ĐỌC KINH VÀ CẦU NGUYỆNĐỗ Trân DuyNhận Xét Trên Thực Tế Về Đọc Kinh Đa số chúng ta tin rằng đọc kinh tức là cầu nguyện. Điều này chỉ đúng khi ta ư thức ḿnh đang cầu nguyện chứ không phải đang “đọc lời” kinh. Tuy vậy ư thức ḿnh đang cầu nguyện đ̣i hỏi một tŕnh độ, nó không đơn giản chút nào. Tôi xin phép quan sát một số dạng đọc kinh tiêu biểu. Có lẽ đa số chúng ta không quen giữ tâm an trú trong tĩnh lặng. Chúng ta cần kinh nguyện lấp đầy khoảng trống để khỏi suy nghĩ. Trong nhà thờ, trước thánh lễ, cả cộng đoàn chia bè đọc kinh. Hầu như mọi người chỉ để ư đến lối đọc ngân nga c̣n nội dung của kinh không phải là chủ điểm. Trong kinh có câu “Lạy Chúa tôi, tôi sấp ḿnh trước mặt Chúa tôi” nhưng mọi người vẫn đứng hoặc ngồi. Lại có câu “Để nước mắt thống hối làm của ăn đêm ngày cho con..” lời kinh thật thắm thiết, nhưng có vẻ không phải như vậy. Nhiều lần mọi người đang lần chuỗi th́ bị một ông “chức sắc” át giọng để đọc “lịch trong tuần”. Vài bà vớt vát đọc hết kinh Kính Mừng dở dang, âm thanh lịm dần rồi cũng im. Có khi cộng đoàn đọc hết kinh mà “cụ” vẫn chưa “ra”, mọi người chuyển qua đọc sách bổn. Chẳng hạn “Đạo Đức Chúa Trời có 10 điều răn. Thứ nhất…” hay “Hội Thánh có 6 điều răn. Thứ nhất…” Đối với cá nhân tôi cũng vậy, bà nội tôi vừa quét sân vừa đọc kinh. Khi có con gà chạy ngang qua, cụ ngừng chổi quát đôi câu rồi lại đọc tiếp. Mỗi lần ăn cơm, ông nội tôi đọc kinh “Lạy Cha”. Cụ đọc một ḿnh lầm rầm trong miệng, đến mấy chữ cuối th́ cụ la to “…cho khỏi sự dữ”. Cả nhà chỉ chờ thế là đồng loạt hô lên: “Amen”. Với tính chuộng đọc kinh, chúng ta t́m ra đủ loại kinh để thích ứng cho mọi hoàn cảnh, chả cần mất công t́m lời cầu nguyện. Tinh thần đọc kinh là cầu nguyện c̣n thể hiện trong sự giáo dục. Chúng ta ưa khuyến khích con em học thuộc kinh hơn là hướng dẫn chúng cầu nguyện. Nhiều kinh chúng chẳng hiểu, chúng tụng kinh như cách trả bài học thuộc ḷng, một phản xạ của trí nhớ. Một nhà tâm lư học cho biết trong một “ca” bệnh lư của ông có một chú bé. Cậu này không thể đọc kinh “Lạy Cha” v́ mỗi lần đọc chữ “cha” là cậu nghĩ đến người cha bạo hành của ḿnh. Không ngờ tâm lư trẻ thơ lại có sự khủng hoảng sai lạc đến vậy. Điều đó chưa bao giờ được người lớn thẩm xét một cách nghiêm chỉnh. Nhiều bậc “bề trên” nghiêm chỉnh dùng kinh nguyện làm phương cách cải huấn tâm hồn. Khi một kẻ “bề dưới” phạm lỗi, bậc bề trên bắt sám hối bằng cách đọc một chuỗi kinh. Đôi khi c̣n phải qú gối mà lần chuỗi. Vô t́nh kinh nguyện trở thành một khổ h́nh. Công Giáo chúng ta có truyền thống sau khi xưng tội “phải” đọc một số kinh, gọi là “việc đền tội”. Ư niệm này ít hay nhiều đă tạo ra tâm trạng đọc kinh là một án phạt. Tâm lư chung không ai thích bị phạt nặng, cho nên chúng ta thích gặp cha “dễ”, để khỏi “bị” đọc kinh nhiều. Nếu không ư thức tội được tha không