|
THÔNG
ĐIỆP

SPE SALVI

CỦA ĐỨC THANH CHA
BÊNÊĐITÔ XVI\
GỞI
CÁC ĐỨC GIÁM MỤC
CÁC LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ
CÁC NAM NỮ TU SĨ
VÀ TẤT CẢ ANH CHỊ EM TÍN HỮU
VỀ NIỀM HY VỌNG KITÔ GIÁO
Dẫn
Nhập
1. “SPE SALVI facti sumus ” —Chúng ta
được cứu rỗi trong hy vọng, Thánh Phaolô đă nói như thế với dân
chúng thành Rôma, cũng như với chúng ta (Rom 8:24). Theo niềm
tin Kitô, “ơn cứu chuộc” – hay ơn cứu độ - không chỉ đơn giản là một
điều được trao ban. Ơn cứu chuộc được ban cho chúng ta theo nghĩa là
chúng ta đă được trao cho hy vọng – một niềm hy vọng đáng tin cậy,
qua đó, chúng ta có thể đối diện với thực tại của chúng ta: thực tại
mà cho dù là cam go đi nữa cũng có thể sống được và chấp nhận được
nếu nó dẫn đến một mục đích, nếu chúng ta có thể được bảo đảm về mục
đích này, và nếu mục đích này cao cả đến mức biện minh được cho nỗ
lực cam go của cuộc hành tŕnh. Giờ đây, một câu hỏi được đặt ra là:
niềm hy vọng nào có thể biện minh được cho khẳng định là, trên cơ sở
của niềm hy vọng đó và chỉ v́ niềm hy vọng đó tồn tại, mà chúng ta
được cứu chuộc? Và ở đây mức độ chắc chắn là bao nhiêu?
Đức Tin là Hy Vọng
2. Trước khi hướng đến những câu hỏi thời sự
này, chúng ta cần lắng nghe gần hơn một chút với chứng tá của Thánh
Kinh về hy vọng. “Hy vọng”, thực ra, là một từ chủ yếu trong Thánh
Kinh – đến mức trong nhiều đoạn những từ “đức tin” và “hy vọng”
dường như có thể hoán chuyển cho nhau. V́ thế Thư Do Thái
liên kết chặt chẽ “sự viên măn của đức tin” (10:22) với “sự tuyên
xưng cách quả quyết niềm hy vọng của chúng ta” (10:23). Cũng thế,
trong thư Thứ Nhất, khi Thánh Phêrô khích lệ các Kitô hữu hăy luôn
luôn sẵn sàng đưa ra câu trả lời liên quan đến logos – ư
nghĩa và lư do –cho niềm hy vọng của họ (x. 3:15), th́ từ “hy vọng”
là tương đương với từ “đức tin”. Chúng ta thấy sự hiểu biết về chính
ḿnh của các tín hữu Kitô sơ khai đă được h́nh thành mạnh mẽ đến mức
nào khi họ nhận được hồng ân của một niềm hy vọng đáng tin cậy, hay
khi chúng ta so sánh cuộc sống Kitô với cuộc sống trước khi có đức
tin, hay với t́nh trạng của các tín hữu thuộc các tôn giáo khác.
Thánh Phaolô nhắc nhở dân thành Êphêsô rằng trưóc khi gặp gỡ Chúa
Kitô, họ sống “không hy vọng và không có Thiên Chúa trên đời” (Eph
2:12). Dĩ nhiên, thánh nhân biết rơ họ đă từng có những thần minh,
ngài biết là họ đă từng có tín ngưỡng, nhưng những thần minh của họ
đă cho thấy là đáng ngờ vực, và chẳng có tia hy vọng nào loé lên từ
những huyền thoại đối kháng nhau.
Dù có bao nhiêu thần minh đi nữa, họ sống
“không có Thiên Chúa” và hệ quả là họ thấy ḿnh sống trong một thế
giới tối tăm, đối diện với tương lai mịt mù. Một điếu văn trong thời
kỳ này có đoạn viết: In nihil ab nihilo quam cito recidimus
(Chúng ta nhanh chóng rơi từ hư vô này đến hư vô khác) 1.
Trong câu này, chúng ta thấy những khía cạnh bất định mà Thánh
Phaolô đă chỉ ra. Cũng thế, ngài nói với dân thành Thêsalônia: anh
em “đừng buồn sầu như những kẻ không có niềm hy vọng” (1 Th
4:13). Ở đây, chúng ta thấy một dấu chỉ nổi bật của những tín hữu
Kitô: họ có tương lai, không phải là họ biết tường tận chi tiết về
những ǵ đang chờ đợi họ, nhưng họ biết cách tổng quát là cuộc sống
của họ không kết thúc trong hư không. Khi tương lai được bảo đảm như
một thực tại tích cực th́ lúc đó hiện tại trở nên có thể sống được.
V́ thế, giờ đây chúng ta có thể nói rằng: Kitô Giáo không chỉ là một
“tin mừng” – theo nghĩa là một thông điệp về một điều chưa từng được
biết. Trong ngôn ngữ thời nay, chúng ta có thể nói: thông điệp Kitô
Giáo không chỉ là có tính “thông tin” (“informative”) nhưng c̣n có
tính “tác động” (“performative”). Nghĩa là: Tin Mừng không chỉ là
một thông truyền về những sự việc có thể thông biết – nhưng là một
điều khiến các sự kiện xảy ra và thay đổi cuộc sống. Cánh cửa mịt mù
tăm tối của thời gian, của tương lai, đă được mở toang. Ai có niềm
hy vọng th́ sống khác biệt hẳn; v́ người có niềm hy vọng đă được ban
cho cho hồng ân một cuộc sống mới.
