|
HILDEGARDE DE BINGEN
Năm 1178, một thanh niên phạm lỗi nặng, bị giáo quyền rút phép thông công. Trước khi chết, chàng ân hận, thống hối đi xưng tội, và được linh mục tha tội và tha vạ. Sau đó mấy ngày, chàng từ trần. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, chàng xin được chôn trong nghĩa địa tu viện Biển Đức ở Rupertsberg. Viện mẫu Hildegarde, Bề trên ḍng đồng ư; nhưng ṭa Giám mục giáo phận Mainz ra lệnh quật xác lên và chôn ngoài đồng, v́ chàng chưa được giải vạ công khai, nên theo giáo quyền, xác không được phép an táng trong nghĩa trang thánh của tu viện. Viện lư do là chàng đă ăn năn thống hối, đă được linh mục tha tội và giải vạ, Hildegarde xét rằng theo lương tâm không c̣n lư do cấm chôn trong đất thánh. Được lệnh Ṭa Giám mục, bà ra nghĩa trang, xóa hết mọi vết tích ngôi mộ mới lấp, khiến nhân viên Ṭa Giám mục ra lệnh “đóng cửa nhà thờ”, và không cho phép thực hiện các Bí Tích. Bà Hildegarde chống án. Năm ấy bà đă 80 tuổi. Hành vi vô tiền khoáng hậu của một bà Bề trên ḍng nữ có lẽ khiến nhiều người ngạc nhiên, nhất là một Bề trên thời trung cổ, kỷ luật rất khắc khe. Hơn nữa, giữa thế kỷ 12, thế kỷ mà phụ nữ, dù là nữ tu, phải vâng lời các Bể trên nam giới. Hildegarde năm ấy đă sống trên 70 năm trong nhà tu, và trên 60 năm khấn ḍng. Cũng như các phụ nữ thế kỷ 12, Bà chưa bao giờ được đến trường học như đàn ông, chưa bao giờ được ngồi trên ghế đại học. Bà tự học. Nhờ sáng trí, nhờ sự nâng đỡ của bề trên và của cha linh hướng, bà học chữ, đọc Kinh Thánh cũng như các sách thần học thời đó, bà sáng tác thánh ca cho các chị em hát ca tụng Chúa, bà diễn giảng Phúc Âm; chẳng những bà viết sách thần học dạy chị em, bà c̣n viết về mầu nhiệm vũ trụ, về những cây thuốc chữa bệnh và về khoa học tự nhiên. Hildegarde sinh năm 1098 giữa thời tao loạn, con út trong một đă có chín người con. Khi Hildegarde lên 8 tuổi, theo phong tục các gia đ́nh quư phái thời đó, cha mẹ cho vào “tu” theo chân một bà ẩn sĩ, tên là Jutta, người sáng lập một tu viện nữ trong nội vi đan viện các cha Biển Đức Disibodenberg, miền bắc nước Đức. Ngày gia nhập, ḍng thân phụ Hildegarde đọc bản tuyên ngôn: “Dâng hoa quả lên Đấng tạo hóa là điều chính đáng. V́ thế, nhân danh các vị thánh mà hài cốt được tôn kính trong nhà thờ này, trước mặt Viện phụ và các người chứng giám, chúng tôi dâng con gái chúng tôi tên là Hildegarde, hai tay được phủ trong khăn thánh, đang dâng lễ vật và đệ đơn xin đi tu, để nó sống theo luật ḍng. Từ phút này, con gái tôi phải hoàn toàn phục tùng lề luật”. Hildegarde “đi tu” theo qui luật “cha mẹ đặt đâu th́ ngồi đấy” giống như phong tục “tam ṭng” của người Việt. Nhưng sống đời dâng hiến. Năm 15 tuổi, Hildegarde được khấn ḍng. Trong 35 năm ở Disibodenberg, chị âm thầm tu đức và học hành dưới sự hướng dẫn của bà Jutta. Năm lên 38 tuổi, Hildegarde được bầu làm Bề