TẬP 5

 

 

KHÔNG QUÁ MUỘN ĐỂ NÊN THÁNH

 

Người Nhật Bản có kể một câu chuyện như sau:

Zenkai là một thanh niên con của một hiệp sĩ Samourai. anh được tuyển vào phục dịch cho một viên chức cấp cao trong triều đ́nh. Không mấy chốc, Zenkai đem ḷng say mê người vợ của chủ ḿnh. Anh lập mưu giết người chủ và đem người đàn bà trốn sang một vùng đất xa lạ.

 

Anh tưởng có thể ăn đời ở kiếp với người đàn bà. Nhưng không mấy chốc, người đàn bà đă để lộ nguyên h́nh của một con người ích kỷ, đê tiện. Zenkai đành bỏ người đàn bà và ra đi đến một vùng đất khác, ở đó anh sống qua ngày bằng nghề hành khất.

 

Trong cảnh bần cùng khốn khổ, Zenkai bắt đầu hồi tâm để nhớ lại những hành động tội lỗi của ḿnh. Anh quyết định làm một việc thiện để đền bù cho quá khứ nhơ nhớp của ḿnh.

 

anh đi về một vùng núi hiểm trở, nơi mà nhiều người đă bỏ ḿnh v́ khí hậu khắc nghiệt cũng như v́ công việc nặng nhọc. Zenkai đem hết sức lực của ḿnh để khai phá một con đường xuyên qua vùng núi ấy.

 

Ban ngày đi khất thực, ban đêm đào đường xuyên qua núi. Zenkai cặm cụi làm công việc ấy ṛng ră trong 30 năm trời.

 

Hai năm trước khi Zenkai hoàn thành công tŕnh của ḿnh, th́ người con của viên chức triều đ́nh mà anh đă sát hại trước kia bỗng t́m ra tung tích của anh. Người thanh niên thề sẽ giết Zenkai để trả thù cho cha ḿnh. biết ḿnh không thoát khỏi án phạt v́ tội ác của ḿnh đă gây ra mấy chục năm trước, Zenkai phụ phục dưới chân người thanh niên và van xin:

 

"Tôi sẵn sàng chịu chết. Nhưng cậu hăy cho phép tôi được hoàn thành công việc tôi đang làm dở. Khi mọi sự đă hoàn tất, cậu hăy giết tôi".

 

Người thanh niên ở lại để chờ cho đến ngày trả được mối thù cho cha. Nhưng trong khi chờ đợi, không biết làm ǵ, người thanh niên đành phải bắt tay vào việc đào đường với Zenkai mà vẫn nuôi chí báo thù cha.

 

Nhưng chỉ sau một năm cùng làm việc với kẻ đă giết cha ḿnh, người thanh niên cảm thấy mọi ư muốn báo thù đều tan biến trong anh. Thay vào đó, anh lại thấy dậy lên trong ḷng sự cảm phục và thương mến đối với sự nhẫn nhục, chịu đựng của Zenkai.

 

Con đường đă được hoàn thành trước dự định. Giờ đây dân chúng có thể qua lại vùng núi hiểm trở một cách dễ dàng.

 

Giữ đúng lời hứa, Zenkai đến phủ phục trước mặt người thanh niên để chấp nhận sự trừng phạt. Nhưng người thanh niên vừa đỡ Zenkai dậy vừa nói trong tiếng khóc:

 

"Làm sao tôi có thể chém đầu được thầy của tôi?".

 

Câu chuyện trên đây hẳn hàm chứa nhiều bài học. Ngạn ngữ Latinh thường nói: "Sai lầm, vấp ngă là chuyện thường t́nh của con người, nhưng ngoan cố trong sai lầm là bản chất của ma quỉ". Nét đẹp quí phái nhất nơi ḷng người đó là c̣n biết hồi tâm, c̣n biết nhận ra lỗi lầm và từ đó quyết tâm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Trong câu chuyện trên đây hẳn phải là h́nh ảnh của sự phục thiện mà Thiên Chúa vẫn luôn khơi dậy trong ḷng người.

 

Nhưng bài học đáng chú ư hơn trong câu chuyện trên đây có lẽ là: t́nh liên đới xoá tan được hận thù trong ḷng người. Người thanh niên đă khám phá ra giá trị ấy khi bắt tay làm việc với Zenkai, con người mà trước đó anh đă quyết tiêu diệt cho bằng được. Quả thực, t́nh liên đới, sự đồng lao cộng khổ, sự hiện diện bên nhau có sức tiêu diệt được hận thù trong ḷng người.

 

 

 

VUI VỚI NGƯỜI VUI, KHÓC VỚI KẺ KHÓC

  

Cha Pierre, người sáng lập phong trào Emmaus, chuyên giúp những người không nhà không cửa t́m được nơi cư ngụ và tự lực cành sinh từ việc chế biến những đồ phế thải, đă ôn lại một trong những kỷ niệm mà ngài cho là ư nghĩa nất trong cuộc đời như sau: Gia đ́nh tôi gồm có tất cả 8 anh chị em. Một ngày thứ Năm nọ, chúng tôi muốn tập trung lại với nhau để đi đến thăm một gia đ́nh bà con của chúng tôi. Nhưng cha mẹ tôi đă phạt tôi bằng cách bắt tôi phải ở nhà. Buổi chiều hôm đó, các anh em tôi trở về, ai cũng cười nói huyên thuyên v́ một ngày được chơi đùa thoả thích. Thái độ đó càng làm tôi bực tức thêm. Không kềm hăm được sự ghen tức, tôi đă nói với một người anh của tôi như sau: "Không có tôi th́ kể như cuộc chơi cũng không có ư nghĩa ǵ". Tôi trút hết cả giận dữ cũng như sự kiêu hănh của tôi và bỏ đi nơi khác.

 

Ba tôi đang đau liệt trong pḥng của ông. t́nh cờ nghè được lời phát biểu ngạo mạn của tôi, ông cho gọi tôi vào... Lúc đó tôi mới hiểu được sai trái của tôi cũng như nỗi khổ tâm của cha tôi. Nhưng cha tôi đă không la rầy tôi. Ông chỉ nhỏ nhẹ bảo tôi: "Con không biết rằng con vừa nói một lời lẽ xấu xa ư? Con nghĩ rằng chỉ có con là người quan trọng nhất sao? Tại sao con không bằng ḷng khi những người khác được sung sướng?".

 

Lúc đó tôi mới hiểu rằng ba tôi đau khổ trong thân xác đă đành, nhưng ông c̣n đau khổ gấp bội trong tinh thần v́ tính xấu của tôi.

 

Tôi không bao giờ quên được câu chuyện trên đây... Và có lẽ đây là câu chuyện đánh dấu cả cuộc đời c̣n lại của tôi.

 

Ba nguyên tắc cơ bản hướng dẫn đời sống của các cộng đoàn Dmmaus do cha Pierre sáng lập, trước hết đó là lao động. Các thành phần của cộng đồng Emmaus không chấp nhận bất cứ một sự dâng cúng nào. Tay làm hàm nhai, mỗi người trong cộng đồng đều ư thức về giá trị của việc làm và sự đóng góp của ḿnh.

 

Nguyên tắc thứ hai đó là đời sống cộng đoàn. Tất cả mọi tiền của kiếm được đều bỏ vào quỹ chung của cộng đoàn. Từ 30 năm nay, tất cả tiền của thu tích được đều được chi dùng cho đời sống của cộng đồng cũng như được gộ thí cho những người nghèo khổ túng thiếu hơn.

 

Nguyên tắc thứ ba là phục vụ. Đây là nguyên tắc tổng hợp mọi nguyên tắc khác của đời sống cộng đoàn. Phục vụ có nghĩa là sống cho người khác, lấy đau khổ của người khác làm chính đau khổ của ḿnh, lấy niềm vui của người khác làm chính niềm vui củ ḿnh.

 

Có lẽ nguyên tắc cơ bản mà cha Pierre đang áp dụng trong các cộng đoàn Emmaus của ngài chính là bài học mà ngài tiếp thu được từ thân phụ của ḿnh: "Con không bằng ḷng khi thấy những người khác được hạnh phúc ư?".

 

Nguyên tắc trên đây cũng là lời khuyên mà thánh Phaolô thường nhắn nhủ các tín hữu của ngài: "Vui với người vui, khóc với kẻ khóc".

 

Dù sống trong địa vị nào trong xă hội, dù sống dưới h́nh thức gia đ́nh nào, độc thân hay có đôi bạn, mọi người đều được mời gọi để sống chung với những người xung quanh.Nguyên tắc đơn sơ và cơ bản nhất trong cuộc sống chung vẫn là: "Lấy hạnh phúc của người khác làm hạnh phúc của chính ḿnh, lấy niềm đau của người khác làm nỗi khổ của chính ḿnh".

 

 

 

TIẾNG VỌNG RỪNG SÂU

 

 Có một cậu bé ngỗ nghịch thường bị mẹ khiển trách. Ngày nọ, giận mẹ nhưng không thể xúc phạm một cách trực tiếp, cậu chạy đến một thung lũng cạnh một khu rừng rậm. Cậu lấy hết sức ḿnh và thét lên: "tôi ghét người". Cậu ngạc nhiên vô cùng v́ từ khu rừng có tiếng vọng lại: "Tôi ghét người". Cậu hoảng hốt quay về với mẹ và khóc nức nở. Cậu không thể hiểu được từ trong rừng đă có người thù ghét cậu.

 

Người mẹ nắm tay đưa cậu trở lại khu rừng và bảo cậu hăy hét lên: "tôi yêu người". Lạ lùng thay, cậu vừa dứt tiếng th́ cũng có người nói vọng lại: "tôi yêu người". Lúc đó người mẹ mới giải thích cho cậu như sau:

 

"Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều ǵ, con sẽ nhận điều đó.Ai gieo gió th́ người đó sẽ gặt băo. Nếu con thù ghét ngươi, th́ người cũng sẽ thù ghét con. Nếu con yêu thươn người, th́ người cũng sẽ yêu thương con".

 

Hận thù lúc nào cũng kéo theo hận thù, bạo động lúc nào cũng sinh ra bạo động. Chỉ có t́nh yêu mới làm phát sinh t́nh yêu. Bạo động và hận thù không thể là phương thế để cải tạo xă hội. Chỉ có t́nh yêu đích thực mới cải đổi được ḷng người. Bạn hăy sống cao thượng. Bạn hăy lấy t́nh yêu để đáp trả lại hận thù. Tiếng vọng cao đẹp nhất của một nghĩa cử yêu thương lúc nào cũng là tiếng vọng của b́nh an tự trong đáy tâm hồn chúng ta.

 

 

 

BÀ VỢ CỦA SOCRATE

 

Nhà hiền triết Hy Lạp Socrate chẳng may có một người vợ khó tính như chằn tinh. Nhưng ông đă chịu đựng tất cả những dở chứng của bà một cách kỳ diệu... Một ngày nọ, ông đang đàm đạo với các môn sinh ngay trước cửa nhà, bà vợ bắt đầu dùng mọi lời lẽ thô tục để rủa sả ông. Nhưng ông vẫn một mực điềm nhiêm như không nghe biết ǵ. Bà vợ không cầm nổi cơn giận, đă múc một gáo nước tạt vào người ông. Nhà hiền triết cũng không để lộ một phản ứng. Măi một lúc sau, ông mới bỗng đùa với đám môn sinh: "Sau cơn sấm sét th́ lại có mưa giông".

 

Thánh Basiliô khuyên dạy như sau: "Đừng ăn miếng trả miếng". Kẻ chiến thằng trong một cuộc chiến phi lư là người bất nhạnh nhất, bởi v́ người đó sẽ mang theo tất cả phần lỗi... hăy để cho kẻ thù ta là thầy dạy ta. Đừng bắt chước điều ta ghét bỏ. Đừng trở nên gương soi cho một kẻ đang giận dữ bằng cách phản chiếu chính khuôn mặt giận dữ của người đó.

