|
LỄ MẸ LÊN TRỜI Ngày 15 tháng 8 Đây là lễ xưa nhất trong các lễ trọng, kính Đức Mẹ Maria. Từ thế kỷ thứ VI ở Giêrusalem và Ai Cập đă cử hành lễ nầy vào ngày 15 tháng 8 hằng năm. Đến thế kỷ thứ VII lan rộng đến Hy Lạp và vào cuối thế kỷ nầy các nhà thờ ở Rôma đă bắt đầu cử hành. Từ thế kỷ thứ IX trở đi lễ nầy đă trở thành một trong những lễ trọng nhất của nghi lễ Byzantin. Ở Tây Phương người ta gọi thế kỷ XIII là thế kỷ của Đức Mẹ, bằng chứng là tất cả những nhà thờ chánh ṭa đều được dâng hiến cho Đức Mẹ. Ở Pháp ngảy 15 tháng 8 năm 1638 vua Louis XIII đă dâng chính ḿnh, gia đ́nh và đế quốc cho Đức Mẹ Maria, đồng thời ra lệnh cho các nơi phải tổ chức rước kiệu Đức Mẹ cách trọng thể mỗi năm vào ngày nầy để kỷ niệm. Vào ngày 1 tháng 9 năm 1950 Đức Giáo Hoàng Piô thứ XII đă nâng niềm tin truyền thống nầy lên thành tín điều, bởi v́ cho cho đến giờ nầy vẩn c̣n tự do: “Đức Maria vô nhiễm nguyên tội, Mẹ Thiên Chúa sau khi kết thúc cuộc sống ở trần gian, đă được rước về trời hưởng vinh phúc cả hồn và xác”. Như vậy Phụng vụ kính Đức Mẹ lên trời đă được cử hành từ thế kỷ thứ VI. Niềm tin nầy tuy đă có lâu đời nhưng không soi sáng ǵ nhiều cho đức tin. Chúng ta có thể suy nghỉ một cách lôgic thế nầy: chẳng lẽ thân xác đă tạo nên thân xác của Con Thiên Chúa phải bị hư nát sao? Đấng đă đón nhận Chúa Giêsu ở trần gian có lư nào lại không được đón tiếp ở trên trời ? Và nếu sự chết là hậu quả của tội, vậy Đức Mẹ là Đấng chẳng vướng bợn nhơ cũng phải chết sao? Đây là lư do tại sao Giáo Hội Đông Phương thích dùng cách nói Đức Mẹ yên nghỉ (dormition) hơn là từ lên trời (Assomption). Có những chứng cứ cho biết việc tôn kính nầy đă bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ II, bởi ngày nay vẫn có nhiều người bỏ công nghiên cứu những tường thật về việc Đức Mẹ sinh th́ ( Transitus). Năm 1972 các nhà khảo cổ đă công bố t́m được ngôi mộ đào thẳng vào vách núi Ôliu, có niên biểu thế kỷ thứ I. Trong ngôi mộ không xác. Tại đây có ghi mấy ḍng chữ: ” Đây là thung lũng Giôsaphát, từ đây lên thẳng đến các v́ sao. Nhờ Chúa Giêsu, Đức Mẹ được an táng tại đây. Từ nơi đây Người được cất lên, về Trời, không để lại dấu vết, đó là niềm hy vọng của những kẻ c̣n ở lại, là đường đi của họ, là ánh sáng và là mẹ của họ.” Bia được khắc bằng La ngữ. Ai khắc, và khắc khi nào? Có truyền thuyết rất xưa nói rằng Đức Mẹ sinh th́ ở Giêrusalem và được an táng gẩn vườn Giếtsêmani. Sử liệu cho biết từ thề kỷ thứ V vùng Giếtsêmani có ngôi nhà thờ dâng kính Đức Mẹ nằm bao trên ngôi mộ trống. Các sách Tân Ước không viết việc Đức Mẹ lên trời liền khi Người vừa mất. Các bài đọc trong Phụng Vụ cũng chỉ cho chúng ta những đề tài xa gần về vấn đề nầy. Bài đọc I trích từ sách Khải Huyền của thánh Gioan cho chúng ta h́nh ảnh biểu trưng về Giáo Hội bị bách hại, nhưng Chúa Giêsu đă bảo đảm