3, Nhưng, ở đây lại nảy sinh một câu hỏi
khác: niềm hy vọng này chứa đựng điều ǵ khi được coi là niềm hy
vọng “giải thoát”? Cốt lơi của câu trả lời được chỉ ra trong một câu
từ Thư gởi các tín hữu thành Êphêsô được trích dẫn bên trên:
các tín hữu thành Êphêsô trước khi gặp gỡ Chúa Kitô đă sống không có
niềm hy vọng v́ họ sống “không có Chúa trong đời”. Nhận biết Thiên
Chúa - Thiên Chúa thật – nghĩa là nhận lấy hy vọng. Chúng ta, những
người đă từng luôn sống với khái niệm Kitô Giáo về Thiên Chúa, và đă
trở nên quen thuộc với khái niệm này, dường như đă ngừng chú ư rằng
chúng ta mang trong ḿnh một niềm hy vọng nảy sinh từ cuộc gặp gỡ
với vị Thiên Chúa này. Gương của một vị thánh trong thời đại chúng
ta, ở một mức độ nào đó, có thể giúp hiểu được ư nghĩa của cuộc gặp
gỡ thực sự lần đầu tiên với vị Thiên Chúa đó. Tôi nghĩ đến thánh nữ
Josephine Bakhita người Phi Châu, đă được Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II tôn phong hiển thánh. Ngài sinh tại Darfur bên Sudan
khoảng 1869 – chính ngài không biết ngày sinh chính xác của ḿnh là
ngày nào. Khi lên 9, ngài bị bắt cóc bởi những kẻ buôn bán nô lệ, bị
đánh đập đổ máu, và bị bán đi bán lại đến 5 lần trong các chợ buôn
nô lệ tại Sudan. Cuối cùng, ngài sống như nô lệ trong nhà thân mẫu
và phu nhân của một vị tướng, và ở đó, hàng ngày ngài bị đánh đập
toé máu; và hệ quả là ngài phải mang trong người 144 vết thẹo đến
hết cuộc đời. Cuối cùng, năm 1882, một thương gia người Ư đă mua
ngài cho viên lănh sự Ư Callisto Legnani, người đă trở về Italia khi
quân Mahdists nổi dậy. Ở đó, sau “những ông chủ” đáng sợ, những
người đă làm chủ ngài cho đến lúc đó, Bakhita đă biết đến một “tôn
chủ” hoàn toàn khác hẳn, một tôn chủ mà ngài đă dùng từ “Paron”
trong phương ngữ Vênêtia, thứ tiếng ngài đang học, để nói về
Thiên Chúa hằng sống, về Chúa Giêsu Kitô. Cho đến khi đó, ngài chỉ
biết đến những ông chủ khinh miệt và đối xử tàn tệ với ngài, hay
cùng lắm là coi ngài như một con nô lệ hữu dụng. Tuy nhiên, giờ đây,
ngài nghe nói đến một “Paron” vượt lên mọi ông chủ, Chúa của
các chúa, và vị Thiên Chúa đó thiện hảo, một sự thiện hảo tự trong
bản tính. Ngài nhận ra rằng Thiên Chúa thậm chí c̣n biết đến ngài,
và Người đă tạo ra ngài, và yêu thương ngài thật sự. Bakhita cũng đă
được yêu thương, không phải bởi ai khác hơn là vị “Paron” tối
cao này, Đấng mà trước mặt Người mọi thứ ông chủ khác, chính họ,
không hơn ǵ những tôi tớ thấp hèn. Bakhita thấy ḿnh được biết đến,
được yêu thương, và được chờ đón. Hơn thế nữa, chính vị tôn chủ này
cũng đă từng chấp nhận số phận bị đánh đ̣n và giờ đây Ngài đang chờ
Bakhita ở “bên hữu Chúa Cha”. Giờ đây Bakhita có “hy vọng” – không
phải cái hy vọng khiêm nhường là t́m được một ông chủ ít tàn nhẫn
nhất nhưng là một niềm hy vọng lớn lao: “Tôi nhất định được yêu
thương và dù điều ǵ xảy đến cho tôi – tôi vẫn đang được chờ đón bởi
T́nh Yêu này. Và v́ thế đời tôi thật là đẹp”. Nhờ nhận biết niềm hy
vọng này, ngài được “giải thoát”, không c̣n là một nô lệ nữa nhưng
là một con cái tự do của Thiên Chúa. Bakhita hiểu được điều mà Thánh
Phaolô đă nhắc nhở dân thành Êphêsô là trước đây họ sống vô vọng và
không có Thiên Chúa trong đời – không có hy vọng v́ không có
Thiên Chúa. Thành thử, khi sắp được đưa trở lại Sudan, Bakhita đă từ
khước; ngài không muốn bị tách biệt lần nữa khỏi “Paron” của
ḿnh. Ngày 9 tháng Giêng năm 1890, ngài được rửa tội, được chịu phép
thêm sức và được rước Ḿnh Thánh Chúa lần đầu từ tay vị Thượng Phụ
thành Venice. Ngày 8 tháng Mười Hai năm 1896, tại Verona, ngài được
tuyên khấn trong Cộng Đoàn các Nữ Tu ḍng Canossia và từ đó bên cạnh
công việc trong pḥng thánh và trong nhà trực cửa tại tu viện, ngài
đă thực hiện nhiều chuyến du hành ṿng quanh Italia nhằm đề cao việc
truyền giáo: Ngài thấy rằng ơn giải thoát mà ngài đă nhận được qua
sự gặp gỡ với Chúa Kitô cần phải được mở rộng, cần phải được trao
cho những người khác, đông hết sức có thể. Niềm hy vọng đă hạ sinh
trong ngài, đă “giải thoát” ngài, không thể chỉ giữ cho riêng ḿnh;
niềm hy vọng đó phải được lan tỏa đến nhiều người, đến mọi người.