 

 

 

CÁI DŨNG CỦA THÁNH NHÂN

 

 Thánh Clêmentê Hofbauer, nổi tiếng là một người nóng tính.

Ngài được cử làm bề trên của một cô nhi viện. Một hôm trong nhà không c̣n lương thực, Clêmentê đă phải đích thân đi xin ăn. Ngài vào nhà một người giàu có đang tổ chức một ṣng bạc. Người chủ nhà vừa gặp cơn đen lại vừa bị người hành khất quấy rầy. Ông không kèm nổi cơn bực bội nên đă nhổ tung nước bọt vào mặt thánh nhân. B́nh thường có lẽ Clêmentê đă có phản ứng mạnh. Nhưng vốn luyện tập sự nhẫn nại, nên ngài đă đứng lên lau mặt rồi vui vẻ nói với người đă phỉ nhổ ḿnh: "Đó là quà ông dành cho tôi, xin cám ơn ông. Thế c̣n quà của các trẻ mồ côi đâu?". Bị đánh động bởi cử chỉ điềm nhiên và vui vẻ của thánh nhân, người chủ nhà đành phải lấy tiền trao cho ngài để giúp đỡ các em mồ côi.

 

Cái dũng của thánh nhân chính là biết dùng sự thinh lặng, nhẫn nhục để biến cải tâm hồn con người. Cổ nhân thường nói: "Một câu nhịn bằng chín câu lành". Không có sức mạnh nào có thể thắng nổi sự bất bạo động. Bởi v́, khí giới dù có tối tân và có sức đe doạ đến đâu cũng không thể thuyết phục được tâm hồn con người. Chỉ có ḷng tha thứ mới có thể bẻ găy được thứ vũ khí ác hại nhất là hận thù.

 

 

 

BẢO CHỨNG CỦA TRƯỜNG SINH BẤT TỬ

 

 Công chúa Touwan bên Trung Quốc từ trần vào khoảng năm 104 trước Công nguyên, nhưng được những người sinh sống đồng thời tin tưởng là bà sẽ trường sinh bất tử v́ bà được an táng trong một quan tài bằng ngọc thạch. Chồng bà nhắm mắt ĺa đời 9 năm trước đó cũng được an táng trong một quan tài tương tự.

 

Đôi vợ chồng được an nghỉ trong hai ngôi mộ xây cất trong vùng đồi núi hoang vu. Măi đến năm 1969 người ta mới khám phá ra và cả thế giới ngạc nhiên trước sự giàu sang của thời đại ấy được biểu lộ qua 2.800 của lễ được dâng tặng lúc cử hành lễ an táng, nhưng đặc biệt nhát la hai cái quan tài, mỗi cái gồm tất cả hai ngàn mảnh ngọc thạch nhỏ được kết chung lại bằng những sợi chỉ bằng vàng.

 

Những người sinh sống vào thời đại ấy quan niệm rằng: vàng và ngọc thạch không bị thời gian làm hư hại v́ thế chúng ta bảo chứng cho sự trường sinh bất tử.

 

Trên ba ṿng bán nguyệt của khung cửa chánh ở nhà thờ chánh toà Milanô bên Italia có khắc ba ḍng chữ:

 

-Phía dưới h́nh một hoa hồng được chạm trổ tinh vi của một ṿng bán nguyệt, người ta đọc được hàng chữ: "Mọi hạnh phúc chỉ kéo dài trong khoảnh khắc".

 

- Bên ṿng bán nguyệt của khung cửa kia, dưới h́nh một cây thập giá có ghi hàng chữ: "Mọi đau khổ chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc".

 

- Ở ṿng nguyệt của khung cửa giữa dẫn vào ḷng chánh của vương cung thánh đường có khắc ḍng chữ: "Chỉ có sự đời đời mới là quan trọng".

 

Ở giữa một bên là quan niệm đi t́m thuốc tiên hay sử dụng quan tài bằng ngọc thạch để được trường sinh bất tử và bên kia là quan niệm cuộc đời con người chấm dứt bằng cái chết, những người Kitô hữu xây dựng cuộc sống vĩnh cửu bằng những giây phút hiện tại và tin tưởng rằng cái chết là ngưỡng cửa dẫn vào cuộc sống đời đời v́ chính cuộc sống này mới thật sự quan trọng.

 

V́ thế họ chọn thái độ "sống gởi thác về". Họ thu nhặt những giá trị quí như vàng ngọc bằng cách sống tốt, sống thật những giây phút hiện tại, bằng cách áp dụng "hai đạo luật vàng: Mến Chúa yêu người", v́ họ biết rằng chỉ có những ǵ được làm v́ t́nh yêu mới có giá trị vĩnh cửu.

 

V́ thế họ quan niệm đời sống là một cuộc hành tŕnh, phải luôn cất bước ra đi: nước mắt, nụ cười chỉ có giá trị tương đối, để mỗi ngày họ bắt đầu lại, mỗi ngày họ cất một bước chân mới đi về nhà Cha.

 

Năm phụng vụ đă gần kết thúc. Giáo Hội mời gọi chúng ta tiếp tục sống, nhưng với chú tâm sống tốt, sống thật từng phút giây hiện tại v́ chúng là những hạt cát, những viên gạch xây dựng cho cuộc sống mai sau.

 

 

 

 MANG NẶNG ĐẺ ĐAU

 

Trong tờ thông tin liên lạc của một giáo xứ no, người ta đọc thấy ở trang b́a của số ra tháng 12 như sau: Mùa Vọng là mùa của thai nghén.

 

Có lẽ chỉ có những người đàn bà đă hơn một lần kinh qua thười kỳ thai nghén và sinh nở mới có thể giúp chúng ta hiểu được thế nào là 9 tháng 10 mang nặng đẻ đau... Trong 9 tháng 10 ngày, ngoài những nôn mửa không ngừng, người đàn bà mang thai thường phải trải qua nhiều tâm trạng khác nhau của vui buồn lẫn lộn...

 

Vui v́ sự sống và niềm hy vọng đang lớn dần trong tâm hồn và thể xác của ḿnh, người đàn bà mang thai cũng lo sợ v́ những bất ngờ không lường trước được. Những đột biến trong người cũng khiến cho người đàn bà mang thai cảm nhận được sự mỏng ḍn, yếu đuối của con người. Tất cả mọi cử động, chế độ dinh dưỡng đều được cân nhắc cẩn thận để không phương hại đến bào thai... Có nên tiếp tục đi nhanh như trước kia không? Có được hút một điếu thuốc như trước không? Có nên dùng cà phê không? Có nên dùng một chút bia rượu không? Có nên thức khuya không?... Tất cả đều được cân nhắc từng ly từng tí.

 

Bào thai càng lớn dần, niềm vui và nỗi lo lắng cũng thăng thêm... Và khi đến ngày nở nhuỵ khai hoa,như Chúa Giêsu đă nhận xét, niềm vui của người đàn bà khoả lấp được tất cả những chờ đợi trong khi mang thai và những đớn đau trong khi sinh con.

 

Sự chào đời của hài nhi không những mang lại niềm vui, nhưng cũng đảo lộn cuộc sống trong gia đ́nh. Đứa bé đă trở thành trung tâm của cuộc sống gia đ́nh. Giờ giấc thay đổi, nhịp sống cũng thay đổi. Và có lẽ cái nh́n cũng đổi mới với mọi người trong nhà.

 

Mùa Vọng là mùa của thai nghén... Do tiếng thưa xin vâng đáp trả của đức tin, chúng ta cũng cưu mang chính Chúa. Như người đàn bà có thể cảm nhận được sự tăng trưởng của bào thai, chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự hiện diện mỗi lúc một thêm thân mật và gần gũi của Chúa trong tâm hồn chúng ta.

 

Cũng như người đàn bà mang thai có thể nhận ra sự mỏng ḍn yếu đuối của ḿnh, với sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn, chúng ta cũng cảm nhận sâu sắc hơn những bất toàn, khiếm khuyết và tội lỗi của chúng ta. Ư thức ấy cang mời gôi chúng ta bước đi trong từng cố gắng vươn cao hơn. Cũng như người đàn bà mang thai cân nhắc từng đường đi nước bước, từng cách ăn mặc đi đứng, người cưu mang Chúa cũng tập trung tất cả suy tư, hành động, cư xử của ḿnh vào chính Chúa. Lẽ sống và động lực của người có niềm tin chính là Chúa...

 

Bào thai càng lớn lên th́ sự quên ḿnh của người mẹ càng gia tăng. Người cưu mang Chúa cũng thế. Thánh Gioan Tẩy Giả đă diễn tả đúng đ̣i hỏi ây khi Ngài nói về Chúa Giêsu: "Ngài phải lớn lên, c̣n tôi phải nhỏ lại...". Càng quên ḿnh,người tín hữu Kitô càng cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn. Đó là định luật của đời sống đức tin. Chính khi quên ḿnh, người Kitô cảm nhận được sự hiện diện của Chúa và càng gặp được chính ḿnh...

 

Mùa Vọng là mùa của thai nghén: chúng ta hăy chuẩn bị cho Chúa Giêsu một máng cỏ trong tâm hồn chúng ta. Cũng như người đàn bà quên ḿnh v́ không biết bao nhiêu chuẩn bị cho con, chúng ta cũng hăy hướng trọn cuộc sống của chúng ta về với Chúa Giêsu. hăy để cho Ngài lớn lên bằng những nhỏ lại của chúng ta: nhỏ lại trong tham vọng, nhỏ lại trong những ước muốn bất chánh, nhỏ lại trong những đố kỵ, ghen ghét ích kỷ, nhỏ lại trong muôn vàn những đốn hèn, nhỏ nhặt trong cuộc sống... Và rồi, với Chúa ngự trị trong ta, t́nh mến sẽ lớn măi trong trái tim.

 

 

 

M̉N MỎI ĐỢI TRÔNG

 

Ngày kia một hoàng đế nọ tập trung lại tất cả các nghệ sẽ trong mọi lănh thổ của đế quốc, để tổ chức một cuộc thi đua. Đề tài của cuộc thi đua là: mô tả dung mạo của hoàng đế...

 

Các nghệ sĩ Ấn Độ đến với đầy đủ dụng cụ và các thứ đá hoa cương quí giá. Các nghệ sĩ người Armêni mang đến một thứ đất sét mà chỉ có họ mới biết được giá trị của nó. Những người Ai Cập th́ mang đến đủ thứ dụng cụ và một khối cẩm thạch quí giá.

 

Sau cùng, người ta thấy xuất hiện một phái đoàn Hy Lạp. Mọi người đều ngạc nhiên, bởi v́ họ chỉ mang đến vỏn vẹn một gói thuốc đánh bóng...

 

Người ta giam các nghệ sĩ vào trong các khu nội cấm trong cung điện. Khi thời hạn ấn định đă đến, hoàng đế cho trưng bày tất cả các tác phâm của các nghệ sĩ. Ông trầm trồ ca ngợi bức chân dung của chính ḿnh do các hoạ sĩ Ấn độ vẽ. Sang đến các pho tượng của người Ai Cập và các mô h́nh của người Armêni, ông càng tỏ ra thán phục hơn.

 

sau cùng, khi đến gian hàng của người Hy Lạp, ông chỉ thấy vỏn vẹn bức tường bằng cẩm thạch của pḥng khách, nhưng mặt tường được đánh bóng đến độ khi nh́n vào ông thấy nguyên khuôn mặt của ḿnh hiện ra từng nét...

 

Và dĩ nhiên, phái đoàn đă đoạt giải chính là những người Hy Lạp, bởi v́ họ đă hiểu rằng chỉ có hoàng đế mới hoạ được chính khuôn mặt của ḿnh.