sẻ thắng Satan. Thị kiến gần giống như đoạn văn của Sáng Thế Kư (Gn 3, 15), Thiên Chúa phán với con rắn: “Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người nữ, giữa ḍng gịng dơi ngươi và miêu duệ người nữ”. Giáo Hội ngụ chỉ Đức Maria là người nữ đau khổ sinh Đấng Messia khởi thắn kh 11, 19; 12,10 Trong thư thứ I gởi tín Hữu Corintô, thánh Phaolô nói đến việc Chúa Giêsu chiến thắng sự chết. Trong Người tất cả sẻ được sống lại theo thứ tự của ḿnh. Trong chiều hướng nầy Đức Maria sẻ chiếm chổ nhất trong hàng những kẻ được sống lại. Cor 15, 20-26 Phúc Âm thuật lại việc truyền tin. Đức Maria cất tiếng xướng Magnificat ngợi khen Thiên Chúa v́ những kỳ công Chúa đă làm cho Người. Lc 1, 39-56 Thánh Luca đặt việc thăm viếng của Đức Mẹ tiếp theo liền với việc truyền tin bởi hai câu chuyện có liên quan với nhau. Thiên Thần cho Đức Mẹ biết hồng ân Thiên Chúa đă ban cho người chi em họ như là bằng chứng: mang tiếng là son sẻ và nay đă già nhưng sắp được làm mẹ. Và thiên thần nói thêm bởi “v́ không có việc ǵ mà Thiên Chúa không làm được” đễ minh chứng cho cô thiếu nữ Nazarét đang sửng sốt bởi sứ điệp vừa được thông báo, có thể thực hiện được. Maria Vội vă. Maria vội vă. Người vội vă v́ hai lư do: trước tiên là để kiểm chứng những điều thiên thần vừa thông báo Cho Người, nhưng chắc chắn là có lư do khác cao trọng hơn. Đức Mẹ đầy niềm tin, Người tin những lời Thiên sứ truyền. Đúng hơn sự vội vàng đó là một hành vi bác ái: Là thế hệ trẻ Người đến giúp đở người chị em họ đă già, nay mang thai được sáu tháng. Và thật sự Đức Mẹ đă ở lại với bà thánh Ysave cho đến ngày thánh Gioan được sinh ra.” Maria ở lại với Bà Elisabeth độ ba tháng”. Thánh Luca viết như thế để kết thúc bài tường thuật. Maria đi lên “ một thành ở miền núi xứ Juđêa”. Người ta nghỉ đây có thể là thành nhỏ tên là Ain- Karim,cách Giêrusalem, cách Giêrusalem 7km về phía Tây. Từ Nazareth đến miền núi Juđêa nầy phải mất ba hoặc bốn ngày đàng. Người ta thường đi bộ và đi thành từng nhóm. Đức Mẹ cũng phải đi bằng cách nầy thôi. Sự hiện diện của Đức Mẹ, hiện diện của Thánh Thần. “Maria vào nhà Ông Giacaria và chào bà Êlisabeth”. Đức Mẹ nhỏ tuổi hơn nên chào trước. Và đây một sự kiện cần được lưu ư trong cả bài tường thuật. Đức Mẹ đến và Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Gioan Tiền Hô cùng một trật. Với Giacaria , cha của Gioan, thiên thần đă thông báo: “Người sẽ được đầy Thánh Thần từ trong dạ mẹ”. Chính lúc nghe tiếng Đức Mẹ th́ Thánh Thần ngự xuống trên người. Sự hiện diện của Đức Mẹ, của Chúa Thánh Thần hôm nay và ngày lễ hiện xuống là một. “ Con trẻ nhảy mừng”. Từ Hi Lạp có nghĩa mạnh hơn tiếng Pháp mà chúng ta dịch ra là nhảy ( nếu chẳng vậy th́ làm sao bà mẹ có thể nghiệm được dấu chỉ siêu nhiên qua hoạt động của thai nhi). Và đến lượt bà thánh Êlisabeth, dưới