trên, thế vị bà Jutta vừa từ trần. Mặc dầu tu chiêm niệm, Hildegarde đă thấy những cảnh đói khát cùng cực của dân nghèo ngày ngày vật lộn với nắng mưa để có miếng ăn. Họ phải nộp tô cho các công hầu bá tước là chủ ruộng, phải nộp thuế, phải dâng kính hoa quả đầu mùa, cả gái tơ cho các ông chúa. Bà đă thấy nhưng bất công xă hội, kể cả những tệ nạm ngay trong Giáo Hội. Bà không muốn làm cách mạng, nhưng lương tâm bà thôi thúc bà đấu tranh cho Phúc Âm mà bà suy niệm hằng ngày, cho lẽ phải và cho vinh danh Chúa. Trong vụ “bốc mả” chàng thanh niên, bà cực lực phản đối nhà cầm quyền muốn áp dụng luật mà quên t́nh thương. Hơn thế, các vị đă áp dụng kỷ luật một cách máy móc khi cấm tu viện không được cử hành phụng vụ, kinh nguyện. Theo bà, các thánh vịnh, thánh ca được dùng trong phụng vụ là để ghi lại một địa đàng mà nhân loại đă mất v́ tội lệ. Ai cấm một cộng đoàn hát ca mừng Chúa sẽ phải chịu trách nhiệm kinh khủng v́ thánh ca được Thánh Thần linh ứng như âm hưởng của thiên đường. “Những ai cấm Giáo Hội đàn ca, là những người phạm tội ăn cướp lời chúc tụng Thiên Chúa dưới trần gian, những người đó sẽ không được tham dự ca đoàn của các thiên thần trên trời, nếu họ không chân thành thống hối và đền tội” bà viết cho các đấng. Nhờ kiên nhẫn và can đảm, Hildegarde đă toại nguyện. Ṭa Giám mục không bắt bốc xác chàng thanh niên ra khỏi đất thánh, và các chị em lại được ca tụng Chúa trong tiếng hát lời kinh. Hildegarde, người nữ tu thời danh của thế kỷ 12, đă được tôi luyện trong thử thách khi bà tranh đấu lập đan viện Rubertsberg. Năm 1150, lúc bà 52 tuổi, nhà ḍng nữ Disibodenberg đă quá tải. Bà muốn lập một đan viện mới. Một phần v́ cần chỗ cho các nữ tu càng ngày càng đông. Một phần, v́ bà muốn thoát ly cảnh tu viện chung chạ trong đó có khu vực dành cho nam tu, khu vực dành cho nữa tu, một bối cảnh đă từng tạo nên những gương mù, gương xấu. Hơn nữa, nếu tách ra khỏi Disibodenberg, các nữ sẽ được độc lập hơn, không c̣n phải phục tùng Viện Phụ nam giới. Đây là một cuộc tranh đấu cam go. Ư kiến dời nữ đan viện sang một khu đất mới, một khu đất hoang vu khô cằn nhưng gần hai con sông, là dự tính của Hildegarde. Nhưng phải được Viện Phụ và các Thầy chấp thuận, và các chị em đồng ư. Viện Phụ và các Thầy không chấp thuận v́ cho đó là ư đồ của phụ nữ muốn thoát quyền đàn ông. Một số chị em e ngại v́ phải rời một cảnh sống thanh b́nh trên một mảnh đất trù phú, có vườn nho xanh rờn, để phiêu lưu trên mảnh đất hoang dại. Hildegarde buồn quá phát bệnh. Sau đó, bà xin gặp Tổng Giám mục. Ngài cũng do dự v́ không muốn trao công việc phá rẫy, xây nhà cho một số nữ tu chân yếu tay mềm trong một khu vực hẻo lánh. Nhưng nhờ khéo thuyết phục, bà được Đức Giám mục và các kinh sĩ chấp nhận nghiên cứu vấn đề. Nhưng các Cha chưa chấp thuận. Việc tách rời là việc hệ trọng. Các ngài họp công nghị. Cuộc