DIVES IN MISERICORDIA

 

 

 

Thông Điệp Thiên Chúa Giàu Ḷng Thương Xót

của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II

30/11/1980

Cùng các anh em khả kính

Cùng các con yêu dấu

Xin gởi lời chào và chúc lành Toà Thánh.

 

Giới thiệu tổng quát về Thông Điệp Dives in Misericordia

 

Thông Điệp “Dives in Misericordia” (Giàu ḷng thương xót) được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết vào năm thứ ba của triều Giáo Hoàng của Ngài, được ban hành tại Roma ngày 30 tháng 11 năm 1980 và xuất bản ngày 2 tháng 12 năm 1980.

Trong Thông Điệp nầy, Đức Thánh Cha nói về đề tài “Ḷng thương xót của Chúa” với hy vọng rằng tài liệu nầy có thể trở thành “một lời kêu gọi chân thành của Giáo Hội về ḷng thương xót mà nhân loại và thế giới hiện đại rất cần”. Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh ḷng thương xót của Chúa là một ưu phẩm kỳ diệu, mạnh mẽ hơn tất cả mọi sự dữ có mặt trong thế gian.

Như thế, Ngài nhắc lại ḷng thương xót không làm con người bị bẽ mặt, nhưng trái lại, ban tặng cho con người một giá trị mới. Trong Thông Điệp nầy, ĐGH Gioan Phaolô II cát nghĩa t́nh yêu và ḷng thương xót của TC đối với chúng ta qua việc giải nghĩa dụ ngôn người con hoang đàng.

Thông Điệp được chia làm tám chương : 1) Ai thấy Ta là thấy Cha ; 2) Sứ điệp cứu thế ; 3) Ḷng thương xót trong Cựu ước ; 4) Dụ ngôn người con hoang đàng ; 5) Mầu nhiệm phục sinh ; 6) Ḷng thương xót…từ đời nọ đến đời kia” ; 7) Ḷng thương xót của TC trong sứ mệnh của Giáo Hội ; 8) Lời cầu nguyện của Giáo Hội ngày nay.

Chương I. “Ai thấy Ta là thấy Cha” (Jn 14, 9)

Qua mạc khải của Đức Kitô, chúng ta biết TC có mối tương quan t́nh yêu đặc biệt đối với con người và chính Đức Kitô là hiện thân ḷng thương xót của TC : Đức Kitô, theo một nghĩa nào đó, là ḷng thương xót.

Mạc khải về ḷng thương xót của Chúa Cha qua Đức Kitô cho phép chúng ta thấy Chúa Cha gần với con người cách đặc biệt, nhất là khi con người đau khổ, khi con người sống dưới sự đe doạ về sự hiện hữu và nhân phẩm của ḿnh. Mầu nhiệm ḷng thương xót của TC là lời mời gọi duy nhất đối với GH : mạc khải và đức tin dạy chúng ta không những suy gẫm về mầu nhiệm của TC là Cha ḷng thương xót, nhưng c̣n trông cậy vào ḷng thương xót nầy nhân danh Đức Kitô và trong sự hiệp nhất với Ngài.

Chương II. Sứ điệp cứu thế

Đức Kitô đă làm Chúa Cha hiện diện giữa nhân loại qua việc làm và lời nói của ḿnh. Trên thực tế, trong thế giới mà con người đang sống, với thái độ sống của ḿnh, Chúa Giêsu Kitô đă cho thấy sự hiện diện của t́nh yêu. T́nh yêu đó được ban cho con người và nó bao trùm tất cả nhân loại.

Thể cách và lănh vực mà trong đó t́nh yêu được tỏ lộ chính ḿnh trong ngôn ngữ thánh kinh được gọi là ḷng thương xót. Đức Kitô, Đấng đă làm t́nh yêu nhập thế và nổi bậc hơn ngay cả lúc mà t́nh yêu nầy tiếp xúc với sự đau khổ, với những kẻ bất hạnh và tội nhân, cũng đă mạc khải Chúa Cha và ḷng thương xót của Chúa Cha cách trọn vẹn hơn.

Phải lưu ư là Chúa Giêsu Kitô khi mạc khải t́nh yêu ḷng thương xót của TC đă đồng thời đ̣i hỏi con người phải để cho t́nh yêu và ḷng thương xót của TC hướng dẫn trong cuộc sống của ḿnh.