 

Hoạ lại khuôn mặt của Đức Kitô: đó là mục đích của Giáo Hội. Và nói như danh hoạ kiêm điêu khắc gia Michelangelo: "Để tạc một bức tượng, điều quan trọng chính là những ǵ phải được gọt bỏ".

 

Muốn hoạ lại khuôn mặt của Đức Kitô, Giáo Hội phải đánh bóng bức tường khuôn mặt của ḿnh bằng cách gọt bỏ, đục đẽo tất cả những ǵ c̣n sần sù, thừa thải...

 

Mùa vọng là mùa của mong đợi... Hai chữ mong đợi trong ngôn ngữ Việt Nam thường được đi kèm với hai chữ khác: ṃn mơi. Mong đợi nào cung làm cho con người phải ra ṃn mỏi. Nhưng chính sự hoa ṃn đó càng làm cho giây phút gặp nhau thêm đậm đà, thắm thiết hơn.

 

Mùa Vọng là trường dạy chúng ta mong đợi. Đức Kitô đến với chúng ta ua từng biến cố, từng phút giây trong cuộc sống. ngài chỉ được nhận diện, Ngài chỉ được hoạ lên nguyên h́nh nếu chúng ta chấp nhận đánh bóng bức tường thành rông rêu hoặc sần sủ của con người chúng ta. Càng ṃn mỏi, càng được gọt đẻo, chúng ta càng thấy được Đức Kitô và càng hoạ lại được Đức Kitô cho người khác...

 

Thật ra, không phải chúng ta là ngời hoạ lại khuôn mặt của Đức Kitô, mà chính Ngài đến với chúng ta với những đường nét mà chỉ có Ngài mới biết đích thực là của ngài. Bổn phận của người Kitô chính là chấp nhận cho Đức Kitô dùng con người của ḿnh để nh́n thấy khuôn mặt của Ngài. Phiến đá cẩm thạch của con người chúng ta càng bóng láng, gương mặt của Đức Kitô càng hiện rơ...

 

 

 

GIÁC NGỘ

 

"Lời lăi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích ǵ?..." Lời thách thức này của Tin Mừng đă khiến cho một vị giáo sư trẻ tuổi bỏ một tương lai đầy hứa hẹn, bỏ tất cả để chỉ c̣n đeo đuổi một mục đích duy nhất trong cuộc đời: sự sống đời đời của chính ḿnh và của người đồng loại.

 

Vị giáo sư trẻ tuổi đó chính là thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng của các xứ truyền giáo, mà hôm nay Giáo Hội kính nhớ... Chưa tṛn 25 tuổi, Phanxicô đă nổi tiếng như một giáo sư triết học tài ba tại đại phọc Paris. Giữa lúc danh vọng đang đến, Phanxicô Xaviê đă nhận được những lời thách thức trên đây từ người bạn thân là Inhaxiô Loyola.

 

Không c̣n chống cưỡng lại với Lời Chúa, Phanxicô Xaviê đă đên Montmartre để cùng với Inhaxiô sống đời khó nghèo, khiết tịnh và phục vụ tông đồ, theo những chỉ dẫn của Đức Thánh Cha.

 

Năm 1537, nghĩa là 3 năm sau khi đă tuyên khấn, Phanxicô lănh chức linh mục. Từ Italia, ngài sang Lisboa của Bồ Đào Nha để lên đường đi truyền giáo Ấn Độ. trong 10 năm ngắn ngủi, Phanxicô Xaviê đă rảo bước đi khắp nơi để đem Tin Mừng đến cho dân tộc Nhật Bản, Mă Lai và Ấn Độ. Cuộc sống của ngài là một chia sẻ cảm thông sâu xa với những ngời nghèo khổ nhất... Chưa đạt được giấc mơ đặt chân đến Trung Hoa và Việt Nam thánh nhân đă qua đời trong kiệt sức, tại một hải đảo cách Hồng Kông 100 cây số. Bị những người lái buôn Bồ Đào Nha bỏ rơi trên băi cát, thánh nhân đă qua đời trong sự trơ trụi nghèo nàn.

 

Danh vọng, tiền tài, ngày cả sức khoẻ... tất cả đều được đốt cháy để t́m được niềm vui đích thực cho tâm hồn và mang niềm vui đó đến với mọi người: đó là sứ điệp mà thánh Phanxicô Xaviê đă để lại cho tất cả chúng ta...

 

"Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột...". Có lẽ người ta thường dùng câu nói trên đây không những để nói lên tính cách tương đối của đau khổ, mà c̣n để nói lên ngay cả sự tương đối của hạnh phúc.

 

Sau những tháng năm ăn độn, ăn rau, những người nghèo có thể hớn hở reo vui khi được bữa cơm trắng với chút thịt cá. Sau những tháng năm tù đày, một người vừa mới được phóng thích se reo ḥ sung sướng hi được đi lại tự do khi được thở không khí trong lành...

 

Những người giàu có, ngày nào cũng yến tiệc linh đ́nh sẽ thèm khát đôi chút cá kho, mắm cà của người nghèo khổ... Những đứa trẻ giàu có ở đô thị có lẽ sẽ thèm khát những giây phút được cỡi trâu hay tắm ao của những chú bé nghèo ở nhà quê...

 

Tựu trung, vấn đề cơ bản nhất của con người vẫn là đi t́m hạnh phúc. Và cuối cùng, sau những miệt mài t́m kiếm, ai cũng nhận thấy rằng ḿnh sẽ không bao giờ đạt được hạnh phúc đích thực và trương cửu trên trần gian này. Kẻ đứng ở núi này sẽ luôn nh́n sang núi nọ...

 

Chúa Giêsu đă đề ra cho chúng ta một bí quyết của hạnh phúc: ai muốn cứu mạng sống ḿnh, sẽ mất và ai mất mạng sống ḿnh v́ Ta sẽ gặp lại... Chỉ có một niềm vui đích thực đó là sống trọn vẹn cho Chúa. Chỉ có một điều quan trọng nhất trong cuộc sống: đó là lắng nghe Lời Chúa và sống Lời Chúa.

 

 

 

BỨC ẢNH GIA Đ̀NH

 

Trong thời kỳ khai phá bên Mỹ Châu, có năm thanh niên Mỹ tới vùng Ohio t́m vàng. Đây là một vũng hoang vu nguy hiểm không thể lường trước được. Sau một thời gian sống giữa rừng thiêng nước độc, khi trở về nhà, bốn người trong đám đă trở nên cộc cằn dữ tợn. Chỉ có một người c̣n giữ được tinh thần minh mẫn như trước. người ta hỏi anh: làm thế nào để tránh được những lỗi lầm của những ngời kia, anh trả lời như sau:

 

"V́ một bức h́nh tôi đă mang theo. Không phải bức h́nh của một người bạn gái, nhưng là của chính gia đ́nh tôi... Buổi sàng trước khi tôi lên đường, chúng tôi đă ngồi ăn sáng chung với nhau. Mọi người đều nghẹn ngào v́ tôi là ngời thứ nhất ĺa xa gia đ́nh... Cha tôi nhắn nhủ đôi lời và cả gia đ́nh đều quỳ gối cầu nguyện cho tôi. Chính h́nh ảnh đó đă theo tôi trong suốt chuyến đi và đă nâng đỡ tôi".

 

Sống ở đời, ai cũng cần phải có một lư tưởng. Lư tưởng đó nuôi dưỡng và hướng dẫn chúng ta cũng như đem lại cho chúng ta sự kiên tŕ trong cuộc sống. Lư tưởng của bạn là ǵ? tiền tài, danh vọng hay lạc thú? Tất cả nhưng điều đó rồi cũng sẽ đưa chúng ta đến thất vọng, chán chường. Duy chỉ có ḿnh Chúa mới có thể lấp đầy nỗi trống vắng trong tâm hồn chúng ta và giúp chúng ta vượt được gao gian nguy trong cuộc sống... Bạn muốn lấp đầy tâm hồn bạn với hận thù, bạo động và cau có ư? hăy trục xuất Chúa ra khỏi tâm hồn bạn... Bạn muốn sược sự b́nh an đích thực và một tâm hồn minh mẫn thư thái ư? Hăy để cho Chúa chiếm ngự tâm tư bạn một cách trọn vẹn...

 

 

 

THIỆN NGUYỆN

 

Hôm nay là ngày quốc tế những người thiện nguyện, được Liên Hiệp Quốc thành lập năm 1985 và cử hành lần đầu tiên ngày 5/12/1986. Ngày quốc tế những người thiện nguyện vừa là một tưởng thưởng và biết ơn đối với không biết bao nhiêu người đang âm thầm phục vụ không công những người đồng loại của ḿnh, vừa là một lời mời gọi dấn thân phục vụ.

 

Hiện nay, trên khắp thế giới có khoảng 35 cơ quan thiện nguyện chiêu mộ và gởi người đi khắp nơi để phục vụ trong mọi lănh vực: từ một cán sự y tá phục vụ trong rừng già Phi Châu, đến các chuyên viên làm việc trong các dự án phát triển tại các nước thuộc thế giới đệ tam, từ một thanh niên thiếu nữ âm thầm làm việc tại các nước nghèo đến các chuyên viên tổ chức các cuộc lạc quyên: tất cả đều được thúc đẩy bởi một ư chí: đó là phục vụ người anh em.

 

Ngày quốc tế những người thiện nguyện cũng là một bài ca dành cho một nhân loại đă được một bước tiến dài trong sự trưởng thành. Bên cạnh những bước giật lùi v́ chiến tranh, v́ huỷ hoại lẫn nhau, nhân loại vẫn cố gắng tiến gước trong khát vọng và những nỗ lạc nhân đạo. Bước tiến ấy c̣n tiếp tục là nơi ở tinh thần thiên nguyện, ư chí phục vụ...

 

Ngày quốc tế thiện nguyện hôm nay không phải là phụ trương của những ngày quốc tế khác răi rác trong suốt năm như ngày hoà b́nh thế giới, ngày sức khoẻ, ngày thực phâm, ngày giới trẻ, ngày môi sinh, ngày nhi đồng, ngày phụ nữ vv... Ngày hôm nay là khẳng định của một ư niệm nền tảng cho tất dả mọi ngày quốc tế khác: ư niệm đó chính là tự nguyện phục vụ.

 

Ngày quốc tế những người thiện nguyện hôm nay không chỉ là ngày tưởng thưởng và biết ơn đối với những người thiện nguyện. ngày hôm nay là ngày của mỗi người chúng ta, bởi v́ chúng ta chỉ có thể sống trọn ơn gọi làm người khi chúng ta biết tự nguyện sống cho người khác.

 

Chúa Giêsu là mẫu mực của thiện nguyện... Là Thiên Chúa, Ngài đă đến trong thế gian để mặc lấy thân phận nghèo hèn của con người. Trở nên con người,Ngài đă không sống giữa chốn giàu sang phú quí, nhưng đên với những con người nghèo hèn nhất trong xă hội. Ngài đă phục vụ và hục vụ cho đên chết. ngài đă đến để làm cho bộ mặt thế giới này trở nên nhân bản hơn. Cùng với Người, hàng hàng lớp lớp những con người dấn thân phục vụ tha nhân đă tôi điểm cho bộ mặt thế giới được thêm tươi tốt hơn. Quả thực, một thế giới không có những người sống và chết cho tha nhân là một thế giới không có nhân tính... Chúng ta hăy tưởng tượng một thế giới không có những thánh Phanxicô Assisi, không có những Mahatma Gandhi, không có những Albert Schweizer, không có những Têrêxa Calcutta, không có những hội viên của hội Chữ Thập Đỏ... một thế giới như thế quả thực là một thế giới buồn thảm. Một thế giới không có những bàn tay đưa ra để chia sẻ, để san sẻ, để đỡ nâng, một thế giới không có những tấm ḷng tử tế: một thế giới như thế quả thực là một thế giới của chết chóc...