Khái niệm về niềm hy vọng trên cơ sở
đức tin trong Tân Ước và trong Giáo Hội sơ khai
4. Chúng ta đă nêu lên câu hỏi là liệu cuộc
gặp gỡ với Thiên Chúa - Đấng mà nơi Chúa Kitô đă tỏ lộ cho chúng ta
thấy thiên nhan của Ngài, và mở ḷng Ngài ra cho chúng ta - có thể
không chỉ có tính “thông tin” mà c̣n có tính “tác động” – nghĩa là
cuộc gặp gỡ đó có thể thay đổi cuộc đời ta để ta nhận ra là ḿnh đă
được giải thoát qua niềm hy vọng thể hiện nơi cuộc gặp gỡ này hay
không? Trước khi cố gắng trả lời câu hỏi này, chúng ta hăy trở lại
lần nữa với Giáo Hội sơ khai. Không khó để nhận ra rằng kinh nghiệm
của thiếu nữ nô lệ Phi Châu Bakhita cũng là kinh nghiệm trong thời
kỳ h́nh thành Kitô Giáo của nhiều người, những người đă bị đánh đập
và bị kết án làm nô lệ. Kitô Giáo không mang lại một sứ điệp cách
mạng xă hội kiểu như cuộc cách mạng bất hạnh của Spartacus, người mà
cuộc tranh đấu đă dẫn đến đổ máu nhiều hơn nữa. Chúa Giêsu không
phải là Spartacus, Ngài không dấn thân trong một cuộc chiến giải
phóng chính trị như Barabbas hay Bar- Kochba. Chúa Giêsu, chính
Ngài, đă chịu chết trên Thánh Giá, mang lại cho chúng ta những ǵ
hoàn toàn khác: một cuộc gặp gỡ với Chúa của các chúa, một cuộc gặp
gỡ với Thiên Chúa hằng sống, và qua đó gặp gỡ một niềm hy vọng c̣n
mạnh hơn những cơ cực của kiếp nô lệ, một niềm hy vọng, do đó, thay
đổi cuộc sống và thế giới tự bản chất bên trong. Cái mới ở đây có
thể được nh́n thấy với một sự minh bạch nhất trong Thư gởi
Philêmôn của Thánh Phaolô. Đây là một lá thư rất riêng tư, mà
Thánh Phaolô đă viết từ trong tù và được trao cho người nô lệ chạy
trốn Ônêsimô để trao cho chủ là Philêmôn. Thật thế, Thánh Phaolô đă
gởi người nô lệ này lại cho ông chủ mà anh ta đă bỏ trốn “Tôi van
xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đă sinh ra trong cảnh xiềng
xích.. tôi xin gửi nó về cho anh; xin anh hăy đón nhận nó như người
ruột thịt của tôi… Nó đă xa anh một thời gian, có lẽ chính là để anh
được lại nó vĩnh viễn, không phải được lại một người nô lệ, nhưng
thay v́ một người nô lệ, th́ được một người anh em rất thân mến..” (Plm
1:10-16). Xét về vị thế dân sự mà nói, con người có thể là tôn chủ
hay nô lệ. Nhưng họ đă trở nên anh chị em với nhau v́ họ đều là
thành viên của một Giáo Hội duy nhất – đó chính là cách thế những
Kitô hữu đối xử với nhau. Qua phép Rửa Tội họ được tái sinh, họ được
uống cùng một Thần Khí và cùng nhau lănh nhận Ḿnh Thánh Chúa. Cho
dù cấu trúc bên ngoài vẫn giữ nguyên, điều này đă thay đổi xă hội
trần thế từ bên trong. Khi Thư gởi các tín hữu Do Thái nói
rằng những Kitô hữu trên trần gian này không có một quê hương vĩnh
cửu, nhưng t́m kiếm một quê hương trong tương lai (x Dt
11:13-16; Phil 3:20), th́ điều này không có nghĩa là họ chỉ
sống cho tương lai: người Kitô hữu xem xă hội hiện tại như một nơi
tha hương; họ thuộc về một xă hội mới là mục đích của cuộc lữ hành
trần thế, và là điều luôn được trông mong trong suốt cuộc lữ hành
này.