bàn căi kéo dài. V́ ngoài việc ḍng nữ ly khai, c̣n vấn đề sở hữu và phân chia tài sản. Nhiều nam tu không muốn di sản tu viện bị cắt một phần. Khi động đến tài sản, tiền bạc, th́ con người, dù là tu sĩ, không mấy ai muốn mất. Cửa pḥng họp bổng nhiên mở. Một nữ tu tiến vào, mặt bừng bừng, miệng nói lớn: “Các cha các thầy là những phường trôm cướp, giống như con cái Belial, các cha khinh thường công lư. Các cha muốn khăng khăng cưỡng lại ư Chúa và chống lại chúng tôi, các cha sẽ bị phạt như quân Amalec hay vua Antiochus đă cướp đền thờ Thiê Chúa”. Thấy Hildegarde nổi nóng, Viện Phụ im lặng. Nhiều thầy lớn tiếng sừng sổ mắng lại. Nhưng bà một mực yêu cầu các Thầy chia một phần tài sản đó do giáo dân dâng cúng cho cả ḍng nam và dong nữ. Viện Phụ và các Thầy phải thụ lư và hứa tŕnh lên Đức Tổng Giám mục. Sau cơn “tam bành”, Hildegarde trở về pḥng, ném ḿnh trên giường, nằm yên như chết. Bà chờ tin Đức Giám mục đồng ư cho phép chuyển ḍng, bà vùng dậy ra khỏi giường và cùng 20 chị em t́nh nguyện cùng nhau khăn gói lên đường. Một số chị em khác, v́ ngại mệt nhọc đă xin gia nhập nhà ḍng khác. Chủ đất vui ḷng nhường khu đồi Rupertsberg cho các chị. Nhưng phải phát quang và xây nhà. Tiền có, nhưng các thầy lần lựa chưa trao. Trong một bức thư gửi Viện Phụ và các thầy, Hildegarde viết: “Tiền giáo dân dâng cúng không thuộc về cha cũng không thuộc về các thầy. Trái lại, tiền đó thuộc về nhà Chúa”. Đồng thời, bà vận động giáo dân để họ hỗ trợ các chị em có phương tiện xây cất. Sau hai năm trời vất vả, ngày 1 tháng 5 năm 1152 chị em được vui vẻ hát lễ tạ ơn với Đức Tổng Giám mục trong một ngôi nhà nguyện nhỏ bé. Viện mẫu Hildegarde tạo cho đan viện một cảnh sống như bà mong ước: pḥng ngủ đơn sơn nhưng sạch sẽ, nước sạch, nhà vệ sinh, nơi làm việc thông thoáng, nơi thờ phượng trang nghiêm. Các chị em kinh sách, học hành và làm việc theo đúng luật thánh Biển Đức. Đọc đến đây, có người có thể nghĩ rằng Hildegarde là một nữ tu kêu ngạo, ngang ngạch, không tôn trọng kỷ luật. Trái lại bà là một phụ nữ rất khiêm nhu, bản tính nhút nhát, tự xưng ḿnh là “ḥn đất, là tôi tá mọi người”. Bà được ĐTC Eugeniô thứ III coi là một ngôn sứ của thời đại v́ sau khi đọc những bài Hildegarde viết, Ngài coi bà là nữ tu có đức tin rất mạnh, khuyến khích bà sáng tác và quảng bá những điều bà viết cho mọi người đọc. V́ Hildegarde được Chúa soi sáng về một thần học t́nh yêu, và nhiều tài năng đặc biệt. Nhân dịp kỷ niệm 800 năm ngày Hildegarde từ trần, ĐTC Gioan Phaolô II ca tụng Hildegarde như: “một phụ nữ mô phạm, một vô địch bảo vệ Chân lư và Ḥa b́nh, một phụ nữ dũng cảm, ngôn sứ của nước Đức. Hơn thế, bà là nhà giáo tràn đầy ơn Chúa, đă cho thế gian chỉ có thể hiểu và quản lư một cách hoàn bị khi người ta coi Công tŕnh ấy đă được Cha trên trời rất nhân ái và đầy t́nh thương tạo dựng”. Hoàng Vinh Sơn |