vẫn không mấy thay đổi. Nhiều người c̣n chịu khó giữ đạo, giữ các giờ kinh, tuy đấy đă là điều tốt, nhưng cần phải tốt hơn trong sự chăm chú cầu nguyện, suy tư và chiêm ngắm lời kinh mà ḿnh đọc, chứ đừng chỉ giữ giờ kinh, giờ cầu nguyện, cả đến việc dự lễ mỗi ngày như một thói quen. V́ thế, họ cần phải phục sinh đức tin của chính ḿnh.


Phục sinh đức tin là làm cho ơn phục sinh của Chúa Kitô trở nên sống động trong đời thường. Từ trước tới nay, ta chưa bao giờ, hoặc có nhưng rất ít, rất thiếu sót sự gắn bó với Thiên Chúa trong từng công việc, trong các bổn phận, và mọi lao nhọc… V́ thế, khi phải lao tác, vất vả, lắm lúc gặp nhiều trở ngại, nhiều thất bại và không biết bao nhiêu cay đắng khác…, ta chỉ thấy mệt mỏi, chỉ thấy đời ta đầy nặng nhọc, đầy oan khuất. Ta cần biết rằng, cuộc đời vẫn thế, bất cứ ai sống trong đời đều cũng giống như ta. Chỉ khác ở chỗ, họ đă tin tưởng vào Chúa Kitô. Họ kết hợp với thánh giá của Người trong từng ngày sống. Họ hiến dâng cho Người tất cả suy nghĩ, việc làm, niềm tin, hy vọng, sự sống, mọi hoàng cảnh, mọi tương quan… Nhờ đó, họ chấp nhận cuộc sống dễ dàng hơn. Họ đủ nghị lực mà gánh vác chính cuộc đời của họ. Ta cần phải phục sinh đức tin như họ để ta cũng được ơn b́nh an của Đấng Phục Sinh.


Ngược với những người phải ngày đêm vất vả là những người sống xa hoa. Nhất là trong thời hiện tại, người ta có quá nhiều phương tiện hưởng thụ, đến nỗi lao thân vào lối sống duy vật và nô lệ cho lối sống ấy. Đây là đối tượng khẩn thiết nhất cần đến ơn phục sinh đức tin. V́ chỉ có thể sống lại trong đức tin, họ mới có thể thuộc về thế giới của sự sống tự do, sự sống mới, khơi nguồn từ nguồn Phục Sinh là chính Chúa Kitô. Bởi chỉ có ai bước đi trong ơn phục sinh của Đấng Thiên Chúa làm người, người ta mới thực sự sống tự do, không nô lệ.


Với tất cả những lư do cụ thể bên trên, ta thấy phục sinh đức tin là việc làm khẩn cấp. Vậy để phục sinh đức tin, ta cần phải làm ǵ? Tôi muốn đưa ra vài suy nghĩ của riêng cá nhân tôi, chỉ xin là những gợi ư khả dĩ giúp ta bước vào hành tŕnh phục sinh chính đức tin của ḿnh.


GẮN BÓ CÁ VỊ VỚI CHÚA KITÔ.


Chấp nhận tin không có nghĩa chỉ đơn thuần là chấp nhận một giáo lư, giáo điều, một mớ luật lệ, hay những nghi thức nào đó là đủ. Ngay cả khi ta chấp nhận Hội Thánh và đi theo đường lối của HộI Thánh, th́ đó cũng chưa phải là điểm mấu chốt của đức tin. Tin trước hết là hiệp thông với Chúa Kitô, là gắn bó cá nhân cách mật thiết với Chúa Kitô. Bởi vậy, những ǵ chúng ta đă từng sống, đă từng hành động cho cái gọi là con người của tôn giáo Kitô giáo, nhưng chưa có chiều sâu bằng một cảm nghiệm nội tâm về t́nh yêu Chúa Kitô, mà chỉ là giữ và buộc ḿnh phải chấp nhận luật lệ, chấp nhận giáo lư, th́ giờ đây, ta hăy chỉnh đốn lại, hăy làm cho tất cả những ǵ ta phải giữ từ trước tới nay nằm trong tương quan t́nh yêu Chúa Kitô. Tôi tạm gọi việc chỉnh đốn lại cách sống, cách thực hành đức tin là phục sinh đức tin.


Như vậy phục sinh đức tin có nghĩa là hăy nh́n vào Chúa Kitô trước đă. Từ nay tôi giữ đạo, tôi chấp nhận lề luật, tôi thực hiệc các hành vi đạo đức, tôi sống tốt trong tương quan với mọi người… không chỉ v́ luật của Chúa, của Hội Thánh dạy như thế, mà v́ t́nh yêu của Chúa Kitô dành cho tôi, và của tôi đáp trả t́nh yêu ấy. V́ t́nh yêu của Chúa Kitô và v́ yêu mến Người, tôi thực hiện nghĩa vụ tôn thờ Thiên Chúa, tôi sống lẽ sống mà đạo dạy tôi, tôi quan tâm đến nguời xung quanh… V́ Chúa Kitô, tôi chấp nhận lề luật của Thiên chúa, và chấp nhận đường lối Hội Thánh hằng chỉ dạy tôi.