5. Chúng ta cần thêm vào một nhận định nữa.
Thư Thứ Nhất gởi các tín hữu thành Côrintô (1:18-31) nói với
chúng ta rằng đa số các tín hữu Kitô tiên khởi thuộc về tầng lớp xă
hội thấp, và chính v́ thế họ sẵn sàng đón nhận niềm hy vọng mới, như
chúng ta thấy trong trường hợp của thánh nữ Bakhita. Nhưng ngay từ
buổi đầu cũng đă có nhiều cuộc cải đạo trong hàng quư tộc và giới
trí thức, v́ chính họ cũng đang sống “vô vọng và không có Chúa trong
đời”. Huyền thoại đă mất đi tính khả tín của nó; tôn giáo của Đế Chế
La Mă đă suy thoái thành một thứ nghi lễ đơn thuần được cử hành thận
trọng nhưng không ǵ khác hơn là một “tôn giáo chính trị”. Triết học
duy lư đă giới hạn những thần minh bên trong phạm trù của những ǵ
không thực. Tuy người ta có thể cảm nhận được Thần Thánh trong những
cách thế khác nhau nơi những lực của vũ trụ, nhưng một Thiên Chúa mà
người ta có thể cầu nguyện với Ngài th́ không hiện hữu. Thánh Phaolô
đă minh họa khá chính xác vấn nạn then chốt của tôn giáo trong thời
kỳ này khi ngài tương phản cuộc sống “theo Chúa Kitô” với cuộc sống
dưới sự khống chế của “các lực vũ trụ” (Cl 2:8). Về phương
diện này, một đoạn văn của Thánh Grêgôriô thành Nazianzen có thể
giúp soi sáng. Ngài nói rằng chính khi Ba Nhà Đạo Sĩ, được hướng dẫn
bởi v́ sao, thờ lạy Chúa Kitô vị Tân Vương, th́ khoa chiêm tinh đă
đến hồi kết thúc, v́ các v́ sao giờ đây di chuyển trong một quỹ đạo
được xác định bởi Chúa Kitô. 2 Cảnh tượng này thực ra lật
ngược thế giới quan của thời đó, một thế giới quan trong một cách
thế khác đă trở nên thịnh hành một lần nữa trong thời đại hôm nay.
Không phải những lực lượng trong vũ trụ, những luật vật chất, chi
phối tối hậu thế giới và nhân loại, nhưng chính Thiên Chúa cai quản
các v́ sao, nghĩa là vũ trụ; không phải những định luật về vật chất
và tiến hóa có tiếng nói sau cùng nhưng là lư trí, ư chí, t́nh yêu –
một Ngôi Vị. Và chúng ta biết Ngôi Vị này, và Ngài cũng biết đến
chúng ta, thành ra, thực sự là thế lực mù quáng của các yếu tố vật
chất không c̣n tiếng nói sau cùng; chúng ta không phải là những nô
lệ của vũ trụ và các định luật của nó, chúng ta là những người tự
do. Trong những thời cổ đại, sự suy xét lư trí cách thành thực cũng
nhận ra điều này. Thiên đàng không phải là hư vô. Đời sống không chỉ
là hệ quả của những định luật và sự ngẫu nhiên, nhưng bên trong mọi
thứ và cùng lúc vượt lên mọi thứ là một ư chí, một Thần Khí mà qua
Đức Giêsu đă tỏ lộ chính Ngài cho chúng ta như một T́nh Yêu. 3
6. Những mộ đá thời Kitô giáo tiên khởi đă
minh họa ư niệm này một cách hữu h́nh – trong bối cảnh của cái chết,
khi phải đối diện với câu hỏi không thể nào né tránh được liên quan
tới ư nghĩa cuộc sống. H́nh ảnh Đức Kitô được diễn giải trên các mộ
đá gồm hai h́nh ảnh chính: đó là h́nh ảnh triết gia và h́nh ảnh
người chăn chiên. Triết học vào thời kỳ đó thường không được coi là
một ngành học bài bản khó hiểu, như ta thấy ngày nay. Trái lại,
triết gia là người biết cách dạy nghệ thuật thiết yếu này: là thuật
làm người một cách chính danh – nghệ thuật sống và chết. Chắc chắn
là từ lâu người ta đă nhận ra là có nhiều người đi đây đó khoác vào
ḿnh bộ áo triết gia, hoặc giả làm thầy dạy đời, nhưng thực chất chỉ
là những kẻ lừa đảo, kiếm tiền bằng môi miệng với lời nói phỉnh lừa,
trong khi không có ǵ để nói về cuộc sống thật. Thành ra, vị triết
gia chân chính, người chỉ ra được nẻo đường sự sống, th́ măi măi vẫn
luôn được tôn kính và được người đời t́m đến. Cho tới cuối thế kỉ
thứ III, trên mộ phần của một em bé ở Rôma, lần đầu tiên chúng ta
t́m được, dưới nhăn kiến sự sống lại của Lazarô, h́nh ảnh Đức Kitô
như là triết gia chân thật, một tay Ngài cầm cuốn Phúc Âm, tay khác
cầm gậy lữ hành của triết gia. Với chiếc gậy của ḿnh, Ngài đă chiến
thắng sự chết; sách Phúc Âm mang lại chân lư mà các triết gia trước
đó đă đi t́m kiếm trong vô vọng. Nơi h́nh ảnh này, h́nh ảnh đă trở
thành một nét chung trong nghệ thuật bia mộ trong một thời gian dài,
chúng ta thấy rơ điều mà cả người học thức lẫn người b́nh dân đều có
thể t́m thấy nơi Đức Kitô: Người nói cho chúng ta biết con người
thực sự là ai và con người phải làm ǵ để trở thành nhân bản thực
sự. Người chỉ cho chúng ta con đường, và con đường này là sự thật.