tác động của Thánh thần, bà đă chào Đức Mẹ bằng câu theo nghi lễ mà người ta chỉ dành cho những nhân vật quan trọng hay dành cho Thiên Chúa: “ Cô em có phúc hơn mọi người nữ”, đây là cách nói của người Sêmit để chỉ một sự tuyệt vời. Maria là người nữ nhất hạng. Vấn đề ở đây bị đảo ngược, nhân vật cao tuổi và vai vế, cảm thấy ḿnh phải tôn trọng cô gái trẻ đến thăm ḿnh: “ Mẹ Thiên Chúa”. Tiếng Thiên Chúa ở đây có nghĩa là Đấng Messia. Tiếng nầy trong Cựu Ước dành để chỉ Đức Giavê ( đây là tên cao trọng và thánh thiện người ta không dám nói), nhưng đôi khi trong các sấm của các tiên tri dùng để chỉ Đấng cứu Thế, nhất là nơi thánh vương Đavit. Chắc chắn ở đây phải hiểu như thế bởi v́ bà thánh Êlisabeth không thể nghi ngờ Thánh thần đang bao trùm lấy Người. Phúc cho kẻ tin. Đây là Phúc thứ nhất trong Tân Ước. Bà Êlisabeth ca ngợi Đức Mẹ tuyệt vời, bởi nhớ lại ông nhà ḿnh đă không tin khi được thông báo bà sẻ sinh con, nên ông phải câm. Chúng ta có thể liên tưởng đến mối Phúc sau cùng trong Phúc Âm được ghi lại sau ngày Chúa Phục Sinh: “ Phúc cho kẻ nào không thấy mà tin”. (Jn 20, 29) Cuộc diện kiến giữa hai bà mẹ tương lai cũng là cuộc gặp gở của hai con trẻ đang được mong đợi, thật đầy ư nghĩa: trước tiên đây là sự thể hiện lần đầu tiên niềm vui Cứu Thế, đó là niềm vui mà thánh Luca luôn nhắc đến: ơn cứu độ cho nhân loại.. Đây c̣n là buổi giao duyên giữa Cựu và Tân Ước. Buổi Thăm viếng nầy là điểm nối kết giữa hai thời đại, hoặc nói đúng hơn là điểm chấm hết của thời kỳ Cựu Ước. Êlisabeth đại diện cho Giao Ước Củ đă nghiêng ḿnh và nhường bước cho Giao Ước Mới. Magnificat Đức Maria giật ḿnh khi nhận thấy rằng Bà Êlisabeth đă biết rơ bí nhiệm của ḿnh rồi, đúng hơn là chị ḿnh đă được mạc khải. Thế là không c̣n lư do ǵ phải giấu kín trong tận thâm sâu tâm hồn nữa, Người cất tiếng hát bài ngợi khen Thiên Chúa. Đức Maria ngợi khen Thiên Chúa như thói quen của những người Do Thái đạo đức .Trước mọi biến cố, dầu là đơn sơ nhất người Do Thái vẫn thốt lên lời ngợi khen, lời ca ngợi nầy gọi là berakah. Một ngày sống của người Do Thái đạo đức được dệt bằng những lời ngợi ca như vậy.Tinh thần của người Do Thái luôn thực tế..Thiên Chúa của họ không trừu tượng, người nhân đức cầu nguyện với một Thiên Chúa tạo dựng, hành động để can thiệp; người ta ngợi khen Thiên Chúa qua mỗi câu chuyện, mỗi biến cố nhất định, qua vị thủ lănh bởi v́ họ có Giao Ước. Trong Cựu Ước chúng ta gặp thấy nhiều bài ca tự phát như vậy trong các thánh vịnh. Bài ca của Môisen sau khi vượt qua biển dơ là bài thứ nhất thuộc loại nầy. (Xh 15, 1-18), bài ca của Dêbôra sau khi chiến thăng quân Canaan ( Jg5, 1- 18) , trong sách Tôbia nhất là bài ca ngợi sau cùng ( 13, 1- 17) dặt biệt nhất là bài ngợi ca của bà Anna, mẹ của tiên tri Samuel, ngợi khen Thiên Chúa đă bất ngờ cho bà đứa con, nhưng