Chỉ khi nào sống trong tương quan t́nh yêu với Chúa Kitô, việc giữ đạo của ta mới nhẹ nhàng. Cũng giống hai người đàn ông cùng cuốc một thửa đất, nhưng một người là tù b́nh bị ép buộc phải lao động, c̣n người kia là người cha trong gia đ́nh. Người cha trong gia đ́nh v́ thương vợ, thương con, ông miệt mài làm việc, dù mệt nhọc nhưng ông cảm thấy vui, cảm thấy ḷng thanh thản và an ủi v́ nhờ bàn tay lao động của ông, gia đ́nh ông có thể sinh sống. Ông luôn sống trong hy vọng về một kết quả tốt sẽ đến cho tương lai của gia đ́nh ông. Càng hy vọng, ông càng vui. Người đàng ông là tù binh chắc chắn sẽ không bao giờ có được cảm nghiệm về niềm vui mà người cha trong gia đ́nh có được. Bởi việc ông làm không phải là t́nh yêu, không phát xuất từ động cơ của ḷng yêu thương mà chỉ là ép buộc, chỉ là h́nh phạt, là đền tội, hoàn toàn không có tự do trong lao động của ông. Cách nào đó, giữ đạo cũng gần giống như chuyện hai người đàn ông cuốc đất. Nếu tôi yêu mến Chúa, việc thực hành đạo của tôi là niềm hạnh phúc, là nhu cầu cần đáp ứng của t́nh yêu, do t́nh yêu, phát xuất từ t́nh yêu đối với Thiên Chúa của tôi. Nếu không có ḷng yêu mến Chúa, đức tin chỉ là một gánh nặng vô cùng.


Ta cần phục sinh đức tin của ḿnh, để đức tin của ta có một tương quan cá vị với t́nh yêu của Chúa. Chỉ có đức tin trong tương quan t́nh yêu, việc giữ đạo của ta mới là việc làm tự do, mang lại hạnh phúc, thấm đẫm và ngày càng đi vào chiều sâu nội tâm.


Nếu ta phục sinh đức tin của ḿnh trong tương quan t́nh yêu với Chúa Kitô, cuộc đời ta sẽ được nâng đỡ, được ủi an. Có đức tin trong tương quan cá vị với Chúa Kitô, ta sẽ cảm nhận một điều lớn lao: gánh nặng của sự sống mà ta phải mang gánh trong đời có Chúa cùng sớt chia với ta…


THOÁT LY NHỮNG NHU CẦU GIẢ TẠO.


Một trong những nguy cơ giết chết đức tin của người tín hữu chính là ḷng ham mê ngẫu tượng của thời đại.
Họ trang bị cho ḿnh mọi thứ vật chất, mọi tiện nghi, mọi phương thế thụ hưởng, và coi đó là những thứ cần thiết như đích điểm của đời người, đến nỗi cuốn ḿnh chạy theo nó, quay quắt với nó như cơn băo xoáy không chừa lại một chỗ nào cho sự sống tinh thần có thể ngoi ngóp. Đúng hơn, đấy chính là trận băo của những nhu cầu giả tạo, nhu cầu trước mắt, cuốn phăng ḷng người theo nó. Bởi vậy mà không ít người đau khổ khi ḿnh thua anh kém chị dù chỉ một chiếc áo, một đôi dép. Họ tôn thờ vật chất đến độ như chỉ có nó mới là vẻ đẹp của đời ḿnh vậy. Chính v́ thế, ngày càng có nhiều người tôn thờ chủ nghĩa thời thượng, chủ nghĩa “mode”. Sự tôn thờ này đă biến họ thành nô lệ cho vật chất. Họ phải liên tục đổi di động, đổi xe gắn máy, đổi đồng hồ, đổi những thứ trang xức khác…, làm sao cho những ǵ họ có phải mới liên tục, phải “mode” liên tục. Họ tôn thờ vật chất một cách đam mê và cuồng tín. Tôi gọi đó chính là sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại.


Điều mỉa mai đau đớn là, dù ngụp lặn trong thế giới vật chất, vượt trên cả sự t́m ṭi vật chất: con ngưới trầm ḿnh với vật chất như thể nên một với nó, th́ lại có một thực tế khác, dù âm thầm, vẫn không kém mạnh mẽ lên án thái độ nô lệ ngẫu tượng thời đại của con người. Thực tế đó chính là tiếng nói của lương tâm, là đời sống tinh thần, là thế giới thiêng liêng của tâm hồn. Cố t́nh vượt qua giới hạn của tiếng nói nội tâm ḿnh như thế, con người trở nên chao đảo, bấp bênh, thiếu b́nh an, và đói khát chân lư. T́nh trạng này làm cho con người sống hết sức ngột ngạt.