Chính Người vừa là Đường và là Sự Thật, và v́ thế Người cũng là Sự
Sống mà tất cả chúng ta đang t́m kiếm. Người cũng chỉ cho chúng ta
con đường sau cái chết; chỉ có ai làm được điều này mới thật sự là
thầy dạy của sự sống. Điều này cũng trở nên tỏ tường nơi h́nh ảnh
người chăn chiên. Cũng như h́nh ảnh triết gia, qua h́nh ảnh người
chăn chiên, Giáo Hội sơ khai đă có thể nói lên căn tính của ḿnh với
những kiểu mẫu nghệ thuật La Mă hiện hành. Ở đó, người chăn chiên
thường được coi là một diễn đạt chung về ước mơ một cuộc sống thanh
b́nh và đơn sơ, mà thị dân của những thành thị lớn luôn ngưỡng vọng
đến giữa những băn khoăn của cuộc sống. Giờ đây, h́nh ảnh đó được
đọc lên như một phần của một bối cảnh mới, mang đến cho nó một ư
niệm sâu xa hơn: “Chúa là Đấng Chăn Chiên của tôi: tôi không thiếu
ǵ... dù tôi bước qua thung lũng tối tăm sự chết, tôi không sợ sự dữ
nào, bởi v́ Chúa ở cùng tôi... ” (Tv 23 [22]:1, 4). Người chăn chiên
thực là người biết cả đến những nẽo đường băng qua thung lũng sự
chết; người mà bước đi với tôi dẫu là nẻo đường cuối cùng của hiu
quạnh, nơi mà không ai có thể bước với tôi, hướng đạo cho tôi đi
qua: th́ chính Người đă bước qua nẻo đường đó, Người đă xuống tận
cơi chết, đă chiến thắng sự chết, và giờ đây đă trở về để dẫn đưa
chúng ta và cho chúng ta niềm xác tín rằng, cùng với Người, chúng ta
t́m ra một con đường đi qua được. Sự nhận thức rằng c̣n có Một Đấng
dù trong sự chết vẫn bước theo tôi, và với “cây roi và cây trượng
của Người an ủi phấn chấn tôi, do đó “tôi không c̣n sợ chi” (cf. Tv
23 [22]:4) — Đó chính là “hy vọng” mới đă phát sinh trên cuộc sống
của các tín hữu.
7. Chúng ta cần phải quay lại Tân Ước một lần
nữa. Trong chương 11 của Thư Do Thái (câu 1) chúng ta t́m
thấy một dạng định nghĩa về đức tin trong đó liên kết chặt chẽ nhân
đức này với đức cậy. Từ thời Phục Hưng đă có những tranh căi giữa
những nhà chú giải Thánh Kinh trên từ trọng tâm của câu này, nhưng
ngày nay một cách thế hướng đến sự diễn dịch đại kết dường như đang
khơi gợi lại vấn đề một lần nữa. Tạm thời, tôi sẽ giữ nguyên không
dịch từ trọng tâm này. Thành ra, câu đó sẽ được đọc như sau: “Đức
tin là hypostasis cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng
cho những điều ta không thấy”. Đối với các Nghị Phụ và các nhà thần
học thời Trung Cổ, từ Hy Lạp hypostasis đă được giữ lại trong
tiếng La Tinh bằng thuật ngữ substantia. Thành ra, bản dịch
La Tinh của đoạn văn vào thời Giáo Hội sơ khai được đọc là: Est
autem fides sperandarum substantia rerum, argumentum non apparentium
“Đức tin là bản chất của những điều ta hy vọng, là bằng
chứng cho những điều ta không thấy”. Thánh Tôma Aquinas, 4
khi dùng thuật ngữ này của triết học truyền thống mà ngài thuộc về,
đă giải thích điều đó như sau: đức tin là một habitus, nghĩa là, một
xu hướng ổn định tinh thần, qua đó cuộc sống vĩnh cửu đâm rễ trong
chúng ta và lư trí được dẫn dắt đến chỗ tán thành điều nó không thấy
được. Khái niệm “bản chất”, do đó, được thay đổi theo nghĩa là qua
đức tin, từ lúc phôi thai, hay có thể nói là khi “c̣n trong trứng
nước” - và như thế là theo “bản chất” – đă hiện diện trong ta những
điều chúng ta hy vọng: đó là cuộc sống tổng thể, và chân thật. Và v́
chính điều này đă hiện diện, sự hiện hữu này của điều sẽ xảy đến
cũng tạo ta sự chắc chắn: “điều” chắc chắn phải xảy đến này tuy chưa
hữu h́nh với thế giới bên ngoài (nó không “xuất hiện”), nhưng v́ sự
kiện là chúng ta mang nó bên trong ta như một thực tại sơ khởi và
năng động, một cảm nhận nào đó về nó cũng tồn tại ngay lúc này. Đối
với Luther, người đặc biệt không thích Thư Do Thái, khái niệm
“chất liệu”, trong bối cảnh quan điểm về đức tin của ông ta, chẳng
có nghĩa ǵ. V́ thế, ông ta hiểu thuật ngữ hypostasis/substance
không theo nghĩa khách quan (như một thực tại hiện diện bên trong
ta), nhưng theo nghĩa chủ quan, như là một thái độ nội tâm, và v́
thế đương nhiên ông phải hiểu từ argumentum như một xu hướng
của chủ thể. Trong thế kỷ 20, sự diễn dịch này rất thịnh hành – ít
nhất là tại Đức – cả nơi những nhà chú giải Thánh Kinh Công Giáo,
đến mức bản dịch đại kết cuốn Tân Ước bằng tiếng Đức, được các Đức
Giám Mục phê chuẩn, đă dịch như sau: Glaube aber ist: Feststehen
in dem, was man erhofft, berzeugtsein von dem, was man nicht sieht
(Đức tin là kiên định trong những điều ta hy vọng, là tin
tưởng nơi những điều ta không thấy). Điều này tự nó không phải là
sai, nhưng đó không phải là ư nghĩa của đoạn văn, v́ bản tiếng Hy
Lạp dùng từ elenchos là từ không có nghĩa chủ thể của từ “tin
tưởng” nhưng có một nghĩa như đối tượng của từ “bằng chứng”. Do đó,
gần đây các nhà chú giải Thánh Kinh Tin Lành đă đạt đến một diễn
dịch khác: “Tuy chưa phải là một vấn nạn nhưng hiểu biết cổ điển của
Tin Lành là không thể đứng vững được” 5. Đức tin không
chỉ đơn thuần là sự vươn tới của cá nhân hướng về những điều sẽ xảy
đến nhưng đến nay vẫn hoàn toàn vắng bóng: đức tin c̣n đem lại cho
chúng ta điều ǵ đó. Đức tin đem đến cho ta ngay cả lúc này đây
những phần của thực tại chúng ta đang trông chờ, và thực tại này đem
đến cho chúng ta một “bằng chứng” về những điều c̣n chưa thấy. Đức
tin kéo tương lai về với hiện tại đến mức tương lai không c̣n đơn
thuần là một điều ǵ đó “chưa đến”. Sự kiện là tương lai đang hiện
hữu thay đổi hiện tại; hiện tại này được thực tại trong tương lai
tác động đến, và v́ thế những ǵ của tương lai tuôn trào vào những
ǵ của hiện tại và những ǵ của hiện tại tuôn trào vào những ǵ của
tương lai.