Chương III. Ḷng thương xót trong Cựu ước

Chúa Kitô được gởi đến cho những con người thuộc về Dân của Cựu ước. Dân tộc mà trải qua các bề dầy lịch sử của ḿnh không ngừng đặt ḿnh vào ḷng thương xót của TC trong những lúc bị phạt bởi những bất hạnh rủi ro và khi được thức tỉnh về những tội lỗi của ḿnh.

Cựu ước dạy rằng cho dù sự công b́nh là một nhân đức thực sự nơi con người và nơi TC nó là một sự hoàn hảo siêu việt, tuy nhiên t́nh yêu th́ cao trọng hơn công b́nh : cao trọng theo nghĩa nó là hàng đầu và nền tảng sánh với sự công b́nh. Tính ưu việt và cơ bản của t́nh yêu so với công b́nh được mạc khải cách rơ ràng qua ḷng thương xót. Mối tương quan giữa công b́nh và ḷng thương xót nơi TC phát xuất từ trong chính mầu nhiệm sáng tạo : TC với tư cách là Đấng Tạo Hoá đă có mối tương giao với loài thụ tạo cách đặc biệt bằng t́nh yêu.

Điểm tương quan với mầu nhiệm sáng tạo là mầu nhiệm sự tuyển chọn, trong một phương thế đặc biệt, mầu nhiệm sự tuyển chọn nầy h́nh thành lịch sử dân tộc Israel. Tuy nhiên, qua việc dân tộc nầy trải qua hành tŕnh lịch sử của Giao ước cũ và mới, mầu nhiệm sự tuyển chọn đó cũng ám chỉ đến mọi người, ám chỉ đến toàn thể đại gia đ́nh nhân loại. Qua miệng tiên tri Isaia 54, 10, Thiên Chúa nói : “Núi non có thể đổi dời…c̣n t́nh thương của Ta đối với ngươi sẽ không thay đổi, hoà ước của Ta sẽ không bao giờ xê dịch”.

Chương IV.  Dụ ngôn người con hoang đàng

Bản chất của ḷng thương xót của TC được diễn tả một cách đặc biệt qua dụ ngôn người con hoang đàng (Lc 15, 11-32). Người con nầy đă nhận từ nơi cha của ḿnh phần gia tài thuộc về ḿnh và tiêu tiền hoang phí ; theo một nghĩa nào đó, người con đó chính là con người của mọi thời đại, bắt đầu bằng người đầu tiên đánh mất gia tài ân sủng và sự công b́nh nguyên thuỷ của ḿnh…. Một cách gián tiếp, dụ ngôn chạm đến từng vụ cắt đứt giao ước t́nh yêu, từng vụ đánh mất ân sủng và từng tội lỗi.

Người con hoang đàng nầy đă hoang phí và mất một điều ǵ đó quan trọng hơn của cải vật chất nầy là phẩm cách làm con trong nhà của người cha. Và khi anh ư thức được sự mất mát đó, anh ta quyết định trở về nhà cha của ḿnh và yêu cầu cha của ḿnh đối xử như những người làm công.

Thái độ của cha mẹ trong dụ ngôn nầy mạc khải cho chúng ta TC như người Cha luôn trung thành trong t́nh yêu mà Ngài luôn luôn dành rất nhiều cho người con. Ḷng tín trung nầy được biểu lộ trong thiện ư, niềm vui và t́nh mến và như thế người cha sẳn sàng hoan nghinh đón nhận đứa con của ḿnh trở về. Người cha ư thức được một của cải quan trọng được cứu vớt. Của cải đó chính là nhân phẩm của con ḿnh, phẩm giá đó đă mất nay t́m thấy được.

Trong dụ ngôn, Đức Kitô chỉ cho chúng ta thấy ḷng thương xót như là t́nh yêu, nó có khả năng được trao ban cho từng người con hoang đàng, từng sự túng nghèo của nhân loại và trên tất cả cho từng h́nh thể của sự đau khổ luân lư, tội lỗi con người. Khi sự việc đó xảy ra, con người, đối tượng của ḷng thương xót, không cảm thấy bị bẽ mặt, nhưng đúng hơn con người t́m được và tái tạo giá trị của ḿnh một lần nữa. Theo cách đó, ḷng thương xót của TC làm thăng tiến con người và rút ra được một sự thiện từ tất cả h́nh thức sự dữ hiện có trên thế gian và trong con người.