Bởi con người đâu chỉ là vật chất, nhưng trước hết là tinh thần. Đời sống tinh thần mới là sức mạnh làm nên giá trị của đời người. V́ thiếu niềm tin, v́ lạc mất tinh thần, sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại cũng sẽ đẩy chủ nghĩa cá nhân lên ngôi. Bởi càng tiện nghi bao nhiêu, con người càng dễ sống một ḿnh bấy nhiêu.
Nhưng các tiện nghi vật chất không bao giờ là đối tượng chia sẻ sự sống, suy nghĩ, t́nh cảm…, điều mà từ rất xa xưa, Ađam đă cảm nghiệm, v́ ông không thể “t́m được một trợ tá tương xứng” (St 2, 20). Không thể chấp nhận một xă hội chỉ là cá nhân, Ađam thao thức t́m kiếm sự chia sớt tương xứng, và Chúa đă ban cho ông như ḷng ông mong đợi. Nhưng oái oăm và nghịch lư quá đỗi! Trong khi Tổ Tông của ḿnh cố thoát ra khỏi chủ nghĩa cá nhân, th́ loài người hôm nay, dẫu quá kinh nghiệm về sự tai hại của chủ nghĩa này, lại cứ t́m về, cứ cố t́nh đuổi theo nó bằng mọi thứ tiện nghi, mọi thứ trang bị cho chính cá nhân, biến cá nhân thành trọng tâm cho sự quan tâm của chính ḿnh. Thật vô phúc cho ai sống gần những cá nhân chỉ tôn thờ chính ḿnh như thế!


Rồi từ chỗ chỉ biết sống cho riêng cá nhân ḿnh, sự tôn thờ ngẫu tượng của thời đại, càng biến con người thành động vật sống ích kỷ không thể tả. Nhưng như một hệ luận tất yếu: càng sống ích kỷ, con người càng cô độc. Nếu tiếng nói của nội tâm bị coi thường, cuộc sống của con người vốn đă ngột ngạt, sự cô độc sẽ làm cho con người ngày càng chơi vơi hụt hẩng, ngày càng cay đắng với chính ḿnh, với thế giới quanh ḿnh gấp nhiều lần hơn.


Không c̣n chỗ bám cho đức tin, con người tự giết chết ḿnh, giết chết cả những tương quan quanh ḿnh cách thảm hại. Bởi dù họ sống, nhưng lối sống ích kỷ ấy chỉ là lối sống thiếu sức sống. Nói nặng hơn, cá nhân ḿnh, một khi chỉ là đối tượng chăm sóc của bản thân, cá nhân ấy trở thành cá nhân què quặt, dị tật.


Như vậy, trong sự phục sinh đức tin của ḿnh, cùng với việc sống cá vị và liên kết mật thiết với Chúa Kitô, người tín hữu hăy ra khỏi chính ḿnh để sống đức tin với anh chị em. Họ cần để cho ḷng ḿnh thanh thoát, khỏi những vướng bận của trần gian, của những tiện nghi vật chất.


Người tín hữu cần học biết điều này: Đức tin là đức tin cá nhân của bản thân gắn bó với Thiên Chúa. Càng ch́m sâu bao nhiêu trong sự gắn bó với Chúa, sẽ càng đầy tràn ḷng yêu mến, và chắc chắn đức tin càng sáng chói bấy nhiêu. Nó đ̣i hỏi ư thức và sự dấn thân thực sự của cá nhân trong tương quan với Chúa Kitô, với Thiên Chúa. Nhưng đức tin chỉ có thể được nuôi dưỡng trong đời sống cộng đoàn. Bởi Thiên Chúa, nền tảng của đức tin chúng ta là một Thiên Chúa “không phải trong một ngôi đơn độc, nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể” (kinh Tiền Tụng lễ Chúa Ba Ngôi). Người không cứu chuộc từng người đơn độc, nhưng trao ban t́nh thương cho tất cả mọi người.


Cũng vậy, Chúa Kitô không phải là “Đấng ở cùng một người”. Nhưng Người là Đấng “Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Chúa Kitô không nhập thể và chết cho bất cứ cá nhân nào, nhưng cho cả thế giới qua lớp lớp thế hệ. Chính v́ thế, hôm nay Chúa Kitô đă phục sinh, chúng ta cũng hăy làm phục sinh đức tin của ḿnh trong tương quan với cộng đoàn Hội Thánh, với mọi người xung quanh. Chính trong cộng đoàn mà ta liên kết, gương tốt của người này sẽ ảnh hưởng trên người kia; gương xấu của người này sẽ là bài học lớn cho kinh nghiệm sống của người kia, để có thể lách ḿnh khỏi những sai sót mà anh em vấp phải.