8. Lối giải thích này càng được củng cố và
liên hệ với đời sống hàng ngày hơn nữa nếu chúng ta xét đến câu 34
trong Thư Do Thái, được liên kết qua từ vựng và nội dung với
định nghĩa về đức-tin-chất-chứa-hy-vọng và lót đường cho định nghĩa
đó. Ở đây, tác giả đề cập với các tín hữu, những người đă phải trải
qua kinh nghiệm của bách hại và ngài nói với họ “anh em đă thông
phần đau khổ với những người bị tù tội, và đă vui mừng để cho người
ta tước đoạt của cải (hyparchonton —Vg. bonorum), bởi
biết rằng ḿnh có những của (hyparxin —Vg. substantiam)
vừa quư giá hơn lại vừa bền vững”. Hyparchonta chỉ về tài
sản, là điều góp phần tạo nên phương tiện nâng đỡ trên trần thế,
thực ra là cơ sở, là “chất liệu” cho cuộc sống mà chúng ta phải phụ
thuộc. “Chất liệu” này, nguồn bảo đảm cuộc sống b́nh thường, đă bị
tước đi khỏi các Kitô hữu khi họ bị bắt bớ. Dù vậy, họ đă đứng vững,
bởi họ xem chất liệu vật chất này nhẹ như lông hồng. Họ có thể từ bỏ
nó v́ họ t́m thấy một “cơ sở” tốt hơn cho sự hiện hữu của ḿnh – một
cơ sở trường tồn, mà không ai tước mất đi được. Chúng ta không thể
bỏ qua sự liên kết giữa hai dạng “chất liệu”, giữa phương tiện nâng
đỡ hay cơ sở vật chất và đức tin như một “cơ sở”, một “chất liệu”
bền vững. Đức tin tạo cho cuộc sống một cơ sở mới, một nền tảng giúp
chúng ta đứng vững, một nền tảng làm tương đối hóa cái nền tảng
thông thường là sự phụ thuộc vào thu nhập vật chất. Một h́nh thái tự
do mới nảy sinh liên quan đến nền tảng thông thường của cuộc sống,
là điều dường như chỉ có thể đưa ra sự nâng đỡ, mặc dù hiển nhiên là
ta không thể phủ nhận ư nghĩa thông thường của nó. H́nh thái tự do
mới này, sự nhận thức về “chất liệu” mới mà chúng ta đă được ban
cho, được diễn tả không chỉ riêng trong việc tử đạo, khi con người
chống lại cường quyền của ư thức hệ và các cơ cấu chính trị, và qua
cái chết của ḿnh, canh tân thế giới. Trên tất cả, sự tự do đó được
nh́n thấy nơi những hành vi từ bỏ ḿnh, từ các tu sĩ thời xa xưa tới
Thánh Phanxicô thành Assisi và những vị trong thời đại chúng ta đă
bước vào những ḍng tu và những phong trào hiện đại, bỏ lại sau lưng
tất cả v́ t́nh yêu dành cho Chúa Kitô, và để giúp những ai đang đau
khổ trong thân xác và tâm hồn. Trong trường hợp của họ, “chất liệu”
mới được chứng minh là “chất liệu” thật; từ hy vọng của những vị
này, những người đă rung động v́ Đức Kitô, hy vọng vươn lên cho
những ai đang sống trong tăm tối và vô vọng. Trường hợp của các vị
này cho thấy cuộc sống mới thực sự làm chủ và là “chất liệu” đem đến
cuộc sống cho tha nhân. Với chúng ta, những người đang chiêm ngắm
những h́nh ảnh này, cách thức hành động và sống của họ là một “bằng
chứng” thực sự cho thấy những ǵ sẽ xảy đến, lời hứa của Chúa
Kitô, không chỉ là một thực tại mà chúng ta chờ đón, nhưng là một
thực tại hiện hữu: Ngài thật là một “triết gia” và một “mục tử” Đấng
chỉ ra cho chúng ta sự sống là ǵ và có thể t́m thấy nó nơi đâu.
