KỲ DIỆU

Đỗ Trân Duy

“Các người Do thái đ̣i hỏi dấu lạ…” (1Cor 1:22).

 

Cô y tá mang em bé mới sinh đến cho bà mẹ. Bà mở mắt ra nh́n con. Ngay tức th́, hằng chuỗi những biến cố xảy ra. Ánh đèn vàng phản chiếu từ thân thể tinh tuyền của em bé thấm nhập vào con mắt của bà mẹ. Từ em bé có 10,000 tỷ hạt lượng tử ánh sáng (photons) phóng qua không gian với vận tốc 300,000 cây số trong 1 giây đổ xô vào con ngươi của mắt bà mẹ. Trước hết chúng đi ngang qua một lăng kính h́nh quả trám, trong suốt, gọi là nhăn cầu. Rồi chúng tới một cái vách trong cùng của con mắt gọi là vơng mạc.

Tại vơng mạc có khoảng 30 triệu phân tử chất đạm đang nằm im ngủ. Khi ánh sáng lùa tới, những chất đạm này choàng thức dậy. Chúng tách rời nhau ra để tung lên hơn 100 triệu tế bào h́nh que và h́nh nón. Chúng là những tế bào cảm ứng với màu sắc. Chúng vươn ḿnh nhảy múa tưng bừng lên cao xuống thấp trong một nhịp điệu thần tiên để sao chép lại h́nh ảnh của em bé. Khuôn mặt và màu sắc của em bé không giản dị. Nó có chỗ lồi lơm và với những màu sắc khác nhau. Chẳng hạn đôi mắt đen lay láy, cái mũi nhỏ nổi bật trong bóng tối, và cái má bầu bĩnh đo đỏ. Những tế bào h́nh que chỉ có một loại sắc tố. Chúng cảm ứng với những ánh sáng mờ tối và màu sắc lạt. Những tế bào h́nh nón chia làm 3 nhóm với 3 khả năng khác nhau. Một nhóm cảm ứng vời màu xanh đậm, một nhóm cảm ứng với màu gồm từ vàng tới xanh lá cây, và một nhóm cảm ứng với màu gồm từ cam qua đỏ. Mỗi sắc tố là một tập hợp của 20 nguyên tử carbon, 28 nguyên tử hydrogen, và 1 nguyên tử oxygen. Các nhóm sắc tố phối hợp với nhau bằng những bước luân vũ kỳ diệu để phản ảnh đúng màu sắc và h́nh dáng của em bé. Đến đây h́nh ảnh em bé đă hiện rơ trên vơng mạc. Thời gian tính từ ánh mắt khởi đầu đến lúc này chỉ có 1/1000 giây.

Tuy nhiên bà mẹ vẫn chưa “nh́n” thấy đứa con của bà, bởi v́ h́nh ảnh này chưa kịp chuyển lên năo bộ. Những ánh sáng léo lên trên vơng mạc châm lửa vào đầu các nơron thần kinh. Các phân tử bao quanh sợi dây nơron bị kích thích, lập tức chúng đổi bản thể. Chúng tự phân hóa các ion muối để tạo ra một luồng điện tử truyền từ nơron này qua nơron khác. Trong khi di chuyển như vậy các nơron mang theo những dữ kiện của mắt trái và mắt phải tới năo bộ. Trước khi đến năo bộ các nơron thị giác của 2 mắt giao thoa nhau thành một điểm X. Tới đây chúng ta bị lạc vào mê lộ. Bởi v́ có hằng ngàn nơron chằng chịt gắn nối với nhau để chuyển tin đi tới và trở về với một vận tốc nhanh lạnh người. Kinh khủng hơn nữa, tại năo bộ con số những sợi nơron lên tới hằng tỷ cái với những hệ thống và chức vụ khác nhau. Sau khoảng 2/1000 giây, h́nh ảnh em bé được óc của bà mẹ nhận được. Bây giờ bà đă nh́n thấy đứa con của ḿnh trong h́nh ảnh nổi 3 chiều, đúng kích thước, và đúng màu sắc. Mỗi lần em bé ngó ngoắy các tế bào sắc tố lại nhảy múa để phản ảnh cái h́nh ảnh mới và diễn tŕnh như trên lại tái diễn.