 

 

 

HAI CÁNH CỬA SỔ

 

Từ cánh cửa sổ nh́n vào thiên nhiên, người ta có thể có nhiều cái nh́n khác nhau về cuộc sống.

 

Trong một vở kịch của Samuel Beckett, một nhân vật đă kể lại như sau: "Tôi biết có một tên chán đời lúc nào cũng nghĩ rằng ngày tận thế đang đến. Tôi thường đến thăm hắn trong dưỡng trí viện. Tôi nắm tay hắn và d́u hắn đến bên cửa số. Tôi nói với hắn: "Nh́n ḱa, cả một cánh đồng bắp xanh tươi... Nh́n ḱa, những cánh bườm đang phất phới. C̣n ǵ đẹp bằng!". Nhưng hắn gỡ tay tôi ra và trở về góc pḥng. Mặt mày hắn hớt hăi tái mét. Tất cả những ǵ tôi vừa chỉ cho hắn chỉ là một đống tro tàn xám xịt".

 

Có một cánh cửa sổ khác từ đó người ta chỉ có thể nh́n thấy cảnh đẹp mà thôi. Đó là cánh cửa sổ nhỏ tại một nhà nguyện ở phiá Nam Ái Nhĩ Lan. Tất cả mọi cánh cửa sổ trong nhà nguyện này đều được làm bằng kính trên đó có vẽ Đức Kitô và các môn đệ của Ngài. Duy chỉ có một cánh cửa sổ là không có h́nh vẽ. Xuyên qua tấm kính trong suốt của cánh cửa sổ này, người ta có thể nh́n thấy một quang cảnh thật tươi mát, đó là một cái hồ nước trong xanh nằm giữa những ngọn đồi cỏ lúc nào cũng xanh tươi. Bên dưới cánh cửa sổ, người ta đọc được câu Kinh Thánh như sau: "Trời cao tường thuật vinh quang Chúa. Thanh không kể ra sự nghiệp của Ngài".

 

Câu chuyện của hai cánh cửa sổ trên đây gợi lên cho chúng ta vần thơ: hai người cùng nh́n xuyên qua chấn song cửa của nhà tù. Một người chỉ thấy có bùn nhơ, một người lại nh́n thấy các v́ sao.

 

Mùa Vọng là thời gian của hy vọng.

 

Chúng ta được mời gọi để đặt tất cả tin tưởng, phó thác nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người. Tiếp theo bao nhiêu vấpphạm và phản bội của con người, Thiên Chúa vẫn đeo đuổi chương tŕnh của Ngài. Người vẫn tiếp tục yêu thương con người. Nơi h́nh ảnh đă hơn một lần bị hoen ố v́ tội lỗi, Thiên Chúa vẫn nh́n thấy phản chiếu vẻ đẹp cao sang của chính Ngài. Xuyên qua cánh cửa sổ nhỏ của mỗi người, Thiên Chúa vẫn c̣n nh́n thấy cảnh đẹp của ḷng người.

 

Chúng ta cũng được mời gọi để tiếp tục tin tưởng nơi con người. Dù thấp hèn tội lỗi đến đâu, dù hung hăn độc ác đến đâu, mỗi một con người đều là h́nh ảnh cao vời của Thiên Chúa, mỗi một con người đều xứng đáng để tiếp tục được tin tưởng, được yêu thương.

 

Tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa, tin yêu nơi con người, chúng ta cũng được mời gọi để không thất vọng về chính bản thân. Đau khổ có chồng chất, tội lỗicó ngập tràn, mỗi người chúng ta vẫn là đối tượng của một t́nh yêu cá biệt... Thiên Chúa yêu thương tôi, Thiên Chúa đang thực hiện cho tôi những ǵ là thiện hảo nhất: đó phải là tư tưởng cơ bản hướng dẫn tất cả Mùa Vọng của chúng ta. Từ bên cánh cửa sổ của tâm hồn nh́n vào cuộc đời, chúng ta hăy nhận ra những v́ sao của hy vọng, những cánh đồng xanh tươi của lạc quan.

 

 

 

CHIẾC ÁO HẠNH PHÚC

 

Một vị vua kia có tất cả mọi sự để được hạnh phúc... Nhưng lúc nàonhà vua cũng cảm thấy đau khổ, bứt rứt lo lắng. Các vị lương y khắp nước được triệu tập, nhưng tất cả đều bó tay. Sau cùng có một vị lương y xin yết kiến. Sau khi đă xem xét bệnh t́nh, vị lương y tâu rằng: "Đức vua sẽ hoàn toàn hạnh phúc, nếu đức vua mặc được chiếc áo lót của người sung sướng nhất trần gian".

 

Thế là nhà vua ra lệnh cho t́m xem ai là người hạnh phúc nhất trên đời. Binh sĩ đă đi rảo khắp cả nước, nhưngkhông t́m được con người hạnh phúc đó. Trên đường quay về chịu tội, họ đă gặp một bác chăn chiên đang ca hát véo von, không một chút lo âu. Đám binh sĩ đă sấn lại tóm cổ người chăn chiên và lột áo. Nhưng vừa lột áo người chăn chiên, họ vô cùng sửng sốt v́ ông ta không có nổi một chiếc áo lót!

 

Người đời thường nói: "Có tiền mua tiên cũng được". Nhưng chắc chắn người ta không thể dùng tiền bạc để mua hạnh phúc, an vui cho tâm hồn ḿnh. Phúc thay những ai có tâm hồn nghèo khó. Chỉ khi nào tâm hồn cúng ta trống rỗng của cải. Thiên Chúa mơí có thể lấp đầy.

 

 

 

THIÊN CHÚA VẪN TIẾP TỤC YÊU THƯƠNG

 

Đời người, có lẽ ai cũng có một lần trải qua một biến cố lớn trong lịch sử thế giới hay dân tộc...

 

Một ít cụ già hiện c̣n sống sót có lẽ đă trải qua cuộc đại chiến thứ nhất. Nhiều người đă có thể chứng kiến những tàn phá khốc liệt của thời đệ nhị thế chiến, cộng với nạn đói kinh hoàng ở Bắc Việt Nam năm 1945. Và đa số trong chúng ta đă trực tiếp hay gián tiếp chứng kiến không biết bao nhiêu đổi thay, baonhiêu cuộc chiến trong nước cũng như tại các nước khác trong những năm gần đây... Thêm vào đó, c̣n có biết bao nhiêu thiên tai và tai nạn khủng khiếp đă xảy ra cho con người.

 

Chiến tranh và sự sa đoạ của con người có lẽ mang lại cho chúng ta cái cảm tưởng rằng sự dữ, tội ác đă lan tràn khắp cả mặt đất, thế giới ngày nay không c̣n biết đến Thiên Chúa nữa. Cùng với tất cả một đoàn người mà Đức cố Giáo Hoàng Gioan XXIII gọi là "các tiên tri chuyên loan báo thảm hoạ", có lẽ chúng ta chỉ nh́n vào thế giới bằng đôi mắt của bi quan, thất vọng, chúng ta chỉ nh́n thấy thảm hoạ, tang tóc... để rồi loan báo ngày tận cùng của thế giới như kề bên.

 

Thế giới có tội lỗi đó, thế giới có tang thương đó, thế giới có nhiều thảm hoạ đó, nhưng chúng ta đừng quên rằng chương tŕnh của Thiên Chúa đang được thực hiện dọc theo chiều dài của lịch sử nhân loại. Giữa haicực: một bên là sự sa ngă ở khởi đầu lịch sử và một bên là ngày tận cùng của thế giới, đă có cuộc nhập thể làm người của Con Thiên Chúa: Ngài đă làm người ngay giữa ḷng của một nhân loại tội lỗi của thời đại Ngài.

 

Thế giới của chúng ta đầy dẫy tội lỗi, Thiên Chúa vẫn yêu thương thế giới ấy. Thay v́ chỉ nh́n thấy hận thù, bạo động và sa đoạ dưới mọi h́nh thức, chúng ta hăy cố đọc được những dấu chỉ của thời đại để thây rằng Thiên Chúa vẫn luôn có mặt trong lịch sử con người. Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương con người.

 

Mừng lễ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, hôm nay Giáo Hội cũng muốn lặp lại với chúng ta chân lư ấy: Thiên Chúa đă yêu thương con người và không có ǵ Thiên Chúa không làm được.

 

Thiên Chúa đă tạo dựng Mẹ và ǵn giữ Mẹ khỏi mọi tỳ vết của tội lỗi. Mẹ là nền tảng của niềm hy vọng của chúng ta, Mẹlà b́nh minh của nhân loại mới, một nhân loại được Thiên Chúa cứu chuộc và ban cho sức mạnh để vươn lên không ngừng.

 

Chúng ta hăy chiêm ngắm Mẹ với tất cả niềm cậy trông và lạc quan ấy. Qua Mẹ, Thiên Chúa muốn tỏ bày t́nh yêu không hề lay chuyển của Ngài cho nhân loại và qua Mẹ, Ngài cũng muốn chúng ta bước đi trong vâng phục và yêu mến, cậy trông.

 

Thân phận yếu hèn của chúng ta được dệt bằng những vấp ngă và chỗi dậy không ngừng. Chúa ban cho chúng ta một người Mẹ không tỳ vết để chúng ta không ngừng ngước mắt nh́n lên. Chúa ban cho chúng ta một người mẹ luôn thưa xin vâng giữa muôn ngàn đớn đau thử thách, để chúng ta tiếp tục chỗi dậy sau những lần vấp ngă.

 

Chúng ta hăy nh́n lên Mẹ, Mẹ luôn có đó để giúpchúng ta khỏi vấp ngă và nếu chúng ta có vấp ngă, Mẹ sẽ đỡ chúng ta dậy và giúp chúng ta tiếp tục thưa xin vâng với Chúa để chúng ta bước đi theo Chúa Giêsu.

 

 

 

THẾ NÀO LÀ CẦU NGUYỆN

 

Một chàng thanh niên nọ khao khát sống đời tận hiến và cầu nguyện, đến nỗi anh đă xa lánh tất cả mọi người và mọi sự, để đến gơ cửa một đan viện nọ... anh được vị tu viện trưởng chấp nhận tức khắc.

 

Trong những ngày đầu, anh quan sát cách sống của các tu sĩ: Sau những giờ cầu nguyện lâudài, tất cả mọi người đều bắt tay vào công việc: người th́ cày cuốc, người th́ gặt hái, người th́ miệt mài trong công tác dịch thuật. Thấy thế, chàng thanh niên đâm ra thất vọng. Anhđến tŕnh bày ư nghĩ của ḿnh với đan viện phụ như sau: "Thưa cha bề trên, con cứ tưởng ở đây chúng ta chỉ có một sinh hoạt duy nhát đó là cầu nguyện. Đằng này, con lại thấy các thầy phải vất vả lo cho những nhu cầu vật chất quá nhiều". Vị tu viện trưởng mỉm cười gật đầu và nói với anh: "Có lẽ con có lư... Nếu con cảm thấy việc làm tay chân không cần thiết, th́ con cứ vào pḥng đóng cửa lại và tiếp tục cầu nguyện".