phải do việc trao đổi một số kinh mà có, chúng ta đă hiểu sai ơn tha tội. Nền tảng kinh nguyện dựa vào cảm xúc lo lắng hơn là tôn thờ Thiên Chúa. Chúng ta có khuynh hướng cầu với các thánh, nhiều hơn với Thiên Chúa, để xin phúc lợi . Những sinh hoạt thu hút hằng chục ngàn người là những cuộc hành hương Đức Mẹ, đại hội Thánh Mẫu, và viếng linh địa của các thánh. Kinh cầu các thánh Martin, Vinh Sơn, Jude, cha Trương Bửu Diệp được truyền đi khắp nơi qua mục rao rặt trên báo chí và trên “Nét”. Thông thường bản kinh có ghi thêm câu. “Ai đọc kinh này 9 lần mỗi ngày, 9 ngày liên tiếp sẽ được toại nguyện.” Có khi lại kèm theo lời hù dọa “Ai không truyền cho người khác đọc sẽ gặp tai nạn.” Người ta có thể hiểu rằng Kitô hữu chạy tới Đức Mẹ, tới các thánh v́ ai cũng có nhu cầu muốn tránh khỏi tai họa. Xin đừng có mặc cảm khi cầu nguyện cho nhu cầu này. Nhưng nếu chỉ v́ vậy mà cầu nguyện, tôi e rằng, vô t́nh chúng ta lại đi chứng minh cho tư tưởng của những tay tổ chống Chúa như Freud và Jung. Freud cho rằng tôn giáo chỉ mang đến sự sợ hăi trong tâm trí con người. Jung nhận định v́ đời sống khổ đau nên tôn giáo mới có cớ phát sinh. Đó lại là những điều mà Giáo Hội phủ nhận. Hăy Nâng Đọc Kinh Lên Tầng Cầu Nguyện Kinh là những bài soạn sẵn giúp ta nói ra những lời đúng với giáo lư của đạo, v́ vậy kinh nguyện có giá trị rất lớn. Một số kinh đặc biệt c̣n đem lại ơn ân xá cho người tụng. Tuy nhiên nếu không ư thức “đang cầu nguyện”, ta ngưng đọng ở tầng đọc lời, kinh trở nên một chuỗi âm thanh vô hồn. Một kinh nếu được lập đi lập lại nhiều lần hằng ngày có thể trở thành một bài “đọc lời” máy móc. Lời kinh thốt ra do phản xạ của trí nhớ. Miệng đọc trơn tru nhưng trí óc vẩn vơ ở nơi khác, ta thường gọi là t́nh trạng “lo ra”. Nếu không biết ḿnh đang nói ǵ, sao gọi là cầu nguyện. Không những kinh không chuyên chở được tâm nguyện mà c̣n vô ân phước. Cầu nguyện là một tên gọi khác của suy niệm trực tiếp. Khi đọc kinh, ta phải suy niệm trực tiếp vào điều ta đang nói. Suy niệm là một thành tố không thể thiếu trong khi đọc kinh. Ư thức này phản ảnh giáo huấn: “Con hăy thờ phương Thiên Chúa hết ḿnh, hết tâm hồn, hết trí khôn.” Đức Mẹ cũng khuyên, “Các con đừng chỉ đọc chuỗi Mân Côi, nhưng hăy cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi với cả trái tim.” Tiến sĩ Wayne W. Dyer nói, “Cầu nguyện là cuộc tiến hóa tâm linh. Lúc đó tâm linh ta nối kết với Thần Khí, nhờ đó Thần Khí cho ta một nguồn sống mới.” Khi có suy niệm, dù ta đọc những kinh soạn sẵn không hợp với cảnh, dù lời kinh nói “sấp ḿnh xuống” nhưng ta không thể sấp ḿnh, tất cả không thành vấn đề. Tâm linh thiêng liêng của ta đă thể hiện tất cả những việc đó. V́ vậy người bất toại nằm liệt giường, người tù biệt giam vẫn có thể dự thánh lễ và rước Ḿnh Thánh Chúa một cách thiêng liêng, dù không có