Em bé quơ tay cất tiếng khóc “oa oa.” Âm thanh này tạo ra những làn sóng rung chuyển bầu không khí. Với khoảng cách 2 thước, âm thanh của tiếng khóc sẽ tới tai bà mẹ sau 1/150 giây. Trong lỗ tai của bà có một tấm màng che kín lỗ tai gọi là màng nhĩ. Tấm màng này rất thanh tao, mỏng chừng 1 millimét, và có dạng như cái mặt trống. Đàng sau màng nhĩ là một cái ống máng h́nh soắn ốc rất cầu kỳ gọi là ốc tai. Trong ốc tai có chứa một dung dịch. Khi có âm thanh dội vào màng nhĩ, màng rung lên như mặt trống bị đánh. Màng nhĩ sao chép nguyên vẹn hằng chục âm thanh khác nhau, kèm theo những hướng phát của chúng, cùng một lúc mà không bao giờ lẫn lộn. Trong pḥng bây giờ có tiếng khóc của em bé, tiếng cười của cô y tá, tiếng nói của thân nhân… tất cả tạo nên một bản ḥa tấu với những giai điệu rất phức tạp. Tất cả mọi âm thanh đều được màng nhĩ ghi nhận không sót một chút nào. Khi màng nhĩ rung động, nó làm rung chuyển dung dịch bên trong ốc tai. Dung dịch này sao chép nguyên vẹn và chuyển những rung động ấy lên óc. Óc hoán đổi rung động thành âm thanh nổi, nghĩa là âm thanh có hướng phát ra, có tiếng vang, và với những cường độ to nhỏ khác nhau.

Thế rồi có hai điều huyền bí xảy ra. Bà mẹ ôm lấy con và nói: “Chúa ôi! Con tôi đẹp quá!” Không biết điều ǵ đă làm cho khối óc biết cảm nghiệm cái đẹp. Cảm nghiệm chân-thiện-mỹ là một chứng nghiệm tinh thần, thuộc chiều sâu, chiều cao, và rất riêng tư. Cho đến nay, với tŕnh độ kỹ thuật cao, toàn thể các khoa học gia trên thế giới, vẫn chưa có ai hiểu được tại sao khối óc lại biết điều này. Ôm con trong ḷng, bà mẹ sung sướng và tâm hồn bà rạo rực t́nh mẫu tử. Tức th́ vùng năng lượng bao bọc thân thể bà nóng lên, các vật thể DNA rung lên cực kỳ nhiều đến 78 tỷ chu kỳ (gigahertz) trong 1 giây. Chúng tạo ra luồng năng lượng sống chạy khắp châu thân bà khiến một số tế bào “phấn khởi” được khai sinh. Những tế bào này là vật chất, nhưng điều lạ là chúng hoàn toàn do tinh thần phấn chấn của bà mẹ sáng tạo ra. Mặc dù không hiểu được, nhưng người ta không thể phủ nhận hay hoài nghi về quyền lực của tinh thần. Những tế bào “phấn khởi” đă chứng minh rằng đời sống tinh thần mới là đời sống thật. Quả vậy, năng lượng hân hoan của bà mẹ làm êm dịu cả căn pḥng.

Điều c̣n lại là nhân bản vị của hai mẹ con. Ngay khi tiếng khóc của em bé và tiếng khen của bà mẹ bật ra khỏi miệng, “cái tôi” của họ bỗng hiện diện. Cái tôi, tức cá nhân, là một vật thể trong vũ trụ. Nó vừa là một khối vật chất nên bị chi phối theo luật của không gian và thời gian. Nhưng cùng lúc cái tôi lại là một bản thể tinh thần có ư thức. Khi cái tôi hiện hữu, nó không bao giờ đứng một ḿnh là một vật thể đơn thuần. Nó luôn luôn gắn liền với một nhận thức về một kinh nghiệm nào đó. Người ta chỉ có thể nói: tôi vui, tôi buồn, tôi đói, tôi khóc, tôi cười… Khi không có sự cảm nhận đi kèm, cái tôi không hiện diện. Như vậy cái tôi luôn luôn gắn liền với cá thể độc đáo riêng tư của chính ḿnh. Khả năng tự thức này chỉ có ở con người. Bản chất này chỉ có thể có khi cái tôi có ư chí tự do. Nếu ta không được quyền có cảm nhận riêng tư, bấy giờ cái tôi thuần túy là một vật thể. Nó sẽ chỉ là một xác chết hay một cơ phận phi nhân của một guồng máy vận chuyển theo luật nhân quả.

