THÁNH GIUSE, MẪU GƯƠNG SỐNG LỜI CHÚA

SUY NIỆM LỜI CHÚA

1. ... Sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giuse, là con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, v́ người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, v́ chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. ... Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. (Mt 1,20-21.24)

Suy niệm : Lời Chúa, hay đúng hơn, thánh ư Chúa, được sứ thần truyền đạt đến cho thánh Giuse, vừa xoá tan mọi nghi ngờ đang dằn vặt ngài khi ngài thấy vị hôn thê mà ngài biết là rất tinh tuyền trong trắng của ngài bổng dưng mang thai, lại vừa mạc khải cho ngài về lai lịch và sứ mạng của thai nhi đang được cưu mang : đó là Đấng Thánh v́ được thụ thai do quyền năng của Thiên Chúa ; đó cũng là Đấng sẽ giải phóng dân tộc của ngài khỏi ách đô hộ của ngoại bang – có lẽ thánh Giuse đă hiểu sứ điệp của thiên thần như vậy – v́, theo năo trạng của mọi người dân Do Thái thời bấy giờ, th́ chính v́ phản nghịch với Thiên Chúa – nghĩa là v́ đă phạm tội – mà họ phải mất nước, phải sống dưới sự thống trị của kẻ xâm lược. Nhưng điều đáng lưu ư là thái độ vâng phục của thánh Giuse : một khi hiểu được đâu là thánh ư của Thiên Chúa, ngài đă mau mắn thi hành, không do dự tính toán, chỉ biết khiêm nhường tin tưởng phó thác.

2.       Ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê, lên thành Bêlem, miền Giuđê, là thành của vua Đavít... khai tên cùng với người đă đính hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, th́ bà Maria đă đến ngày măn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu ḷng, lấy tă bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, v́ hai ông bà không t́m được chỗ trong nhà trọ. (Lc 2,4-7)

Suy niệm : Tuy ư thức t́nh cảnh nghèo khó của gia đ́nh ḿnh, nhưng chắc chắn thánh Giuse khó mà hiểu được tại sao Đấng Giải Phóng do vợ ḿnh cưu mang lại có thể sinh ra trong cảnh cơ hàn cùng cực như thế. Khi chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu rét run nằm trong máng cỏ, nơi chuồng súc vật hôi hám, làm sao tâm hồn của người cha Giuse, dầu chỉ là cha nuôi, lại không thổn thức đớn đau ? Hơn thế nữa, ngài c̣n bị thử thách trong niềm tin về thân thế và sứ mạng của Hài Nhi. Nhưng có lẽ cũng như Đức Maria, thánh Giuse đă ghi lại mọi điều xảy ra và suy niệm trong ḷng.

3.       Sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng : “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, v́ vua Hêrôđê sắp t́m giết Hài Nhi !” Ông Giuse chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. (Mt 2,13-14)

Suy niệm : Sự thử thách về ḷng tin mà Chúa gửi đến cho Giuse trong biến cố Giáng sinh có lẽ chưa thấm vào đâu so với việc phải chạy trốn cuộc lùng bắt của vua Hêrôđê : có thật Hài nhi Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu thế không ? Vậy cớ sao Người phải chạy trốn trước một thế lực phàm trần như một kẻ phản nghịch bị chính quyền truy nă ? Chắc chắn câu hỏi đó nhiều lần hiện lên trong đầu óc của Giuse dầu ngài cố xua đuổi nó. Nhưng, sống bên cạnh người vợ thánh thiện, gương mẫu của ḷng tin và sự vâng phục, Giuse vẫn một mực tin vào Lời Chúa và nhanh chóng thi hành lời mộng báo của sứ thần.

4.       Sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Ai Cập, báo mộng cho ông rằng : “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel, v́ những kẻ t́m giết Hài Nhi đă chết rồi.” Ông liền chỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel.(Mt 2,19-21)

Suy niệm : Như một khí cụ ngoan ngoăn trong tay người sử dụng, thánh Giuse đă được Thiên Chúa chọn làm người bảo trợ Đấng Thiên Sai, và Ngài đă cùng bạn ḿnh là Đức Maria, thực hiện mọi quyết định của Thiên Chúa, dầu có phải trải qua biết bao thử thách gian nan, cả về vật chất lẫn tinh thần.

          Trong thinh lặng, chúng ta hăy cầu xin với Chúa Giêsu Thánh Thể mà chúng ta thờ kính, cho mỗi người tín hữu chúng ta biết học cùng Thánh Cả Giuse, bài học lắng nghe và thi hành Lời Chúa, trong tinh thần khiêm tốn, vâng phục, tin tưởng và phó thác. Xin cho các vị mục tử, những vị phụ trách cộng đoàn và những người cha trong gia đ́nh, biết luôn noi gương Thánh cả Giuse trong việc chăn dắt đoàn chiên, trong việc phục vụ cộng đoàn và trong việc quản lư gia đ́nh.