ai viếng thăm. Bởi v́ mọi suy niệm đều hiện hữu thực sự trong thế giới tâm linh. Cũng có những trường hợp thiếu vắng yếu tố suy niệm trực tiếp. Chẳng hạn con cháu đọc kinh chung mỗi tối, hay vào thời giáo dân dự thánh lễ cử hành bằng tiếng Latinh. Lũ trẻ chả hiểu người lớn tụng cái ǵ và giáo dân cũng chả hiểu linh mục đọc cái ǵ. Không hẹn mà cả Tây lẫn Đông cùng gặp nhau trong vấn đề này. Pierre Teihart de Chardin, nhà nhân chủng học Pháp, và Phùng Hữu Lan, vị học giả Trung Hoa, đều cho rằng: bất cứ cách thế phụng vụ nào hợp với t́nh cảm của con người đều có giá trị tôn giáo chân thực. Có thể người cầu nguyện chưa thấu hiểu lời kinh, nhưng hành vi tôn kính làm trọn vẹn cho chính người cầu nguyện. Như vậy giá trị tôn vinh Thiên Chúa cũng nằm ở tấm ḷng biểu lộ sự tôn kính. Dầu vậy, ḷng tôn kính cũng chỉ trở thành cầu nguyện khi ta đồng hóa với ư thức đang cầu nguyện. Không Hề Có Phương Pháp Cầu Nguyện Chung Cho Mọi Người Chúng ta có khuynh hướng học cách cầu nguyện của một vị thánh nổi tiếng cho chắc ăn. Để giúp đại chúng biết cách cầu nguyện, một số vị có ḷng quảng bá những phương thức cầu nguyện của thánh Inhă, của thánh Bênêđitô… Gần đây nhiều vị khổ công t́m ra con đường linh đạo của các bậc chân phước. Những đóng góp đó rất hữu ích, nhưng vẫn có nhiều người cảm thấy chúng vô cảm với tâm hồn của ḿnh. Giáo sư Shannon tự thú, từ hồi c̣n là chủng sinh đến lúc thụ phong linh mục, ông không biết cầu nguyện. Ông đă theo học các khóa về giáo lư, tư tưởng các thánh, và tham cứu rất nhiều sách luận về cầu nguyện. Ông vẫn thấy tâm hồn trống rỗng khi cầu nguyện. Sau nhờ suy niệm câu nói của thánh Phaolô: “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải. Chính Chúa Thánh Thần đă cầu khẩn thay cho chúng ta bằng những lời tha thiết khôn tả.” (Rm 8:26-27), Shannon nghiệm ra ḿnh đă phí công bao lâu lo t́m phương pháp cầu nguyện. Bởi v́ không hề có phương pháp cầu nguyện nào hoàn toàn đúng cho ông. Sự thật mỗi thánh đều có lời nguyện riêng hợp với tâm trạng và ước vọng của họ. Chẳng hạn Đức Mẹ có kinh Ca Ngợi (Magnificat), thánh Phanxicô có kinh Ḥa B́nh. Chúng ta khó có được một tác phẩm tuyệt vời như thế, nhưng chúng ta cũng có thể tự soạn riêng một bản kinh hợp cho tâm ước của ḿnh. Cầu nguyện không là đặc ân dành riêng cho những vị thông thái biết lựa lời, có phương pháp, nhưng cho tất cả mọi người. Cầu nguyện là trạng thái tự mặc khải , tự chứng, tự thăng tiến của cá thể. V́ động năng chính là tự thức nên không bị hạn hẹp vào một kiến thức, một lối nh́n, một phương thức nào, dù đó là khuôn mẫu cao quí. Không thể có phương pháp cầu nguyện như một nguyên lư khoa học. Cầu nguyện tự chính nó là sự khôn ngoan hướng tới siêu việt (Dyer). Cầu nguyện không có gượng ép, không có h́nh thức ràng buộc, không có không khí tạo cảm xúc giả tạo. Cầu nguyện