 

Nghe thế, chàng thanh niên hớn hở trở về pḥng đóng cửa lại và cầu nguyện. Chỉ sau vài giờ cầu nguyện, anh cảm thấymệt mỏi, bụng anh cũng cảm thấy cồn cào v́ đă đến giờ ăn trưa. Nhưng chờ măi mà vẫn không thấy ai đến gọi anh vào nhà cơm, người thanh niên mới đến hỏi vị đan viện phụ: "Thưa cha bề trên, h́nh như hôm nay các thầy không dùng bữa?". Cha bề trên mỉm cười đáp: "Các thầy đă ăn cả rồi". "Thế sao không ai đến gọi con đi ăncả?", người thanh niên hỏi. Cha bề trên mới trả lời: "Sáng nay con đă chẳng đến nói với cha là chúng ta chỉ có một sinh hoạt duy nhát là cầu nguyện đó sao? Cha nghĩ rằng các thầy khác lao động nhiều cho nên cần phải có ăn uống, ngủ nghỉ. C̣n con, con muốn sống như các thiên thần, nghĩa là không làm việc, không ăn uống mà chỉ biết suốt ngày cầu nguyện, cho nên cha đă dặn các thầy là đừng đến gọi con dùng bữa".

 

Nghe thế, người thanh niên chợt hiểu được thế nào là sống tận hiến, thế nào là cầu nguyện. Con người không chỉ cầu nguyện bằng những giây phút ưu biệt dành cho Chúa, mà c̣n bằng cả những sinh hoạt từngngày như làm việc, ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí... Cầu nguyện chính là t́m thấy thánh ư Chúa và Nước Ngài trong cuộc sống mỗi ngày.

 

Mùa Vọng là mùa tỉnh thức.

 

Chúng ta cảm thấy được thôi thúc để dành nhiều th́ giờ cho việc cầu nguyện hơn. Thánh Kinh nói: Thiên Chúa đă tạo dựng vũ trụ trong 6 ngày, ngày thứ 7, Ngài nghỉ ngơi: đó cũng là h́nh ảnh của đời người. Cuộc sống là một chuỗi làm việc xen lẫn với nghỉ ngơi. Có một th́ giờ cho tất cả mọi sự: có một th́ giờ để ngủ nghỉ... Có những giây phút ưu biệt trong ngày dành cho việc cầu nguyện, có những thời gian ưu biệt trong năm dành cho việc cầu nguyện. Thời gian ưu biệt ấy không có mục đích nào khác hơn là để giúp cho con người được tỉnh thức hơn, được sẵn sàng hơn, được tươi mát hơn để gặp gỡ Chúa trong từng phút giây của cuộc sống, trong mọi sinh hoạt hằng ngày.

 

Cuộc sống cần có tổ chức, cần có những ngăn kéo, nhưng những ngăn kéo ấy phải được thông thương với nhau. Ngăn kéo của sự cầu nguyện cần phải được liên kết với ngăn kéo của những sinh hoạt hằng ngày. Ngăn kéo của những sinh hoạt hằng ngày cũng cần phải được nối liền với ngăn kéo của sự cầu nguyện.

 

Tổ chức cuộc sống như thế tức là biến tất cả cuộc sống thành một lời cầu nguyện.Lời cầu nguyện triền miên ấy sẽ có những phách mạnh dành cho những giây phút thân mật truyện văn với Chúa, nhưng những phách mạnh ấy chỉđược làm nổi bật nhờ những âm thầm gặp gỡ Ngài trong từng sinh hoạt, trong từng biến cố của cuộc sống.

 

 

 

QUYỀN CON NGƯỜI

 

Ngày 10 tháng 12 năm 1948, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đă long trọng công bố bản tuyên ngôn quyền con người... Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cộng đồng thế giới đă đảm nhận trách nhiệm quảng bá và bênh vực quyền của con người nhưmột nghĩa vụ trường kỳ.

 

Khoản một và hai của bản tuyên ngôn nhân quyền đă khẳng định rằng tất cả mọi người sinh ra đều tự do và b́nh đẳng trong phẩm giá và quyền lợi, và mỗi một cá nhân, không phân biệt chủng tộ, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến,nguồn gốc dân tộc hayxă hội... đều được hưởng mọi quyền lợi và tự do, được công bố trong bản tuyên ngôn.

 

Trong 21 khoản đầu của tuyên ngôn, chúng ta có thể kể ra những quyền cơ bản sau đây: quyền được sống, được tự do và được đảm bảo an ninh cá nhân, quyền không bị bắt làm nô lệ,quyền không bị tra tấn hay chịu những h́nh phạt độc ác, vô nhân đạo hay chà đạp phẩm giá con người, quyền được b́nh đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách b́nh đẳng, quyền được nạiđến sự xét xử củanhững toà án quốc gia có thẩm quyền, quyền không bị bắt giữ, giam cầm hoặc đày ải trái phép, quyền không bị can thiệp độc đoán vào đời sống riêng tư, gia đ́nh, nhà ở, thư tín, quyến được đi lại,quyền được cư trú, quyền được một quốc tịch, quyền được kết hôn và lập gia đ́nh, quyền được sở hữu, quyền được tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo,tự do ngôn luận, tự do phát biểu, tự do hội họp.

 

Đó là một số những quyền và tự do cơ bản của con người.

 

Bản tuyên ngôn nhân quyền đă được công bố một thời gian ngắn sau đệ nthị thế chiến. Thảm kịch của chiến tranh đă cho nhân loại mỗi lúc một hiểu rằng hoà b́nh chỉ thực sự có khi con người biết tôn trọng những quyền lợi và tự do căn bản của con người. Người lại, nơi nàoquyền con người bị phủ nhận và chà đạp, th́ cho dẫu không có chiến tranh đẫm máu, người ta chỉ sống trong một thứ hoà b́nh giả tạo mà thôi.

 

Nh́nnhận và tôn trọng quyền con người là bổn phận hàng đầu của người Kitô chúng ta v́ chúng ta tin nhận rằng con người đă được tạo dựng giống h2nh ảnh của Thiên Chúa vàđược cứu rỗi bằng chính Máu của Đức Kitô. Đó là tất cả phẩm giá của con người.

 

Với ư thức ấy, người Kitô luôn được kêu mời để nhận ra h́nh ảnh vàsự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi người và mỗi người, nhất là những người kém may mắn, cùng khổ nhất.

 

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho kư giả Edward Desmond được đăng trong tạp chí Time số ra ngày 4 tháng 12 năm 1989, Mẹ Têrêxa Calcutta, người được giải thưởng Nobel Hoà B́nh năm 1979 v́ công tác phục vụ người nghèo tại Ấn Độ, đă xác quyết về nền tảng của công cuộc của Mẹ: đó là cái nh́n tôn trọng đối với người nghèo. Được hỏi: ơn cao trọng nhất mà Chúa đă ban cho Mẹ là ǵ? Vị sánglập ḍng Nữ tử thừa sai bác ái đă đáp gọn: "Đó là người nghèo". Bởi v́,theo Mẹ Têrêxa, với người nghèo Mẹ có dịp ở với Chúa Giêsu 24 giờ mỗi ngày. Mẹ nói: "Họ là Chúa Giêsu đối với tôi. Tôi tin tưởng ở điều đó c̣n hơn là làm những điều lớn lao cho họ".

 

Nh́n những người nghèo, những người cùng khổ, những người bị xă hội tước đoạt mọi quyền lợi và đẩy ra bên lề, như chính hiện thân của Chúa Giêsu: đó phải là cái nh́n và động lực của mọi hoạt động của người Kitô chúng ta. Tôn trọng nhân quyền, bênh vực nhân quyền là thế đó.

 

 

 

TIẾNG KHÓC CỦA SA MẠC

 

Một mẩu chuyện của người Phi Châu kể lại rằng: một người Ả Rập sống ở sa mạc có thói quen nằm sát xuống đất, úp tai trên cát từng giờ lâu. Có người hỏi tại sao làm thế, anh ta giải thích như sau: "Tôi nghe sa mạc khóc v́ nó rất muốn được làm một ngôi vườn xinh tươi".

 

Sa mạc mong mỏi được trở thành ngôi vườn, cũng thế tâm hồn con người luôn hướng về điều thiện. Khoảng cách giữa sa mạc và ngôi vườn xinh tươi đó là nước non, điều kiện thời tiết và nhất là công lao của con người. Không có sự chăm sóc của con người, sa mạc vẫn tiếp tục là băi cát khô cằn. Cơi ḷng con ngơừi cũng sẽ măi măi là một sa mạc cằn cỗi nếu nó không được vun xới và tưới bằng cố gắng, phấn đấu, hy sinh và t́nh yêu. Phải tốn biết bao là kiên nhẫn, biết bao chống đỡ, biết bao cương nghị, biết bao mồ hôi...để biến sa mạc của tâm hồn thành một khu vườn tươi tốt... Sa mạc tâm hồn của chúng ta sẽ khóc măi nếu chúng ta không ra tay cày xới và vun trồng mỗi ngày.

 

 

 

 THẾ GIỚI SẼ HẾT NGHÈO ĐÓI

 

Mẹ Têrêxa thành Calcutta, người được giải thưởng Nobel Hoà b́nh năm 1979 đă kể lại câu chuyện sau đây: ngày nọ, có một thiếu phụ và 8 đứa con dại đến gơ cửa xin gạo. Từ nhiều ngày qua, bà và các con của bà không có được một hạt cơm trong bao tử. Mẹ Têrêxa đă trao cho bà một túi gạo. Người đàn bà nhận gạo, cám ơn và chia ra làm hai phần... Ngạc nhiên về cử chỉ ấy, Mẹ Têrêxa hỏi bà tại sao lại phân ra làm hai. Người đàn bà nghèo khổ ấy trả lời: "Tôi dành lại một phần cho gia đ́nh người Hồi giáo bên cạnh nhà, v́ đă mấy ngày qua họ cũng không có ǵ để ăn".

 

Mẹ Têrêxa kết luận như sau: Thế giới này sẽ hết nghèo đói nếu người ta biết chia sẻ cho nhau. Càng giàu có, chúng ta càng muốn tích luỹ thêm, nhưng càng nghèo khổ, chúng ta càng dễ chia sẻ hơn.

 

Nghèo không là một điều xấu, giàu cũng không là một cáitội. Xấu hay không, tội hay không đó là ḷng tham lam và ích kỷ của con người mà thôi. Giá trị và danh dự của con người tuỳ thuộc ở ḷng quảng đại của ḿnh.

 

 

 

DANH HIỆU CỦA ÁNH SÁNG

 

Không những ở Việt Nam, nhưng trên toàn thế giới, nhiều thiếu nữ mang tên thánh bổn mạng Lucia, như nữ tu Lucia, một trong 3 trẻ đă được thấy Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.

 

Những người thiếu nữ mang tên Lucia này không khỏi thất vọng khi t́m hiểu về đời sống và sự nghiệp của thánh nhân. V́ những sách cũ đă viết tiểu sử của các thánh đă ghi lại nhiều câu chuyện về thánh Lucia, để rồi những tác giả viết về đời sống của các thánh nhân thời đại chúng ta lại phê b́nh những câu chuyện ấy không có tính cách lịch sử. Chúng ta chỉ có thể tóm lại những chứng tích lịch sử để viết về cuộc đời, nhất là cái chết v́ niềm tin của thánh Lucia như sau:

 

Một chàng thanh niên không công giáo thất vọng v́ không được Lucia đáp trả lại t́nh yêu của ḿnh đă tố cáo với nhà cầm quyền Lucia là người Công giáo. Và nàng đă bị xử tử vào năm 304 tại thành Syracuse vùng Sicilia, mạn Nam nước ư. Di tích lịch sử thứ hai tên Lucia được ghi trong danh sách những thánh tử đạo trong lời nguyện thánh lễ Roma, nay là lời nguyện Thánh Thể thứ nhất trong phụng vụ mới.

 

Những di tích bên lề cũng nên nói đến là nhiều địa danh, nhiều làng mạc, thành phố bên Âu châu mang tên nàng, cũng như có những bằng chứng lịch sử về sự tôn kính nàng từ trước thế kỷ thứ 5.