Con người là thể vật chất siêu nhiên kỳ diệu. Là vật chất nhưng nó có Thiên Chúa là nền tảng của nó. Là siêu việt v́ nó có khả năng vượt khỏi vật chất để giăi bày vinh quang Thiên Chúa. Con người là một tuyệt tác phẩm và sự sống của con người là một tặng phẩm kỳ diệu của Thiên Chúa. Mỗi khoảnh khắc đều là dịp cho chúng ta mở mắt nh́n ra ơn quan pḥng của Thiên Chúa, không phải chỉ cho sự rỗi của linh hồn, nhưng c̣n trong từng giây phút của cuộc sống. “Tôi sẽ đi trong hiện diện của Thiên Chúa nơi miền đất nhân sinh.” (TV 116)       

 

 

 

HAI MƯƠI BỐN CÁI GHẾ LỚN (SEDILIA VIGINTI QUATUOR)

Pierre Charles SJ, Phạm Minh Thiện dịch

 

Các giáo sư thường ngồi và, để chỉ rơ điều ấy, khi người ta bổ nhiệm họ vào chức vụ của họ, người ta nói là sẽ giao cho họ một ghế (giảng đàn). Các học sinh cũng ngồi, cũng như các quan ṭa cũng ngồi, và cũng như các tín hữu Kitô giáo, khi họ nghe giảng. Không có ǵ tầm thường hơn là một cái ghế; và có lẽ nó cũng không có ǵ để gợi ư. Và đôi khi chỉ cần ngồi trong một thánh đường yên tỉnh để cơn buồn ngủ lén lút đến lúc nào ta không hay. Có lần tôi đă cầu nguyện, ngồi trên một cái ghế, nhưng tôi không bao giờ nghĩ lấy cái ghế làm đề tài cho việc cầu nguyện của tôi. Nó không có cái ǵ để nói với tôi. Nó có đó, với vẻ một chút đần độn của nó, cũng như tất cả những ǵ là rất khôn ngoan, mà lại im thin thít trong cái bất động ngoan ngoăn của nó.

Ghế pḥng khách hay ghế pḥng ăn, ghế bành pḥng thính nhạc hay ghế bành pḥng nha sĩ, tôi chẳng hề t́m thấy một cái ǵ đặc biệt trang trọng ở các thứ ấy. Và chỉ trong các tuồng kịch lớn người ta mới thấy các hoàng đế Rôma mời các đối tác của ḿnh ngồi xuống trước mặt họ, bằng những lời rất trịnh trọng như thể để bàn tính những chuyện có liên hệ đến thế quân b́nh của thế giới: “Cinna, xin mời ngồi xuống ghế ...!”

Nhưng lạy Chúa, nếu các chiếc ghế không có ǵ để kể cho con nghe, th́ tại sao Thánh Thần của Chúa lại khăng khăng nói liên lỉ cho con về những chiếc ghế như thế? Tai sao trong kinh Tin Kính, chúng con hát cách đắc thắng rằng Chúa ngự bên hữu Đức Chúa Cha? Tại sao sách Khải Huyền chỉ cho chúng con thấy cả thiên quốc rộng mênh mông với một chiếc ghế ở giữa, và có một vị ngồi trên ấy: Et ecce sedes posita erat in caelo, et super sedem sedens? Tại sao có các thánh vịnh này với ghế bành thật lớn của Chúa được chuẩn bị từ bao nhiêu thế kỷ: parata sedes tua? Tại sao Chúa đă nói với các môn đệ rằng Chúa sẽ sắp xếp để dành cho các ông một ghế trong nước Chúa : sedebitis et vos, sedebitis super mensam meam; và tại sao Chúa đă tuyên bố với hai con của ông Dêbêđê là chỉ Chúa Cha trên trời mới chỉ cho ai ngồi bên hữu và bên phải của Người...? Phải chăng con không phải vừa rất ngu ngốc lại c̣n hơi có óc ngoại giáo, mà không thấy một cái ǵ đáng sùng kính trong một chiếc ghế, nhưng lại hết ḷng tôn kính “Ngai của Thánh Phêrô”? V́ người ta đă thay thế một chữ cái, và làm điều đó chỉ trong một ngôn ngữ, vậy th́ Ngai của Thánh Phêrô có ǵ là khác với một ghế thường? Ngai ấy được giữ lại như là một vật thánh ở trong cùng Vương Cung Thánh đường Vatican, và khi đức giáo hoàng tuyên bố như là vị chủ chăn vô ngộ, chúng con nói ngài tuyên bố ex cathedra, nghĩa là ngồi trên một ngai. Và cơ mật viện chỉ là một hội nghị gồm những người ngồi, như từ điển tầm nguyên định nghĩa cho chúng con nghe; và trong sách lễ, thứ bảy sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, một đáp ca ngắn dễ thương dạy chúng con biết là, khi năm mươi ngày đă măn ‘cum complerentur dies Pentecostes’ điều ǵ đă xảy ra? Là họ đều ngồi chung với nhau: erant omnes pariter sedentes.