9. Để hiểu sâu xa hơn suy tư về hai dạng chất
liệu này - hypostasis và hyparchonta - và về hai lựa
chọn trong cuộc sống thể hiện nơi những thuật ngữ này, chúng ta cần
tiếp tục với một suy tư ngắn về hai từ có liên quan đến cuộc tranh
luận được t́m thấy nơi chương thứ Mười của Thư Do Thái. Tôi
muốn đề cập đến hai từ hypomone (10:36) và hypostole
(10:39). Hypo- mone thường được dịch là “nhẫn nại” – bền đỗ,
kiên định. Biết cách chờ đợi như thế nào, trong khi nhẫn nại chịu
đựng thử thách, là điều cần thiết cho các tín hữu để “nhận được điều
đă hứa” (10:36). Trong bối cảnh tôn giáo của Do Thái Giáo cổ, từ này
được dùng để thể hiện cho ḷng kỳ vọng Thiên Chúa, Đấng được coi là
biểu tượng của Israel, cũng như cho sự trung tín kiên định với Thiên
Chúa trên cơ sở vững tin vào Giao Ước trong một thế giới thù địch
với Ngài. V́ thế, từ này chỉ một hy vọng sống động, một cuộc sống
dựa trên sự chắc chắn của niềm hy vọng. Trong Tân Ước, ḷng kỳ vọng
Thiên Chúa, thái độ vững tin nơi Thiên Chúa này, có một ư nghĩa mới:
trong Chúa Kitô, Thiên Chúa đă mạc khải chính ḿnh. Ngài đă thông
truyền cho chúng ta “chất liệu” của những ǵ đang đến, và v́ thế
ḷng trông mong Thiên Chúa đạt đến một sự chắc chắn mới. Đó là ḷng
trông đợi những ǵ sẽ đến từ viễn ảnh của một hồng ân đă được trao
ban. Đó là sự trông đợi- hướng về phía trước từ sự hiện diện của
Chúa Kitô, với Đức Kitô, Đấng đang hiện diện, mà hướng đến sự hoàn
hảo của Nhiệm Thể Ngài, hướng đến sự quang lâm chắc chắn của Ngài.
Từ hypostole, ngược lại, có nghĩa là thu ḿnh lại do thiếu
can đảm nói công khai và thẳng thắn một sự thật có thể đem đến hiểm
nguy. Ẩn dấu do sự khiếp sợ dẫn tới “hư vong” (Dt 10:39).
Trái lại, “Thiên Chúa đă chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho
chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta
được đầy sức mạnh, t́nh thương, và biết tự chủ” là cách thế tuyệt
đẹp mà Thư Thứ Hai gởi Timôthêô (2 Tm 1:7) đă diễn tả
về thái độ căn bản của người Kitô hữu.
Sự sống đời đời – Điều này là ǵ vậy?
10. Đến nay chúng ta đă đề cập đến đức tin và
niềm hy vọng trong Tân Ước và trong thời kỳ Kitô Giáo tiên khởi;
nhưng luôn luôn rơ là chúng ta đang đề cập đến không chỉ quá khứ mà
thôi. Thật vậy, toàn bộ suy tư này liên quan đến sống và chết cách
đại cương, và do đó, nó cũng liên quan đến chúng ta nơi đây và hiện
nay. V́ thế, chúng ta phải thẳng thắn đặt câu hỏi: liệu đức tin Kitô
Giáo cũng dành cho chúng ta ngày nay một niềm hy vọng đổi-đời và
nâng đỡ-cuộc-sống hay không?
Liệu niềm hy vọng đó có tính chất “tác động”
với chúng ta – đó có phải là một sứ điệp nhào nặn cuộc đời ta trong
một cách thế mới, hay nó chỉ mang tính chất “thông tin” mà, lúc này
đây, chúng ta gác qua một bên, và thông tin đó đối với chúng ta giờ
đây dường như đang bị đè bẹp bởi những thông tin khác mới mẻ hơn? Để
t́m ra câu trả lời, tôi muốn bắt đầu với h́nh thức đối thoại cổ điển
trong nghi thức Rửa Tội được cử hành khi tiếp rước một hài nhi sơ
sinh vào trong cộng đoàn các tín hữu và chào đón ơn tái sinh của hài
nhi trong Chúa Kitô. Đầu tiên, vị linh mục hỏi cha mẹ xem ông bà đặt
tên cho con trẻ là ǵ, và ngài tiếp tục với câu hỏi: “Ông bà anh chị
em xin điều ǵ nơi Giáo Hội?” Thưa: “Đức tin”. “Đức tin đó đem lại
cho ông bà anh chị em điều ǵ?” “Sự sống đời đời”. Theo đoạn đối
thoại này, các bậc cha mẹ đang t́m kiếm đức tin cho con cái họ, và
sự hiệp thông với các tín hữu, v́ họ thấy nơi đức tin ch́a khóa dẫn
đến “sự sống đời đời”.