 

Chữ "Lucia" có nghĩa là ánh sáng. Và gương can đảm chết v́ ḷng tin của nàng vẫn tiếp tục chiếu sq1ng trong tâm hồn những người đang bị thử thách và đau khổ v́ ḷng tin, cũng như làm rạng rỡ những khuôn mặt của nhữngthiếu nữ mang tên thánh bổn mạng Lucia.

 

Muốn hiểu sự can đảm của thánh Lucia Giáo Hội mừng kính hôm nay với tước hiệu đồng trinh, tử đạo, chúng ta có thể tưởng tượng một thiếu nữ công giáo sống giữa những người không công giáo vào thời kỳ tôn giáo này bị bách hại. Để sống trọn niềm tin công giáo, nàng cũng gặp nhiều khó khăn như đại đa số những tín hữu Kitô trong thời đại chúng ta phải sống chung với những người vô thần, không tín ngưỡng.

 

Lạ lùng hơn là niềm tin của Lucia. Nàng tin vào một người sáng lập một tôn giáo với thân thế và sự nghiệp không mấy được rơ ràng ở một nước thuộc địa xa xôi với thủ đô Giêrusalem bị quân đội Rôma phá huỷ cách đó hơn 200 năm. Trước khi truyền đạo, ông này làm nghề thợ mộc và sau một thời giảng đạo ngắn ngủi, ông bị quân lính Roma đóng đinh vào thập tự, một h́nh phạt dành cho dân thuộc địa phạm những tội trọng sát nhân hay nổi loạn. Nay Lucia tin tưởng với tất cả tâm hồn là ông ấy đă phục sih, như một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đă chấp nhận những ǵ ông truyền dạy và đă làm. Để biểu lộ ḷng tin của ḿnh, Lucia đă thề hứa sẽ giữ sự trinh tiết, không lập gia đ́nh.

 

Lucia lập lời hứa đó v́ nàng biết đến gương anh dũng của những người chết v́ đạo trong các hí trường ở Roma hay những nơi khác và nhất là để giữ ḷng trung tín với ông Giêsu làng Nagiarét, đă bị chết treo trên thập giá, nhưng đối với niềm tin của nàng là Đấng cứu thế, Con một Thiên Chúa.

 

 

 

CÁNH TAY CỦA NGƯỜI GANH TỰ VÀ THAM LAM

 

Câu chuyện có tính cách dụ ngôn sau đây đă xảy ra vào thế kỷ thứ 16 tại Ấn Độ. Trong triều đ́nh có hai viên sĩ quan nổi tiếng v́ những đam mê của ḿnh. Một người th́ ganh tỵ, một người th́ tham lam.

 

Để chữa trị những tính xấu ấy, vua cho triệu hai viên sĩ quan vào giữa triều đ́nh. Vua loan báo sẽ tưởng thưởng hai viên sĩ quan v́ nưh4ng phục vụ của họ trong thời gian qua. Họ có thể xin ǵ được nấy, tuy nhiên, người mở miệng xin đầu tiên chỉ được những ǵ ḿnh muốn, c̣n người thứ hai sẽ được gấp đôi.

 

Cả hai viên sĩ quan đều đứng thinh lặng trước mặt mọi người. Người tham lam nghĩ trong ḷng: nếu tôi nói trước, tôi sẽ được ít hơn người kia. C̣n người ganh tỵ th́ lư luận: thà tôi không được ǵ c̣n hơn là mở miệng nói trước để tên kia được gấp đôi... Cứ thế, cả hai đều suy nghĩ trong ḷng và không ai muốn lên tiếng trước. Cuối cùng, vua mới quyết định yêu cầu người hay ganh tỵ nói trước. Người này lạitiếp tục suy nghĩ: thà không được ǵ c̣n hơn để tên tham lam kia được gấp đôi. Nghĩ như thế, hắn mới dơng dạc tuyên bố: "Tôi xin được chặt đứt một cánh tay...". hắn cảm thấy sung sướng với ư nghĩ là người tham lam sẽ bị chặt hai cánh tay.

 

Lắm khi chúng ta không hài ḷng về cái ḿnh có và chúng ta cũng không sung sướng khi người khác gặp nhiều may mắn hơn chúng ta. Không bằng ḷng về chính ḿnh,chúng ta không được hạnh phúc, mà bất măn về người khác, chúng ta lại càng đau khổ hơn.

 

 

 

XIN MỘT CHÚT ÁNH SÁNG

 

Triết gia Diogène nổi tiếng là người hạnh phúc nhất trên đời, thế nhưng cuộc sống của ông lại rất đơn sơ nghèo nàn. Ông sống trong một cái thùng, ngày ngày nằm đọc sách nhờ ánh sáng qua lỗ hỏng ở vách thùng. Cơ nghiêp của ông vỏn vẹn chỉ có một cái bát gỗ dùng để múc nước sông mà uống. Thế nhưng, một hôm ra sông để lấy nước, ông thấy có một em bé chăn cừu dùng hai tay để vục nước mà uống. Thế là ông ném cái bát đi và từ đó chỉ dùng tay mà uống nước.

 

Vua Hy Lạp nghe biết ông là người hạnh phúc nhất đời bèn t́m đến tận nơi để thăm. Thấy ông đang nằm đọc sách, nhà vua lại gần để hỏi xem ông có cần ǵ không. Diogène không trả lời. Nhà vua hỏi vặn lại nhiều lần, ông điềm tĩnh trả lời như sau: "Hạ thần muốn xin bệ hạ một điều và chỉ một điều mà thôi: xin bệ hạ hăy tránh ra để hạ thần có đủ ánh sáng mà đọc sách". Diogène đă đuổi khéo nhà vua v́ sợ bị sa vào tṛng danh lợi mà mất cái niềm vui thảnh thơi trong cuộc đời thanh bần đơn sơ.

 

Ai trong chúng ta cũng muốn giàu có. Thế nhưng giàu có không hẳn đem lại hạnh phúc thật sự cho chúng ta. Chỉ có những ai có tinh thần nghèo khó, chí có những ai không coi tiền của như cứu cánh của cuộc đời, những người đó mới thật sự có hạnh phúc.

 

 

 

HƠI ẤM CỦA T̀NH NGƯỜI

 

Một vị linh đạo Ấn giáo và các môn sinh ngồi quây quần bên một bếp lửa hồng. Sức nóng của than hồng và hơi nóng của từng người làm cho căn pḥng ấm hẳn ra... Nhưng bỗng chốc, vị linh đạo già run lập cập, môi ông bập bẹ không nói ra lời. Các môn sinh lo lắng cho sức khoẻ của thầy: "Thưa thầy, chắc thầy yếu trong người, chúng con xin phép được cho thêm củi vào ḷ sưởi".

 

Trong cơn thổn thức, vị linh đạo ǵ cố gắng nói tưng tiếng: "Lừa và sức nóng trong căn pḥng này quá đủ cho ta... Ta cảm thấy lạnh là bởi v́ bên ngoài có một người hành khất đang run lập cập".

 

quả thật, đúng như lời của vị thầy, các môn sinh đă mở cửa nh́n ra ngoài, và họ đă t́m thầy một người hành khất đang rét run v́ đói và lạnh... Họ đưa người đó vào trong căn pḥng, săn sóc cho anh và từ giây phút ấy, vị linh đạo già cũng trút bớt được nỗi rét run của ḿnh.

 

Câu chuyện được trích từ kho tàng khôn ngoan của người Ấn Độ trên đây có lẽ gợi lại cho chúng ta lời của thánh Giacôbê tông đồ: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết". Vị linh đạo già trên đây đă cảm thậy rét run là bởi v́ sự ấm áp mà thầy tṛ đang có với nhau ấy chưa được chia sẻ cho người khác. Ông chỉ cảm thấy thật sự ấm ḷng, khi hơi ấm của sự quây quần ấy được san sẻ cho người khác.

 

Vị linh đạo này là h́nh ảnh của đời sống đức tin của chúng ta. Dù có sốt sắng bao nhiêu trong việc cầu nguyện, trong các nghi thức phụng tự, nếu tâm hồn chúng ta không được nuôi dưỡng bằng ḷng mến đối với tha nhân, th́ hơi ấm của ḷng đạo đức nơi chúng ta chỉ là một thứ hơi ấm giả hiệu... Một đức tin nhiệt thành, một đức tin có hơi ấm thật sự cần phải được nuôi dưỡng bằng ḷng mến.

 

 

 

ĐÔI VAI CỦA NGƯỜI CHA

 

Tháng 11 năm 1958, ngay chính ngày đăng quang, khi nói chuyện với khách hành hương, Đức cố Giáo Hoàng Gioan XXIII đă kể lại một giai thoại trong cuộc đời ngài như sau:

 

"Khi tôi lên 6, 7, một hôm cha tôi đưa tôi đến một làng bên cạnh, nơi đang tổ chức một buổi lễ của Công Giáo Tiến Hành trong giáo phận. Phải đi bộ nhiều cây số tôi cảm thấy mệt mỏi. Cha tôi đă phải đặt tôi trên vai của nười. Đến nơi, tôi cảm thấy thất vọng, bởi v́ dân chúng quá đông, mà tôi th́ bé nhỏ. Mất hút trong chợ người, tôi không thể nh́n đoàn ngời đang diễn hành... Thế là một lần nữa, cha tôi lại bồng tôi trên vui của người. Từ trên cao. tôi có thể xem thấy tất cả mọi sự".

 

Và vị giáo hoàng được mệnh danh là "nhân lành" đă kết luận như sau: "70 năm đă qua, nhưng tôi vẫn c̣n ghi nhớ trong tâm trí tôi cử chỉ của cha tôi. Nó đă trở thành một biểu trưng kỳ diệu. Ngày nay, mỗi khi mệt mỏi, mỗi khi tôi không c̣n gấy ǵ nữa, tôi nài xin vị Cha trên trời nâng tôi lên trên đôi cánh của Người".

 

chỉ từ trên đỉnh cao, chúng ta mới có thể thấy rơ mọi sự. chín Chúa là đỉnh cao của chúng ta. Nơi Người, chúng ta được bổ sức. Nơi Người, chúng ta sẽ thấy được ư nghĩa của cuộc sống... Những lúc chán sống, những lúc hầu như không c̣n thấy ǵ nữa, chúng ta hăy chạy đến đ với Người.

 

 

 

CÁI NH̀N CỦA MỘT TƯỚNG LĂNH

 

Đại tướng Marbot, trong tập kư sự, có kể lại một hôm, khi c̣n là thiếu uư, vua Nă Phá Luân sai ông làm một việc cực kỳ nguy hiểm. Đó là giữa đêm khuya, luồn qua bọn lính tuần tiễu đối phương, bắt một người lính Áo đứng canh bên kia bờ sông Danube, tra khảo để xem t́nh thế của địch quân. Sau bao nhiêu cố gắng không thể tưởng tượng được, toán quân của thiếu uư vượt qua được khúc sông và bắt được ba người lính Áo. Sau khi đă hoàn thành công tác, họ đẩy thuyền ra xa, chèo về. Bỗng gióng nước cuốn mạnh đẩy một gốc cây lớn xô mạnh vào thuyền. tiếng động đó đă báo động bọn lính tuần tiễu Áo. Họ vùng lên bắn xối xả.

 

Trong cơn nguy biến cùng cực ấy, viên thiếu uư bỗng nh́n thấy một ánh lửa toả ra từ sườn núi chỗ đóng quân bên kia bờ. Viên thiếu uư đă hiểu rằng nă Phá Luân đă theo dơi cuộc xô xát và đang chăm chú nh́n từ cửa sổ của ông.

 

Đôi mắt phượng hoàng của Nă Phá Luân đă xé tan bóng tối để gởi đến cho những người lính trẻ sự cổ vơ khuyến khích. Viên thiếu uư có cảm tưởng như nhà vua đă quên hết cả một đạo binh để chỉ nh́n về phía anh. Sự chăm chú theo dơi của nhà vua đă đem lại cho những người lính trẻ sự phấn khởi để giúp họ vượt qua được khó khăn và trở về an toàn.