Khi Chúa loan báo trong Nhà hội tại Nadarét là lời tiên tri Isaia đă thành tựu và Chúa đă đến thế gian để chữa lành mọi vết thương, th́ Chúa đă bắt đầu ngồi xuống; như lúc Chúa ngồi trên thuyền để giảng dạy dân tại Galilê đang tập trung gần bờ nước: sedens docdbat de navicula turbas; như ông Mátthêu đang ngồi tại bàn thu thuế nhỏ và ơn Chúa đă kêu gọi ông để trở nên một tông đồ của Chúa; và như ông Philatô đă ngồi tai Nền Đá, mà tiếng Hípri goị là Gabbatha để kết án Chúa.

Một chiếc ghế tầm thường phải nhắc cho con nhớ lại tất cả những kỷ niệm ấy liên quan đến Chúa, ít nhất cùng rơ ràng như một thanh kiếm nhắc nhớ lại chiến trận, và ng̣i bút nhắc đến người văn sĩ. Chúa là Ngôi Lời sáng tạo muôn loài, Chúa từ ngai vương quốc đă xuống đến với chúng con, và Chúa đă ngồi giữa dân Chúa tại trần gian, như một người giữa họ. Chiếc ghế trong pḥng con cũng có thể nhắc cho con nhớ đến những điều kỳ diệu khôn tả này, và nếu con có dư đức khiêm nhường để lắng nghe những bài học dịu dàng này.

Chiếc ghế cũng sẽ nói với con về những bệnh nhân và những người già nua; nói đến tất cả những ai đang nằm bất động trên những ghế dài, hằng giờ, chỉ bị lay động bởi cơn ho khan của họ, mà chiến đấu chống lại những sự hủy hoại vô h́nh đang tàn phá buồng phổi của họ, hoặc là những người đang băng bột và chờ cho xương lành lại.

Chiếc ghế khiêm tốn cũng nói với con về tất cả những anh chị em của con đang ngồi tại bàn làm việc, trong các trường học, trong các văn pḥng, trong các ngân hàng, trong các thư viện, ngay cả trong các xưởng, cần cù làm việc để đảm bảo của ăn hằng ngày cho họ.

Chiếc ghế cũng nói cho con nghe về những tổ tiên, về những ông nội ông ngoại. về tất cả những người già cả đang ngủ gà ngủ gật, trong một góc pḥng đóng kín, sống những ngày cuối đời của các cụ mà ngồi vào trũng các ghế bành lớn.

Chiếc ghế cũng nói cho con về tất cả những ai không có một miếng đất để ngồi và nằm nghỉ, và đối với những người ấy, một chiếc ghế là một vật dùng, thuộc loại xa xỉ.

Không có điều ǵ trong những cảnh này là do tưởng tượng cả. Con không bị say v́ những suy nghĩ làm khuynh đảo này; con không lạc lối vào những suy niệm thần bí làm ngây ngất; con không thêu dệt những lư thuyết mới mẻ; nhưng ở b́nh diện thực tế, cùng với Thiên Chúa làm người như con, con đă nghe tiếng gọi của ḷng bác ái đang dâng lên từ những vật rất đơn giản tầm thường.