Ngày nay cũng như trong quá khứ, đó là toàn
bộ ư nghĩa của việc được rửa tội, được trở nên Kitô hữu: đó không
phải chỉ là một hành động xă giao trong cộng đoàn, không đơn thuần
là một sự tiếp đón vào Giáo Hội. Các bậc cha mẹ trông đợi nhiều hơn
cho con trẻ được rửa tội: họ mong rằng đức tin, bao gồm cả bản tính
trần thế của Giáo Hội và các phép bí tích sẽ đem lại sự sống cho đứa
trẻ - một sự sống đời đời. Đức tin là chất liệu của hy vọng. Nhưng,
một câu hỏi được đặt ra: liệu chúng ta có thực sự mong muốn điều này
– là được sống đời đời không? Có lẽ nhiều người ngày nay từ khước
đức tin chỉ v́ họ không thấy hứng thú nơi viễn ảnh của cuộc sống đời
đời. Điều họ muốn không phải là sự sống đời đời một chút nào, nhưng
là cuộc sống hiện nay, cuộc sống mà đức tin vào sự sống đời đời
dường như trở nên một điều ǵ đó gây ngăn trở. Tiếp tục sống đời đời
– không chấm dứt – dường như là một lời nguyền hơn là một ân sủng.
Sự chết, phải thừa nhận, là ta muốn tŕ hoăn nó bao lâu có thể.
Nhưng sống hoài, không dứt – điều này, xét cho cùng, có thể là ngao
ngán và tối hậu là không thể chịu đựng nổi. Đây chính là một luận
điểm được đưa ra, chẳng hạn, bởi Thánh Ambrose, một trong các Giáo
Phụ của Giáo Hội, trong bài điếu văn cho người anh em quá cố của
ngài là Satyrus: “Sự Chết không phải là một phần của tự nhiên, nhưng
đă trở nên tự nhiên. Tự thuở ban đầu Thiên Chúa đă không truyền án
phạt phải chết; Ngài phải đề ra nó như một phương dược. Cuộc sống
con người, v́ tội lỗi.. đă bắt đầu cảm nhận gánh nặng của sự bơ phờ
trong lao động không ngơi và trong buồn sầu không thể chịu nổi. Cần
phải có giới hạn cho những đau khổ của cuộc sống; cái chết phải phục
hồi lại điều sự sống đă tước mất. Không có sự trợ giúp của ơn sủng,
bất tử trở thành một gánh nặng nhiều hơn là một ơn phúc” 6.
Trước đó ít lâu, Thánh Ambrose đă nói: “Cái chết, do đó, không phải
là duyên cớ để khóc lóc, v́ nó là căn cớ cho ơn cứu độ của nhân
loại”.7
11. Dù chính xác là Thánh Ambrose muốn nói ǵ
qua những lời này đi chăng nữa, thật đúng là việc loại trừ sự chết
hay tŕ hoăn nó dù đến vô hạn hay không đều đặt trái đất và nhân
loại trong một t́nh huống không thể được, và ngay cả cá nhân cũng
không được lợi ǵ. Hiển nhiên có một mâu thuẫn trong thái độ chúng
ta, là điều cho thấy một mâu thuẫn nội tại sâu xa trong chính sự
hiện hữu của chúng ta. Một mặt chúng ta không muốn chết; trước tiên
là v́ những người thân của chúng ta không muốn chúng ta chết. Nhưng
mặt khác, chúng ta chẳng muốn tiếp tục sống vô hạn và trái đất cũng
chẳng được tạo thành theo quan điểm đó. Chúng ta thật sự muốn cái ǵ
đây? Thái độ bất nhất của chúng ta dẫn tới một câu hỏi sâu xa hơn:
thực ra sự sống là ǵ? Và “đời đời” nghĩa là sao? Có những lúc nào
đó đột nhiên chúng ta thấy dường như là rơ ràng: vâng, “sự sống”
thật là đây - đây chính là điều mà sự sống phải là. Bên cạnh đó,
điều mà chúng ta gọi là “sự sống” trong ngôn ngữ hàng ngày chẳng
phải là “sự sống” thật chút nào. Thánh Augustinô, trong một lá thư
ngỏ về cầu nguyện mà ngài gởi cho bà Proba, một mệnh phụ phu nhân
góa và là thân mẫu của ba viên lănh sự, có lần đă viết: tối hậu là
chúng ta chỉ muốn điều này – một “cuộc sống đầy ơn phúc”, một cuộc
sống đơn giản, một “hạnh phúc” đơn sơ. Trong phân tích cuối cùng,
chúng ta không xin ǵ khác hơn trong kinh nguyện của chúng ta. Cuộc
lữ hành trần thế của chúng ta không có mục tiêu nào khác – tất cả
chỉ nhằm mục đích đó. Nhưng khi đó, Thánh Augustinô cũng nói: khi
nh́n kỹ hơn, chúng ta không biết tối hậu điều chúng ta ao ước là ǵ,
thực ra chúng ta mong muốn cái ǵ. Chúng ta chẳng biết ǵ về thực
tại này; ngay cả trong những thời điểm chúng ta nghĩ là có thể vươn
tới và động chạm đến nó, nó vượt khỏi chúng ta. “Chúng ta không biết
điều mà chúng ta nên cầu xin như chúng ta phải làm”, ngài nói thế
khi trích dẫn Thánh Phaolô Tông Đồ (Rom 8:26). Tất cả điều
chúng ta biết là điều đó không phải như thế này, thế nọ. Dù không
biết tường tận, chúng ta cũng biết là thực tại này phải tồn tại.
Ngài viết: “Thành ra, trong chúng ta có một mức độ ngu dốt có ư thức
(docta ignorantia ) nào đó, có thể nói như thế”. Chúng ta
không biết điều chúng ta thực sự muốn; chúng ta không biết “sự sống”
thật này; nhưng chúng ta biết rằng chắc chắn có một điều chúng ta
không biết mà chúng ta vẫn cảm thấy bị lôi cuốn về đó. 8
12. Tôi nghĩ là trong cách thế rất chính xác
luôn có giá trị này, Thánh Augustinô đang di
|