 

Một cái nh́n của một vị tướng lănh đă có sức nâng đỡ người lính chiến giữa trận địa như thế, cũng vậy, Chúa cũng đă chăm chú theo dơi và nh́n mỗi ngời chúng ta như thể chỉ có mỗi người chúng ta là đáng được chú ư. Thiên Chúa không chăm sóc chúng ta như chăm sóc một đàn cừu trong đó mỗi con vật chỉ là một con số. Thiên Chúa yêu thương chúng ta bằng một t́nh yêu biệt loại. Nười gọi tên tưng người trong chúng ta. Người đối xử với chúng ta như thể chỉ có ta là người duy nhất hiện hữu trên trần gian này.

 

 

 

HỢP TÁC LÀ AN TOÀN

 

Ngày nay, khi đi trên nẻo đường ở nước thuỵ Sĩ, người ta nh́n thấy một tấm biển lớn, trên đó tŕnh bày hai chiếc xe hơi,một chiếc màu đỏ, một chiếc màu xanh. Cả hai xe đi cùng chiều, những ngời ngồi trong hai xe đang chào nhau, cười với nhau. Người lái xe xanh đang ra dấu cám ơn lại bằng cách giở mũ chào.

 

Ở phần dưới tấm biển có ghi một hàng chữ: "Hợp tác là an toàn". Điều này muốn nói lên rằng giúp đỡ lẫn nhau, đối xử với nhau như người cộng sự, băng t́nh bằng hữu là một đảm bảo cho một cuộc hành tŕnh không nguy hiểm.

 

Tinh thần hợp tác không những chỉ đảm bảo cho một cuộc sống b́nh yên trên các lộ tŕnh, mà cũng c̣n là một đảm bảo cho một cuộc sống b́nh yên ở mọi ví trí trong xă hội. Có tinh thần hợp tác là đặt kẻ khác vào chính vị trí của ḿnh, quan tâm tới họ như quan tâm tới chính ḿnh, kính trọng, yêu mến, giúp đỡ họ như kính trọng, yêu mến, giúp đỡ chính ḿnh vậy.

 

 

 

KHÔNG NHÀ KHÔNG CỬA

 

Hiện nay trên thế giới có khoảng một trăm triệu người không có nhà để ở. Riêng tại Chây Mỹ Latinh, có khoảng 20 triệu trẻ em đang gnủ đầu đường xó chợ. Nh́n chung, có một tỷ người trên thế giới không có được một nơi ở tươm tất.

 

Trên đây là kết quả của một cuộc điều tra dựa trên những con số do các Hội đồng Giám mục và các Giáo Hội Công Giáo địa phương cung cấp. Cuộc điều tra này do Uỷ ban công lư và hoà b́nh của toà thánh thực hiện và ấn hành thành một tập tài liệu vào dịp cuối năm quốc tế những người không nhà không cửa do Liên Hiệp Quóc khởi xướng năm 19988 vừa qua.

 

Theo tập tài liệu này th́ vấn đề nhà ở chắc chắn là một trong những vấn đề trầm trọng nhất của thế giới ngày nay. Tài liệu cho thấy những kẻ không nhà là những người nghèo nhất trong số những người nghèo và tố cáo những người chủ nhà chỉ v́ tính toán thủ lợi mà thà bỏ trống những căn nhà hơn là hạ giá để nâng đỡ những kẻ không nhà.

 

Chúa Giêsu đă chào đời như một con người không nhà không cửa.

 

Ngài đến là để cho con người được sống và sống một cách sung măn. Tiếng kêu khóc chào đời của Ngài giữa khung cảnh cùng cực của hang lừa máng có, là tiếng kêuthan của hàng triệu triệu trẻ emđang bị tước đoạt quyền sống, đang bị từ chối những điều kiện cơ bản nhất để được sống như con người.

 

Máng cỏ mà chúng ta đang chuẩn bị ở nhà thờ hay trong gia đ́nh phải là một nhắc nhở cho chúng ta về sự hiện diện và tiếng văn xin của không biết bao nhiêu người không nhà, không cửa xung quanh chúng ta. Hơn ai hết, người Việt Nam chúng ta đang nh́n thấy tận mắt thế nào là cảnh lang thang đầu đường xó chợ.

 

Chúng ta chuẩn bị một chỗ trú ngụ cho Hài Nhi Giêsu, chúng ta có nghĩ đến những người cùng khổ xung quanh chúng ta không?

 

Chúng ta có biết rằng khi chúng ta nhắm mắt làm ngơ trước đau khổ của người anh emchúng ta là chính lúc chúng ta cũng khước từ Chúa Giêsu không?

 

Chúng ta có biết rằng ngày Giáng Sinh của Chúa Giêsu cũng là ngày Giáng Sinh của những con người cùng khổ nhất không?

 

Chắc chắn Chúa Giêsu sẽ không bao giờ đến trong máng cỏ hào nhoáng của chúng ta, nếuchúng ta xua đuổi những người anh em khốn khổ xungquanh chúng ta.

 

 

 

RẠN NỨT TRONG TÂM HỒN

 

Một ông vua giàu có rất keo kiệt và hà khắc đối với thần dân. Thành ra, tất cả mọi người đều oán ghét ông.

 

Một hôm ông ra lệnh cho quan tể tướng tiến hành việc thu thuế hàng năm. Nhưng quan tể tướng cho biết: "Năm nay mùa màng hư hại, dân chúng đang chết đói, họ không thể nào nộp thuế được".

 

Nhưng nhà vua vẫn một mực cho tiến hành việc thu thuế và yêu cầu quan tể tướng dùng tất c3 tiền thuế để sửa sang cung điện và nội thành. Quan tể tướng đi một ṿng xung quanh cung điện, nơi nào cũng có sự rạn nứt, nhưng sự rạn nứt sâu xa hơn vẫn là sự bất măn và ta thán của người dân.

 

Thế là, năm đó, thay v́ tiến hành lệnh của vua, quan tể tướng đă cho người đikhắp nơi và loan báo như sau: "Nam nay, nhà vua miễn thuế cho tất cả mọi người". Nghe thế, ai cũng vui mừng vỡ lở. Khắp nơi, tuy đói kém, ai ai cũng làm tiệc ăn mừng.

 

Trở lại triều đ́nh, quan tể tướng báo cáo với nhà vua rằng với số tiền thu thế được, ông đă cho làm nhữngtu sửa cần thiết nhất.

 

Ngày hôm sau, quan tể tướng mời nhà vua và đoàn tuỳ tùng đi tham quan một ṿng xung quanh những nơi mà ông báo cáo đă được tu sửa. Vừa ra khỏi cung điện, nhà vua đă được dân chúng tung hô vạn tuế không dứt lời. Nh́n đámđông vui mừng phở lở, nhà vua mới quay sang quan tể tướng để hỏi lư do của ngày hội này. Quan tể tướng mới giảithích như sau: "Tâu bệ hạ, ngày lễ hôm nay được tổ chức là để đánh dấu nhữngtu sửa quan trọng trong cung điện. Tước khi tiến hành việc thu thuế, hạ thần đă đi tham quan một ṿng, hạ thần nhận thấy rằng những rạn nứt đáng kế nhất koh6ng phải là những rạn nứt trên tường thành của cung điện mà chính là trong ḷng ngườidân. Người dân không thể vui mừng được v́ từ bao lâu nay, họ không c̣n thấy được ḷng tốt nữa. Đó là lư do để khiến hạ thần tuyên bố miễm thuế cho họ trong năm nay".

 

Nghe thế, nhà vua mới sực tỉnh lại và nhận ra thái độ keo kiệt hà khắc của ông. Ông nh́n xuống đám đông dân chúng đang hân hoan vẫy chào ḷng ông cảm thấyxúc động. Lần đầu tiên, người ta thấy nụ cười vui tươi và yêu thương nở trên môi ông.

 

Người Việt Nam chúng ta có lẽ đă quá quen thuộc với hai chữ đổi mới. Năm kia qua tháng nọ, lúc nào người ta cũng hô hào "đổi mới" nhưng đâu vẫn vào đó: đói khổ vẫn c̣n đó, dốt nát vẫnc̣n đó, lạc hậu vẫn c̣n đó, tù đày khốn kh36 vẫn c̣n đó... Điều đó xem ra cũng dễ hiểu, người ta chỉ vá víu để hàn gắn nhữngrạn nứt bên ngoài, c̣n sự rạn nứt thâm sâu nhất là rạn nứt trong ḷng người, th́ người ta không bao giờ nghĩ tới.

 

"Đổi mới" là trọng tâm của sứ điệp Kitô giáo chúng ta. Khai mở sứ vụ công khai của Ngài, Chúa Giêsu đă kêu gọi: "Hăy hoán cải và tin vào Tin Mừng". Sự hoán cải mà Chúa Giêsu đề ra là hoán cải tâm hồn, hoán cải con tim, hoán cải tư duy, hoán cải cái nh́n.

 

Sự hoán cải ấy không là công việc của một ngày,một tháng, một năm, mà là công tŕnh của cả cuộc đời. Bao lâu c̣n mang lấy danh hiệu Kitô, th́ bấy lâu người tín hữu vẫn c̣n được mời gọi để hoán cải.

 

Sự hoán cải ấy cũng không chỉ là cố gắng riêng tư của người tín hữu mà là tác động của chính Chúa. Chính Ngài mới có thể tác tạo cho con người một trái tim mới, một quả tim biết yêu thương. Sự đổi mới mà người tínhữu Kitô không ngừng đeo đuổi trong cả cuộc sống của ḿnh chính là cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa những cố gắng riêng tư của ḿnh và sự tác tạo của Chúa.

 

 

 

MÙA CỦA GỞI THIỆP, TẶNG QUÀ

 

Người Anh thường nói: "Một quà tặng không có người tặng là một quà tặng trống rỗng trơ trụi". Giá trị của một quà tặng do đó, không tuỳ thuộc nhiều ở giá trị vật chất của nó, mà do chính tâmt́nh đi kèm của người tặng quà.

 

Ngày nay, cũng giống như ở bất cứ thời đại nào, cuộc gặp gỡ giữa các nhà lănh đạo quốc gia thường đi kèm với nghi thức trao tặng quà cho nhau. Trong cuộc họp thượng đỉnh ở ngoài khơi đảo quốc Malta cuối năm 1989, tổng thống Bush của Hoa Kỳ đă tặng cho chủ tịch Gorbachov của Liên Xô một viên gạch lấy từ bức tường ô nhục Bá Linh. Dù chỉ là một viên gạch, nhưng đây là là một món quà vô giá, bởi v́ tổng thống Bush đă muốn gói ghém trong đó tất cả thiện chí và ước muốn xây dựng hoà b́nh của ông, của nhân dân Hoa Kỳ, cũng như của tất cả những ai yêu chuộng hoà b́nh.

 

Trước đó vài ngày, chủ tịch Gorbachov cũng đă trao tặng và nhận quà trong cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha. Nhà lănh đạo của Liên Xô đă tặng cho Đức Thánh Cha một tập thánh vịnh in vào thế kỷ thứ 13 và 14, qua đó ông muốn khẳng định rằng những giá trị đạo đức và luân lư do tôn giáo đề ra là những nhân tố cần thiết cho việc xây dựng xă hội.

 

Đáp lại, Đức Thánh Cha đă tặng cho nhà lănh đạo Liên Xô một quyển Tân Ước có ghi hàng chữ: "Ta là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống".

 

Đó là tất cả những t́ mà Đức Gioan Phaolô II và qua ngài, toàn thể Giáo Hội có thê trao tặng cho một xă hội đă từ lâu muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.