là sự nối kết rất riêng tư trong ư chí tự do giữa ta và Thiên Chúa của ḿnh. “Tôi biết Thiên Chúa hiện hữu, tôi tin vào Thiên Chúa, v́ vậy tôi cầu nguyện.” (Giáo Hoàng Gioan Phaolô II). Thật thế, điều quan trọng nhất của cầu nguyện là ư thức Thiên Chúa đang có mặt. Ngoài ra hăy để Chúa Thánh Thần chuyển lời cầu nguyện thay cho chúng ta. Đức Giêsu Đă Cầu Nguyện Như Thế Nào Dù có đào xới Phúc Âm để biết cách suy tư và cầu nguyện của Đức Giêsu, chúng ta cũng không thể lập lại y như Người. Tuy nhiên chúng ta có thể nh́n ra khung cảnh cầu nguyện của Người. Khi Tông Đồ Philíp xin Đức Giêsu cho biết Chúa Cha ở đâu, Người đáp: “Ngươi không biết Ta ở trong Cha và Cha ở trong ta hay sao?” (Ga 14:8-10). Như vậy khi Đức Giêsu cầu nguyện, Người không hướng tới một Đấng ở bên ngoài. Chúa Cha luôn luôn ở trong tâm hồn của Người, cũng như trong tâm hồn của từng người chúng ta. V́ vậy Đức Giêsu, cũng như chúng ta, chỉ cần lắng tâm là có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Tuy nhiên Đức Giêsu đă vào sa mạc để t́m một khung cảnh yên tĩnh để cầu nguyện. Người cũng đă vào đền thờ như về “nhà Cha” (Ga 2:16) để cầu nguyện. Suy từ nơi cầu nguyện ấy, chúng ta rút ra hai khung cảnh: cầu nguyện trong sa mạc và cầu nguyện trong đền thờ. Cầu nguyện trong sa mạc là cầu nguyện trong tĩnh lặng. Tĩnh lặng cả về khung cảnh lẫn tâm hồn. Đức Giêsu dậy rằng: “Khi cầu nguyện, hăy vào pḥng, đóng kín cửa lại mà cầu nguyện với Cha ngươi, là Đấng hiện diện ở nơi ẩn kín” (Mt 6:6). Cầu nguyện trong tĩnh lặng là phần rất quan trọng cho mọi tôn giáo. Tất cả các vị thánh đều phải trải qua kinh nghiệm đơn độc trong những h́nh thức khác nhau như nhập thất, cấm pḥng, tĩnh tâm…để chuyển hóa tâm linh. Đơn độc là giai đoạn cá nhân thoát khỏi mọi quyền lực cơi thế, khỏi mọi h́nh thức lễ nghi. Chân thân bộc lộ một cách mănh liệt đức giản dị, khiêm nhường, yêu thương, và ḷng quy thuận vào Thiên Chúa. Lối cầu nguyện này cần thiết cho mọi tâm linh Kitô hữu. Cầu nguyện trong tĩnh lặng cũng thường dẫn tới chiêm niệm và thiền định, tức lối cầu nguyện vượt ra khỏi phương tiện ngôn ngữ. (xin đọc Thinh Lặng: Cầu Nguyện Tập Trung, Maranatha số 51). Cầu nguyện trong đền thờ là cầu nguyện với cộng đồng. Đức Giêsu hứa rằng: “Nơi nào có hai hay ba người tụ lại v́ danh ta, th́ Ta ở giữa chúng.” (Mt 18:20). Ư tưởng cầu nguyện với cộng đồng được biểu lộ trong bản kinh đầu tiên của Kitô Giáo là kinh “Lạy Cha”. Trong kinh này chúng ta thấy 2 điểm nói về cộng đồng. Thứ nhất là ư tưởng vâng Ư Cha. Cầu nguyện là ư thức chúng ta thuộc về Đấng Cha chung. Đồng thời chúng ta hiểu rằng sống đạo là đời sống trong cộng đồng. Thứ hai là ư tưởng tha thứ cho nhau. Cầu nguyện không phải là cầu cho riêng ḿnh mà c̣n là cầu cho người khác. Một nghĩa cử nổi tiếng là lời cầu của Abraham với Thiên Chúa về số phận