Ngoài ra, đức tin c̣n phải được ǵn giữ, phát triển nhờ sự đào tạo liên tục trong suốt đời người bằng mọi nỗ lực cá nhân như: T́m về một lối sống đơn sơ, giản dị chứ không t́m một lối sống dễ dăi; không nhắm tiện nghi và hưởng thụ, nhất là không nhắm vào nó đến nỗi quay quắt với vật chất như chỉ có nó là sự bảo đảm cho đời ḿnh; hăy biết hy sinh, hăy chấp nhận giới hạn trong tất cả những đ̣i hỏi vật chất. Hăy là người biết khôn ngoan nói không với những nhu cầu giả tạo. Hăy bền chí theo đuổi cái đẹp của tinh thần, của t́nh yêu, của sự thầm lặng, của ơn gọi sống nghèo khó, chứ không khoác lên ḿnh những hào quang chỉ được xây dựng từ trần thế cho riêng cá nhân ḿnh.


CUỘC PHỤC SINH CỦA CHÚA KITÔ ĐỐI VỚI CHÚNG TA.


Cùng Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta bước vào hành tŕnh phục sinh đức tin của chính ḿnh. Trong hành tŕnh này, Chúa Kitô chính là điểm dừng quang trọng nhất mà đức tin của ta phải tiến đến. Và sự phục sinh của Người là lời mời gọi mạnh mẽ nhất cho hành tŕnh phục sinh đức tin của chính ta.


Phục sinh nào cũng đ̣i hỏi hy sinh lớn lao, rát buốt. Chính Chúa đă rơi vào những t́nh huống như thế. Để tiến vào sự phục sinh vĩnh cửu của Người, Người đă từng đối mặt với những đau đớn cả tâm hồn lẫn thể xác. Người đă phải rơi vào nỗi cô đơn, bế tắc, vùi giập. Cái chết của Chúa tưởng đă là tiếng nói sau cùng, là thất bại thảm khốc. Nhưng Chúa đă vượt qua. Người đă đứng lên. Người sống lại. Người chiến thắng.


Sự phục sinh của Chúa vừa là mẫu gương cho sự phục sinh đức tin của ta, vừa là nguồn mạch ban ơn phục sinh cho ta.
V́ thế, như Chúa Kitô, ta vượt qua chính con người nhiều đam mê của bản thân, vượt qua mọi rào cản khách quan lẫn chủ quan để được phục sinh đức tin từng ngày trong nội tâm, trong mọi sinh hoạt đạo đức, lẫn trong đời thường của ta.


Cùng với những nỗ lực nh́n về Chúa Kitô để phục sinh đức tin, ta vững một niềm xác tín rằng, Chúa Kitô ban ơn phục sinh từng ngày cho ta. Bởi giữa mọi lư do gây ra t́nh trạng chết của đức tin do thiếu chiều sâu nội tâm, do thiếu ư thức trong việc sống đạo, thiếu ư thức về ư nghĩa đạo đức của đời thường, thậm chí do cám dỗ chạy theo lối sống xa hoa, hưởng thụ và thực nghiệm…, ta vẫn trung thành mong đợi ơn phục sinh, và tin tưởng vào sự phục sinh bừng lên nơi cuộc đời mỗi người, th́ chính ḷng mong đợi và sự tin tưởng ấy, đă cho thấy nguồn ơn phục sinh của Chúa đang thấm vào đời ta.


Mặt khác, dù cho c̣n đó bao nhiêu lư do cám dỗ ta đi xa đức tin, thậm chí tiêu diệt đức tin, và dù cho ḷng ta nhiều khi c̣n hời hợt, c̣n thiếu chiều sâu nội tâm, thiếu ư thức, ta vẫn mong ước được phục sinh đức tin của ḿnh. Niềm mong ước này không thể có được, nếu không có ơn phục sinh của Chúa khơi nguồn và ban ơn.


Từ nay, bước theo Chúa Kitô, ta ngước nh́n Người để nếu Người đă phục sinh, ta cùng phục sinh đức tin của ḿnh trong từng hoạt động, từng ngày sống của ta. Ta cũng sẽ gắn bó đời ḿnh với Chúa, can đảm thoát ly mọi nhu cầu giả tạo, để được ch́m đắm trong nguồn ơn phục sinh của Chúa. Có như thế, trong cuộc phục sinh của Chúa Kitô, có những cuộc phục sinh trong đức tin của mỗi người. Và cuộc phục sinh của mỗi người trong tương quan với ơn phục sinh của Chúa Kitô, có sự phục sinh của nhiều người, của cả Hội Thánh●