Chương V. Mầu nhiệm phục sinh

Chiều kích thần linh của mầu nhiệm Cứu chuộc mạc khải cho chúng ta biết chiều sâu t́nh yêu của TC không lùi bước trước sự hy sinh lạ lùng của Con ḿnh để thoả ḷng trung thành của Đấng Tạo Hoá và Chúa Cha đối với những con người được tạo dựng.

Mầu nhiệm Cứu chuộc là mạc khải cao nhất và quyết định sự thánh thiện của TC, sự thánh thiện nầy là sự hoàn hảo toàn vẹn : toàn vẹn trong công b́nh và t́nh yêu. Trong cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, sự công b́nh tuyệt đối được tỏ hiện do việc Chúa Kitô chịu đựng khổ nạn và bị treo trên thập giá v́ tội của nhân loại. Tội lỗi của con người được đền bù bằng sự hy sinh của “Con người-Thiên Chúa”. Sự công b́nh nầy xuất phát cách hoàn toàn nơi t́nh yêu : từ t́nh yêu của Chúa Cha và của Chúa Con và nó mang lại hoa trái mỹ măn trong t́nh yêu, sự công b́nh sản sinh hoa trái cứu độ và nó tái tạo t́nh yêu sáng tạo nơi con người.

Tin tưởng vào Đấng chịu đóng đinh có nghĩa là tin tưởng rằng t́nh yêu hiện diện trong thế giới và t́nh yêu đó có sức mạnh hơn mọi loại sự dữ mà trong đó từng cá nhân và toàn thể nhân loại có liên quan tới. Tin tưởng vào t́nh yêu nầy có nghĩa là tin tưởng vào ḷng thương xót của TC. Thật vậy, Thập giá là một cử chỉ hạ ḿnh tột bậc của TC đối với con người, giống như một sự va chạm của t́nh yêu vĩnh cửu trên vết thương đau nhất của con người hiện hữu trên trần gian.

Hơn nữa, Đức Kitô, trong sự phục sinh của ḿnh, đă kinh nghiệm một cách tận căn ḷng thương xót đối với chính ḿnh, th́ cũng có thể nói rằng t́nh yêu của Chúa Cha là sức mạnh hơn sự chết.

Trong phần nầy có đề cập đến Đức Mẹ có ḷng thương xót. Đức Mẹ Maria cũng là kẻ đă có kinh nghiệm một cách đặc biệt về ḷng thương xót (Lc 1, 50) và như thế, nhờ lễ tế của ḷng ḿnh, Đức Mẹ có thể đích thân góp phần vào việc mạc khải ḷng thương xót của TC.

Chương VI. “Ḷng thương xót…từ đời nọ đến đời kia”

Trong Thánh Ca Magnificat, Mẹ Maria đă ca ngợi ḷng thương xót của TC trải qua từ đời nọ đến đời kia, ḷng thương xót đó dành cho những ai biết kính sợ TC.

Thế hệ hiện tại sống trong một thế giới có nhiều sự dữ thể lư và luân lư đến nỗi nó trở thành một thế giới bị vướng mắc trong những mâu thuẫn và những căng thẳng và đồng thời đầy những đe doạ đến tự do con người, lương tâm và tôn giáo. Sống trong hoàn cảnh như thế làm cho con người thêm lo lắng v́ sự bấp bênh của tương lai và luôn đ̣i hỏi những giải đáp quyết định, những giải đáp như thế xem ra rất cần thiết cho nhiều thế hệ con người.

Con người tự vấn liệu sự công b́nh có thể là một phương thuốc chữa lành sự dữ và sự đe doạ lan rộng khắp nơi hay không ? Trong thế giới ngày nay và trên một quy mô rộng lớn ư thức về sự công b́nh đă được đánh thức. Và có lẽ dễ nhận ra rằng nhiều khi các chương tŕnh được khởi sự với ư niệm về sự công b́nh và phải giúp thực hiện sự công b́nh, nhưng trong thực hành lại bị lệch lạc đi. Trong thực tế, thật rất rơ ràng đôi lúc con người nhân danh sự công b́nh (thí dụ như công b́nh lịch sử, công b́nh giai cấp), nhưng con người tiêu diệt tha nhân, giết hại, tước đoạt tự do, lột mất những quyền sơ đẳng nhất của con người.