thành Sôđôm. Abraham mặc cả với Thiên Chúa về số lượng người tốt lành sống trong thành Sôđôm, để xin Thiên Chúa đừng phá hủy thành này. Cầu nguyện với người và cho người là phương cách Thiên Chúa mời gọi chúng ta chia sẻ sự sáng tạo và yêu thương với Người. Chúng ta cầu nguyện cho nhau v́ chúng ta cần đến nhau. “Chúng Ta” không phải chỉ là những Kitô hữu đang sống, nhưng gồm cả những người vô tôn giáo và những người đă qua đời. Như vậy những ai có khả năng cầu nguyện trong đơn độc vẫn cần cầu nguyện với cộng đồng. Trái lại những ai thích dựa vào trợ lực của cộng đồng, cũng cần phải dám đứng một ḿnh đơn độc với Thiên Chúa. Khi ta có thể tự đối diện Thiên Chúa để phơi bày tâm tư, ta đă biểu lộ vinh quang của Người. Hội Thánh Cầu Nguyện Như Thế Nào Chúng ta có thể học hỏi cách Giáo Hội cầu nguyện qua thánh lễ Misa. Giáo Hội nắm vững giáo lư dựa trên căn bản thần học: thờ phượng Thiên Chúa và tôn kính các thánh. Giáo Hội luôn luôn chỉ cầu nguyện với Thiên Chúa là nguồn duy nhất của mọi ơn, là chân lư tối thượng của mọi sự. Bao giờ lời cầu nguyện cũng dâng lên Chúa Cha, qua công nghiệp của Chúa Con, với sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nghĩa là Thiên Chúa có Ba Ngôi, nhưng chỉ có một Thiên Chúa. Đối với các thánh, Giáo Hội xác nhận họ là môn đồ của Đức Giêsu, họ “đứng về phía” loài người như “đấng trung gian” để cầu nguyện hỗ trợ cho loài người. V́ vậy kinh nguyện các thánh thường có câu tiêu chuẩn mẫu: “qua trung gian thánh… chúng con xin Chúa..”, hay: “v́ công nghiệp của Chúa Giêsu…” Giáo lư “các thánh là đấng trung gian” được biểu lộ rơ ràng trong kinh “Kính Mừng” qua câu: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi là kẻ có tội.” Đức Maria, dù là Mẹ Thiên Chúa, cao trọng vô cùng trên các thánh và thiên thần trên Thiên Đàng, nhưng vẫn không thể thay thế Thiên Chúa. Suy ra chúng ta nên xin các thánh phù hộ, nhưng không bao giờ được quên chính Thiên Chúa mới là Đấng ban ơn cho chúng ta. Giáo Hội muốn chúng ta hiểu: cầu nguyện là cách sống đạo. Kitô hữu cầu nguyện v́ đó là vinh danh Thiên Chúa. Cầu nguyện là nhận ra Thiên Chúa để Người biểu lộ t́nh thương trên mặt đất. Cầu nguyện cho những người vô tôn giáo. Cầu nguyện cho những người có tội. Cầu nguyện cho những người qua đời. Cầu nguyện cho những nhu cầu của đời sống. Trong bất cứ mục đích và h́nh thức nào, chúng ta hăy vượt khỏi tầng thức đọc kinh, để cầu nguyện được thể hiện trong ư thức hiến dâng và cảm tạ. Bằng cầu nguyện chúng ta đă nối kết với Thiên Chúa như cành nho gắn với cây nho để có sự sống. Từ đó cầu nguyện trong đơn độc trở thành hơi thở thầm kín của lẽ sống. Cầu nguyện với cộng đồng để chúng ta thấy nhau là anh chị em. Ai tin vào Thiên Chúa ắt sẽ phải cầu nguyện cho ḿnh, cho người, và cầu nguyện thay cho những người không tin có Thiên Chúa●
|