NỮ TU XUỐNG ĐƯỜNG

Hoàng Vinh Sơn

“Các Thầy hát tiếng La-tinh, các cô trinh nữ thưa kinh dịu dàng”.

 

Đă có một thời, khi gợi h́nh ảnh của nữ tu thường được người ta mường tượng như những phụ nữ thướt tha trong bộ áo ḍng đồng phục, khoanh tay xếp hàng đi rước kiệu, tay cầm chuỗi, miệng hát lời kinh du dương “như các thiên thần”. Nhưng một cuộc “đổi đời” - nếu được phép tạm dùng danh từ đó – đang diễn ra trong thế hệ mới.

Năm 2000, nhân mừng đại hội thượng đỉnh thế giới thiên niên kỷ mới, hàng trăm nữ tu thuộc nhiều nước đă xuống đường cùng vớI hàng ngàn phụ nữ ở Nữu - ước đ̣i Liên Hiệp quốc áp dụng Tuyên ngôn Quyền phụ nữ, và tranh đấu cho những ngườI bất hạnh trong các nước nghèo. Nữ tu xuống đường chống toàn cầu hóa! Chính những tu xuống đường, sau khi đi biểu t́nh về, cùng vào nhà thờ, sốt sắng hát kinh “ḥa b́nh” của Thánh Phan Xinh.

Những nữ tu này càng ngày càng cảm thấy ḿnh sống giữa những bất công vô cùng rùng rợn của một thế giới mà 20 phần trăm người giàu chiếm hữu 80 phần trăm tài nguyên của nhân loại, mà ba nhà tỷ phú có mức thu nhập bằng nhân dân 45 nước nghèo nhất hoàn cầu. Hơn thế, máu tham không đáy của thiểu số giàu, nắm trong tay những phương tiện kỹ thuật, kinh tế, đang dùng “toàn cầu hóa” như vũ khí để biến đa số những người đói nghèo thành nô lệ. Các nữ tu thấy rằng cầu nguyện mà không tham gia vào hành động là ôm một đức tin chết. Không c̣n thái độ bàng quan, an phận người ta gán cho nhà tu “chỉ biết tụng kinh, bố thí”. Người ta đă sai lầm khi họ nghĩ rằng các nữ tu “hiền như bụt” không cảm thấy thao thức, bức xúc, ưu sầu khi thấy anh chị em đồng loại là nạn nhân của bất công. NgườI ta đă sai lầm trầm trọng khi đẩy nữ tu ra khỏi các cơ sở xă hội. Ngày nay, trong rất nhiều nước, có thể hầu hết các cơ sở này không c̣n do các nữ tu quản lư, nhưng vớI Vatican II, cái nh́n của các chị bao quát hơn, cánh tay của các chị mở rộng hơn, và chiến lược đấu tranh của các chị vượt bức tường “nhà tu”.

Tháng 5 vừa qua (2002), đạI hội thế giới các Bề Trên Cả các Hội ḍng nam nữ họp tại Rôma đă lên tiếng yêu cầu các nước giàu tha nợ cho các nước nghèo, yêu cầu các chính phủ bảo vệ sinh thái địa cầu và bài trừ lạm dụng t́nh dục phụ nữ và trẻ em.

Cũng trong tinh thần ấy, đầu năm nay, hơn một vạn nữ tu Quebec đă kư bức thư chung yêu cầu chính phủ thông qua đạo luật xóa nghèo trong xă hội. Chính trong tinh thần ấy mà từ mồng 6 đến 10 tháng 6 năm 2002 tạI Cornwall, Ont…, hơn 300 bề trên các hội ḍng nam nữ Canada đă họp ĐạI Hội, cùng nhau quyết định tham gia góp phần cảI tiến xă hội. Các ngài đă nhất trí biểu quyết năm ưu tiên:

1.    tương trợ những người nghèo;

2.    tố cáo các bất công xă hội;

3.    bảo vệ môi trường;

4.    tranh đấu cho ḥa b́nh;

5.    tranh đấu chống áp bức phụ nữ và trẻ em.

 

Nói th́ dễ, nhưng làm th́ khó. V́ thế các nữ tu đang thực hiện lời Thánh Giacôbê chứng tỏ đức tin của ḿnh bằng việc làm. Có ḍng chuyên giúp giáo dục đă cho phép một số chị em đi văng gia giúp đỡ những người neo đơn, bệnh hoạn. Có những nữ tu đă vật lộn với cái nghèo trong các xóm ổ chuột, hay hầu hạ, chăm sóc những người bệnh SIDA/AIDS. Nhiều hội ḍng đă âm thầm chia sẻ của cải với người nghèo. Mặc dầu Canada là nước có một chính sách xă hội rất cấp tiến, hiện vẫn có hàng vạn người nghèo hàng ngày phải tới ăn cơm thí của các d́. Hàng ngàn bệnh nhân ǵa neo đơn được các d́ thăm nom an ủi. Các d́ đă mạnh dạn phê b́nh những bất công xă hội, những chính sách bất b́nh đẳng nam nữ.

Năm 2003, người ta có trưng cầu dân ư trong cả nước pháp, một dân mà số người dự lễ ngày chủ nhật không quá 20%, dân chúng đă nhất trí coi linh mục Pierre (Phêrô) là người thời danh nhất, nữ tu Emmanuelle đứng thứ nh́, sau mới đến tổng thống Chirac, đứng thứ ba & Linh mục Pierre tranh đấu cho người vô gia cư trên nữa thế kỷ, d́ Emmanuelle hơn ba mươi năm lặn lội giữa dân bụi đời, ổ chuột ở Kairo: cả hai trên 90 cái xuân xanh.

“Một biến cố đă khiến tôi suy nghĩ nhiều, một nữ tu tâm sự. Tôi theo dơi qua tivi đám quốc tang của Mẹ Têrêsa Calcutta. Ấn độ là một nước mà Kitô hữu là một thiểu số rất nhỏ, không tới một phần trăm. Thế mà hàng triệu người Hồi giáo, Ấn Độ giáo đă để tang và khóc một nữ tu công giáo. Người phụ nữ ấy không có địa vị như Hồng y, Giám mục, không làm những ǵ bề ngoài xem ra vĩ đại. Bà chỉ sống giữa người cùng cực, phong cùi, hy sinh cho người nghèo và qua việc làm, bà đă tranh đấu cho những người phong cùi, cho những người bị xă hội bỏ rơi. Người phụ nữ đó là một nữ tu dâng ḿnh cho Chúa như tôi… Qua dấn thân xă hội, bà đă làm chứng Chúa là T́nh Yêu”.

Một lần Mahatma Gandhi được mời nói chuyện với sinh viên đại học ở Thụy Sĩ. Họ hỏi ông về Kitô. Ông trả lời: “Đức Giêsu thật vĩ đại, nhưng kito hữu không sống như lời người dạy”. Nhận xét của ông cũng giúp nữ tu thời đại chúng ta suy nghĩ và dấn thân xă hội nhiều hơn, nhất là trong những nước nghèo như quê hương gấm vóc Việt Nam.