bài ca ngợi bao hàm nhều ư nghĩa nhất là kinh Magnificat của đức Maria. Bài ca nầy đă được thánh Luca ghi lại dưới h́nh thức thánh ca của người có đạo, đúng teo Kinh Thánh và đầy những hồi ức về Cựu Ước. Trước tiên Đức Maria ngợi khen Chúa cho chính ḿnh v́ những ơn lành đă lănh nhận, sau đó qua chính ḿnh , người khám phá ra những người bé nhỏ, những kẻ khiêm nhường, những người nghèo và những kẻ yếu thế. Sau cùng nhân danh dân tộc. Người ngợi khen Chúa đă hoàn thành lời giao ước và Ngừoi cũng biết chính qua người mà chưong tŕnh dược thực hiện. Ngợi khen Thiên Chúa v́ chính ḿnh. “ Linh hồn tôi ngợi khen Chúa Thần trí tôi hớn hở vui mầng”. Bài ca tụng của bà Anna cũng được khởi đầu tương tự: “ Tâm hồn tôi ca tụng Đức Giavê…”. “Người đă nh́n xuống phận hèn tớ nữ Người”. Đây không phải là bản sao lại bài ngợi ca của bà Anna nhưng là một lời nguyện đầy sốt sắng dâng lên Chúa v́ đă nhận được ân huệ làm mẹ.: “ Ôi Thiên Chúa Ngài đă nh́n xuống phận hèn tớ nữ Ngài”. “ Đấng Toàn Năng đă làm cho tôi những điều trọng đại”. đây là một phóng tác cá nhân của thánh vịnh. 71: “ Đấng Toàn Năng đă làm cho tôi biết bao điều cao cả”. Và Đức Maria thêm vào lời nguyện “ Danh Người là thánh”, đây là câu kinh hoàn toàn Do Thái. Chúa Giêsu đă lấy lại lời nguyện nầy của người Do thái cho kinh Lạy Cha : “ Nguyện danh Cha cả sáng”. Ngợi khen v́ danh nghĩa của những kẻ khiêm nhường. Thông qua mầu nhiệm bao trùm số phận của ḿnh,Đức Maria ngợi khen Chúa qua muôn thế hệ biểu dương những kẻ kính sợ Người, đặt niềm tin vào người, những kẻ khiêm nhường, những người bé mọn, người nghèo c̣n những người kiêu căng, quyền thế và giàu có phải hổ thẹn. Lời ca tụng Đức Giavê của bà Anna cũng tương tự như thế: “ Chính Đức Giavê hạ xuống rồi lại nâng lên, Người đem kẻ yếu đuối ra khỏi cát bụi, Từ đống phân nhơ Người nâng kẻ khó nghèo Để cho họ được ngồi chung với các vương giả”. Chúng ta có thể trích dẩn ra đây nhiều thánh vinh, chưa kể các đoạn sách tiên tri ca ngợi những kẻ nghèo của Đức Giavê ( anavim) .Thiên Chúa luôn quan tâm tới hạng người nầy. Đức Maria phải chăng là một mẩu gương điển h́nh? Bậc thang giá trị được đăo ngược qua cái nh́n của Thiên Chúa hẳn nhiên là một h́nh ảnh đẹp. Ca tụng Chúa v́ dân Israel. Đức Maria kết thúc lời ca tụng bằng tâm t́nh biết ơn một Thiên Chúa đă không quên lời giao ước. Từ Abraham, dân Israel luôn chờ đợi và Thiên Chúa vẩn trung thành với lời hứa: “Người nhớ lại”, cách nói được lập đi lập lại nhiều lần trong Kinh Thánh: điều đó nhắc nhở rằng Thiên Chúa luôn can thiệp kịp thời ( Thiên Chúa nhớ đến Noe, Người cho chấm dứt cơn Hồng Thuỷ; Người nhớ lại giao ước thuở ban đầu với Abraham, Người cho dân Do Thái ra khỏi Ai Cập..).Bây giờ Maria hiểu được lời hứa ban Đấng Messia sắp được hoàn thành: “ Thiên Chúa nhớ lại t́nh thương của người”.
|