Nhận lấy hay mời một cái ghế, ngồi một ḿnh hay ngồi chung với bạn bè, đó không phải là những hành động lịch thiệp, hoặc là những thái độ nghỉ ngơi. Tinh thần đức tin phải cho chúng con thấy, dưới dáng vẻ bề ngoài và thông thường, ư nghĩa và giá trị kitô giáo của những cử chỉ khiêm hạ ấy, và cũng cho thấy cách thế nào mà những cử chỉ ấy làm chúng con nên giống Đấng đă đến sống giữa chúng con, mà con không thấy.

Lạy Chúa, xin thanh tẩy tâm trí con. Ngày xưa, trong hoang địa, Chúa đă làm nước vọt ra từ những tảng đá khô cằn cho dân Chúa đang khát, và họ đă uống, cũng như các gia súc và đàn chiên cừu của họ đă uống. Chiếc ghế tầm thường trong pḥng con, và ghế trong thánh đường, và ghế trong pḥng đợi hay trong pḥng khách, ghế trong các cuộc thăm viếng và trong các bữa ăn, chúng không thể nào trở nên một nguồn cảm hứng kín đáo cho ḷng bác ái, và như là một vật thường xuyên nhắc nhở đến biến cố Nhập Thể của Chúa sao? Và thực sự một chiếc ghế có buộc phải trở nên một ngai vua, để con mới nhớ đến sự vinh hiển của Chúa chăng?

La Prière de toutes les choses . Từ Mọi Sự Vật

           

CẬU BÉ DƯỚI BÓNG CÂY

 

Sưu tầm

Trong mùa hè giữa năm thứ nhất và năm thứ hai đại học, tôi được mời vào làm phụ trách một trại hè cho học sinh trung học thuộc một trường đại học ở Michigan. Tôi đă từng tham gia rất nhiều hoạt động của trại nên tôi nhận lời ngay lập tức.

Một giờ sau khi tôi bắt đầu ngày đầu tiên ở trại hè, giữa một đám ồn ào hỗn loạn các anh phụ trách và học sinh, tôi nhận ra một cậu bé ở dưới bóng cây. Cậu rất nhỏ bé và gầy guộc. Rơ ràng việc cậu đang mất tự nhiên và xấu hổ rụt rè càng làm cho cậu trở nên yếu đuối, mỏng manh. Chỉ 50 bước gần đó, 200 trại viên đang hăm hở rượt đuổi, chơi đùa, và gặp gỡ lẫn nhau như đă thân nhau từ lâu lắm chứ không phải chỉ mới quen. Nhưng cậu bé dưới bóng cây dường như đang ở một thế giới khác. Vẻ cô đơn đến tột độ của cậu đă làm tôi khựng lại, nhưng nhớ lại lời những anh chị phụ trách lớn tuổi hơn rằng phải chú ư đến các trại viên có vẻ tách biệt ra, thế là tôi bước đến.

Đến gần cậu bé, tôi nói "Chào em, anh tên là Kevin. Anh là một trong các phụ trách ở đây. Anh rất vui được gặp em. Em khỏe không vậy?" Với một giọng nói run run bẽn lẽn, cậu bé cố sức trả lời, "Dạ em b́nh thường." Tôi nhẹ nhàng hỏi cậu rằng cậu muốn tham gia những sinh hoạt và gặp các bạn bè mới không. Cậu trả lời nhỏ "Dạ không, em không thích lắm."

Tôi có thể cảm nhận được rằng cậu đang ở trong một thế giới hoàn toàn riêng tư. Trại hè quá mới, quá xa lạ đối với cậu. Nhưng bằng cách nào đó, tôi cũng biết rằng cũng không nên ép cậu bé. Cậu không cần một lời cổ vũ, cậu cần một người bạn. Sau một lúc lâu im lặng, câu chuyện của chúng tôi chấm dứt.