Kinh nghiệm quá khứ và hiện tại cho thấy chỉ có công b́nh không th́ chưa đủ, và thậm chí công b́nh có thể dẫn đến chỗ phủ nhận và huỷ diệt chính nó, nếu sức mạnh sâu xa là t́nh yêu không có thể uốn nắn đời sống con người trong nhiều chiều kích khác nhau.

Chương VII. Ḷng thương xót của Thiên Chúa trong sứ mạng của Giáo Hội

GH tuyên xưng và công bố ḷng thương xót của TC là ưu phẩm kỳ diệu nhất của Đấng Tạo Hoá và của Đấng Cứu chuộc khi GH đem con người về gần với nguồn mạch ḷng thương xót của Đấng Cứu chuộc. Cách quan trọng đặc biệt trong lănh vực nầy là ư thức và suy nghĩ việc tham dự Thánh Thể và Bí Tích Thống hối hay Hoà giải. Thánh thể đưa chúng ta lại gần t́nh thương mạnh hơn sự chết nầy. Hoà giải chuẩn bị đường đi của mỗi người, ngay cả khi người ta vướng mắc những lỗi nặng. Trong Bí Tích nầy mỗi người đều có thể kinh nghiệm về ḷng thương xót, tức là về t́nh yêu mạnh hơn tội lỗi.

GH cố gắng thực thi ḷng thương xót bằng cách noi theo lời giáo huấn của Chúa Giêsu Kitô. Phải lưu ư rằng trong quan hệ con người với nhau t́nh thương xót không bao giờ là một hành động hay tiến tŕnh đơn phương một chiều bởi v́ người cho vẫn được lợi ích. Tức là kẻ ban ơn và người thụ ơn, nhưng kẻ được ơn làm cho người ban ơn hài ḷng.

Bỏ qua tính chất hai chiều của ḷng thương xót nầy là lư do đưa con người ra khỏi tương quan nhân loại, để dựa vào chỉ một sự công b́nh thôi. Phải nói rằng ḷng thương xót là nguồn mạch sâu xa của sự công b́nh. Sự b́nh đẳng do công b́nh mang lại vẫn c̣n bị giới hạn vào lănh vực những của cải khách quan và bên ngoài, trong khi đó t́nh yêu và ḷng thương xót làm cho con người có thể gặp gỡ nhau trong giá trị của chính con người, cùng với phẩm giá riêng của con người.

Thế giới sẽ nhân bản hơn nếu bên cạnh sự công b́nh chúng ta đưa vào trong mối tương quan giữa người và người t́nh thương xót và sự tha thứ, đó là điều kiện nền tảng của sự hoà giải. Nếu thiếu t́nh thương xót th́ thế giới nầy chỉ là một thế giới của sự công b́nh lạnh lùng và bất kính và con người có thể lạm dụng sự công b́nh phục vụ tính ích kỷ của ḿnh.

VIII. Lời cầu nguyện của Giáo Hội ngày nay

Thế giới ngày nay càng đánh mất ư nghĩa ḷng thương xót v́ nhiều lư do khác nhau, th́ Giáo Hội càng có quyền và nghĩa vụ kêu gọi tới Thiên Chúa của ḷng thương xót trong lời cầu nguyện thành khẩn. Đó là một tiếng kêu khẩn cầu ḷng thương xót theo những nhu cầu của con người trong thế giới hôm nay. Với tiếng kêu nầy, chúng ta kêu gọi đến TC là Đấng không thể khinh rẻ những ǵ ḿnh đă tạo dựng, tới TC là Đấng trung thành với chính ḿnh, với tư cách là một người Cha của ḿnh. Để t́nh yêu của Ngài được hiện diện trong thế giới hiện đại và để t́nh yêu lớn mạnh hơn sự dữ, chúng ta hăy khẩn cầu ḷng thương xót của Thiên Chúa cho thế hệ ngày nay.

Với phép lành Toà Thánh của ĐGH

Làm tại Rôma, gần Đền Thờ Thánh Phêroo, ngày 30 tháng 11 năm 1980, Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, năm thứ ba triều đại Giáo Hoàng Gioan-Phaolo II