Sau bữa trưa ngày thứ hai, tôi hét bể cuống họng để điều khiển cả trại hát. Tất cả trại đều tham gia hăm hở. Ánh mắt t́nh cờ xuyên qua đám đông ồn ào lộn xộn và thấy h́nh ảnh cậu bé đó đang ngồi một ḿnh, nh́n ra ngoài cửa sổ. Tôi suưt nữa đă quên mất lời bài hát đang phải hướng dẫn. Khi lại có cơ hội gặp cậu bé, tôi cố thử một lần nữa, với những câu nói hệt như trước "Em có khỏe không? Em có sao không?" Và cậu bé lại trả lời "Dạ vâng, em khỏe. Em chỉ chưa quen thôi." Khi tôi rời nơi cậu bé ngồi, tôi hiểu rằng để cậu bé ḥa đồng phải tốn nhiều thời gian và công sức hơn tôi tưởng – dù tôi không biết rằng tôi và cậu bé có thể cởi mở được với nhau hay không nữa.

Vào buổi tối hôm đó khi họp với những người phụ trách của trại, tôi kể ra những điều lo lắng của ḿnh về cậu bé. Tôi giải thích cho các bạn phụ trách ấn tượng của tôi về cậu bé, yêu cầu họ chú ư và dành thêm thời gian cho cậu nếu có dịp.

Những ngày ở trại trôi qua nhanh hơn tôi tưởng. Thật là tiếc, nhưng rồi đêm cuối cùng ở trại cũng đến và tôi đang theo dơi "bữa tiệc chia tay." Các học sinh đang tận hưởng những giây phút cuối cùng của ḿnh với các "bạn tốt nhất" của họ - những người bạn mà có thể họ sẽ chẳng bao giờ gặp lại.

Ngắm nh́n các trại viên cùng nhau chia sẻ những giây phút cuối bên nhau, tôi bất ngờ thấy được một h́nh ảnh mà sẽ lưu măi trong cuộc đời tôi. Cậu bé mà từng ngồi một ḿnh dưới gốc cây đó đang làm một điều kỳ diệu. Cậu đang chia xẻ cùng hai cô bé khác những món quà lưu niệm. Tôi nh́n cậu đang có nhưng giây phút thân mật đầy ư nghĩa với những người mà cậu chưa bao giờ gặp chỉ mấy ngày trước đó. Tôi không thể tin nổi đó chính là cậu bé dưới bóng cây.

Vào một đêm tháng 10 năm đó, tiếng chuông điện thoại kéo tôi ra khỏi cuốn sách hóa học. Giọng một người lạ, rất nhẹ nhàng và lịch sự hỏi tôi "Dạ có phải là anh Kevin không ạ?"

"Dạ chính là tôi, xin lỗi ai đầu giây đó ạ?" "Tôi là mẹ của Tom Johnson. Cậu có nhớ Tommy từ trại hè không?" Cậu bé dưới bóng cây! Làm sao tôi có thể quên được? "Dạ cháu nhớ rồi," tôi nói. "Cậu bé rất dễ thương. Bây giờ cậu bé ra sao?"

Lặng đi một hồi lâu, sau đó bà Johnson nói,”Tuần này trên đường từ trường về, Tommy của tôi đă bị một chiếc xe đâm phải… Tommy đă không c̣n nữa rồi.”

Bàng hoàng, tôi chia buồn cùng bà mẹ.

"Tôi muốn gọi cho cậu," bà ta nói, "bởi v́ Tommy nhắc đến cậu nhiều lần. Tôi muốn cậu biết rằng nó đă trở lại trường mùa thu rồi như một con người mới. Nó đă có nhiều bạn mới. Kết quả học tập lên cao. Và nó c̣n ḥ hẹn với bạn gái vài lần nữa. Tôi chỉ muốn cám ơn cậu đă làm cho Tom thay đổi như vậy. Những tháng cuối cùng là khoảng thời gian đẹp nhất của cuộc đời nó."

Vào lúc đó tôi đă nghiệm ra: hăy dành sự quan tâm, đồng cảm, sẻ chia với mọi người quanh bạn. Bạn sẽ không thể ngờ được mỗi cử chỉ ần cần, chân thành của bạn có thể sẽ có ư nghĩa với người khác đến như thế nào đâu. Tôi kể lại chuyện này mỗi lần có dịp, và khi tôi kể xong, tôi thôi thúc người khác nh́n ra bên ngoài và t́m cho ḿnh một "cậu bé dưới bóng cây."