 

Riêng với bà Raissa, phu nhân của chủ tích Gorbachov, Đức Thánh Cha đă tặng một cỗ tràng hạt. Ḷng yêu mến đối với Nữ Vương của hoà b́nh: đó là món quà cao quí nhất mà một vị Giáo Hoàng đă có thể tặng cho tất cả những aiđangmưu t́m hoà b́nh cho nhân loại.

 

Mùa Vọng là mùa của gởi thiệp và tặng quà Giáng Sinh.

 

chúng ta gởi thiệp chúc mừng đến những người thân thương quen thuộc đă đành, chúng ta cũnggởi đi những cánh thiệp xă giao đến những người chỉ một lần gặp gỡ, quen biết... Có một cánh thiệp nào, một quà tặng nào cho những người không quen biết, cho những người đầu ngơ cuối xóm mà chúng ta không hề muốn đưa mắt nh́n đến, cho nhữngngườ hành khất bên vệ đường, cho những kẻ không nhà không cửa, cho những đi đang rét run v́ giá lạnh, v́ cô đơn không?

 

Hăy nhiệt t́nh chào hỏi những người mà chúng ta ghét cay ghét đắng. Hăy làm hoà với những ai chúng ta vừa gây gổ. Hăy dọn một bữa ăn cho những người hành khất quen thuộc. Hăy thăm viếng một người bệnh đang chờ một lời anủi, đỡ nâng. Hăy san sẻ đôi chút với những người hàng xóm đang túng thiếu hơn ta.

 

Đó là những cánh thiệp, những món quà Giáng Sinh có giá trị nhất mà chúng ta có thể gởi đi ngay trong Mùa Vọng này, bởi v́ đó là phần cao đẹp nhất của chúng ta.

 

 

 

MỘT CĂN NHÀ TRẬT TỰ

 

Giá trị của một ngôi nhà chính là được con người cư ngụ. Một mái nhà tranh nhưng đầy ấp tiếng cười tiếng khóc của trẻ thơ vẫn đầm ấm hơn một dinh thự cỏ trống. Chúng ta có thể xác quyết rằng sự sinh sống, sự hiện diện,sự cư ngụ của con người trong căn nhà đă ǵn giữ và bảo tŕ nó khỏi hư nát. Nhưng một khi con người bỏ đi, cănnhà sẽ trở nên tồi tàn. Sức mạnh, vẻ đẹp, sự linh động, sự tồn tại của ngôi nhà chính là được cư ngụ.

 

Cũng giống như thế,đời sống của chúng ta phải là một ngôi nhà được cư trú, được chiếm ngự. Nhưng cư trú ở đây không có nghĩa là chất chứa những vật dụng lỉnh kỉnh. Sự đầm ấm của một ngôi nhà c̣n tuỳ thuộc ở sự sắpxếp, sự bài trí. Ngôi nhà càng lộn xộn, càng dơ bẩn, th́ càng chật chội, càng nóng nực.

 

Đời sống của chúng ta có thể là một căn nhà đầy ắp, nhưng lại thiếu trật tự, thiếu ngăn nắp, thiếu sự hiện hữu linh động và những điều kiện tinh thần để bảo tŕ căn nhà đời sống của chúng ta.

 

Ngôi nhà của chúngta có thể là một cao ốc với không biết bao nhiêu những tầng lầu của lo lắng, đau buồn,bận bịu và sợ hăi. Chúng ta chất chứa cho cuộc sống chúng ta đầyắp, nhưng những chất chứa ấy chỉ làm cho ngôi nhà của chúng ta ra buồn thảm, nhơ bẩn.

 

Giáng Sinh sắp đến. Có lẽ gia đ́nh nàocũng cố gắng trưng bày một máng cỏ, một hang đá trên bàn thờ, trong một góc pḥng khách. Căn nhà của chúng ta như sáng hẳn lên, như vui hẳnlên, v́ sự hiện diện của Hài Nhi Giêsu.

 

Trong niềm rạo rực của những ngày chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta hăy mở rộng căn nhà cuộc đời của chúng ta để cho Chúa đến chiếm ngự. Đăhai ngàn năm qua, ngài đăđi t́m một chỗ trú ngụ. Ngài đến gơ cửa từng tâm hồn con người. Có c̣nmột chỗ trống nào trong căn nhà của chúng ta không hay tất cả đều đă được chiếm ngự bởi không biết bao nhiêu thứ lỉnhkỉnh khác như đam mê, ích kỷ, hận thù, ganh ghét và bao tâm t́nh bất chính khác. Hăy để cho Ngài chiếm trọn cănnhà cuộc đời chúng ta và chúng ta sẽ nghe được khúc nhạc du dương của các thiên thần: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, b́nhan dưới thế cho người thiện tâm".

 

B́nh an sẽ tràn ngập căn nhà của chúng ta, niềm vui sẽ toả lan trong căn nhà của chúng ta, ánh sáng sẽ chan hoà căn nhà của chúng ta nếu ch1ung ta để cho Ngài chiếm trọn.

 

Hôm nay đây, trong giờ phút này đây, Ngài cũng đang nói với chúng ta như đă từng nói với Giakêu: "Hôm nay đây, Ta sẽ đến và cư ngụ trong nhà ngươi".

 

Cách đây hơn 10 năm, giữa quảng trường thánh Phêrô, một con người đến từ một thế giới chỉ có đe doạ, sợ hăi đă hô lớn: "Đừng sợ, hăy mở rộng cửa cho Đức Kitô". hăy mở rộng cửa cho Đức Kitô, chúng ta sẽ được niềm vui trọn vẹn trong tâm hồn.

 

Ưu buồn, lo lắng v́ không biết bao nhiêu khó khăn và thử thách trong cuộc sống,chúng ta hăy tin tưởng và vui lên v́ sự cư ngụ của Chúa Giêsu chính là sức mạnh,chính là niềm tin của chúng ta.

 

 

 

CẶP KÍNH LĂO

 

Tại một viện dưỡng lăo nọ, ai ai cũng cảm thấy vui, v́ ngày Giáng Sinh sắp đến. Lễ Giáng Sinh không những là lễ của nhận qùa, mà c̣n là lễ của tặng quà nữa. Cho nên, dù không dư giả, các lăo ông lăo bà cũng cặm cụi suốt ngày để chuẩn bị một món quà gởi tặng cho thân nhân, người quen.

 

Duy chỉ có một bà lăo xem chừng như dửng dưng trước những rộn rịp xung quanh. Bà ngồi trong một góc nhà, gậm nhắm từng nỗi cô đơn của ḿnh. Bà không c̣n một người thân nào trêntrần gian này. Kỳ thực, bà c̣n một người con trai, nhưng người con ấy kể như đă chết với bà. Từ lâu, anh đă bị giam trong một trại khổ sai chung thân.

 

Dù vậy, đối với trái tim của một người mẹ, một đứa con, cho dù có đốn mạt đên đâu, vẫn là một người con. Cũng như những lăo ông lăo bà khác, người đàn bà đáng thương cũng đă có ư nghĩa gởi một món quà cho người con bạc phước của ḿnh. Nhưng bà không có một đồng xu dính túi. Tất cả tài sản của bà chỉ là cặp kính lăo c̣n đeo trên mắt... Người đàn bà ước ao được gởi cho người con của ḿnh một gói thuốc lá. Một gói thuốc không là bao, nhưng gói trọn t́nh thương mà bà vẫn dành cho anh.

 

Bà đi trao đổi với các cụ già, nhưng không ai có ǵ để trao tặng bà. Cuối cùng, có một lăo ông c̣n một gói thuối lá, loại thuốc mà có lẽ con trai bà ưa thích. Nhưng trong viện dưỡng lăo này, dường như ai cũng sống theo nguyên tắc "có qua có lại". Lăo ông chỉ trao cho bà gói thuốc vời điều kiện bà cũng trao tặng cho ông một món quà nào đó.

 

Người đàn bà đàn lấy cặp kính khỏi đôi mắt và trao cho lăo ông. Gương mặt người đàn ông sáng rỡ lên v́ ông đă có thể đọc được tỏ tường. Cuộc trao đổi chấm dứt. Người đàn bà gói bao thuốc lại thànhmột món quà Giáng Sinh quí giá để gởi tặng cho con.

 

Trở lại góc pḥng của ḿnh, người đàn bà làm một cử chỉ máy móc: bà đưa tay lên mắt để sửa lại cặp kính lăo. Nhưng cặp kính không c̣n nữa. Dù vậy, người đàn bà cảm thấy vui hơn bao giờ hết: bởi v́ người con trai của ba nơi trại khổ sai sẽ vui v́ nhận được quà Giáng Sinh, bởi v́ lăo ông trong viện dưỡng lăo sẽ đọc được trong những ngày Giáng Sinh.

 

Quà tặng chỉ có ư nghĩa khi nó là biểu tượng của người tặng. Người tặng quà không chỉ gởi đi một cánh thiệp, một cái áo, một chiết bánh, một món đồ chơi, mà gói ghém tất cả t́nh cảm, sự biết ơn, ḷng ngưỡng mộ, tâm t́nh thương mến của ḿnh. Một cách nào đó, khi tặng quà, chúng ta muốn trao tặng chính bản thân ḿnh.

 

Do đó, sự trao tặng nào cũng là một mất mát: mất mát một chút tiền của, mất mát một ít thời giờ. Sự mất mát càng lớn, th́ quà tặng càng có giá trị. Bà cụ trong viện dưỡng lăo trên đây quả thực đă mất mát nhiều: bà đă mất đi một phần ánh sáng của ḿnh. Nhưng bù lại, niềm vui của người con và niềm vui của người đồng viện của bà sẽ lớn hơn. Mất đi một chút ánh sáng để cho ngườ khác được thấy, chấp nhận một chút đau khổ để cho người khác được vui, thua thiệt một phần để cho người khác được cười: đó là tất cả ư nghĩa của sự tặng quà đích thực.

 

Nhưng đó cũng là niềm vui đích thực, bởi v́ niềm vui của người chính là niềm vui của ta. Mục đích của quà tặng là làm cho người khác được vui. Do đó, niềm vui của người khác phải là quà tặng đích thực mang lại niềm vui cho ta.

 

Đó chính là nghịch lư của Kitô giáo chúng ta. Càng trao ban, càng mất mát, chúng ta càng được nhận lănh.

 

Chúng ta sẽ khám phá được nghịch lư ấy trong những ngày mừng lễ Giáng Sinh. Niềm vui của Thiên Chúa, vinh danh của Ngài, quà tặng cao cả nhất mà Ngài đă trao tặng cho chúng ta đó là Người Con Một của Ngài. Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một của Ngài.

 

Chúng ta đón nhận quà tặng của Thiên Chúa với tất cả cảm mến tri ân. Nhưng mùa Giáng Sinh không chỉ là mùa của nhận quà, mà c̣n là mùa của tặng quà nữa. Chúng ta hăy dâng tặng Thiên Chúa tất cả con người của chúng ta.

 

 

 

PHÉP LẠ GIÁNG SINH

 

Hằng năm, cứ đêm Giáng Sinh, Hài Nhi Giêsu thường đi một ṿng rảo qua khắp các làng mạc và đô thị để tặng quà cũng như nhận quà và phân phát cho những ai cần đến.

 

Năm nay, tại một đô thị no, Ngài đang cần một món quà không dễ t́m ra: đó là một quả tim lành mạnh để thay thế cho quả tim của một người bệnh đang hấp hối.

 

Bệnh nhân có quả tim gần như ngừng đập này là một nhân vật nổi tiếng trong cả nước: đó là bộ trưởng tài chính!

 

Tất cả các bác sĩ trong nước đều bó tay. Cuối cùng, họ mới chạy đến với Hài Nhi Giêsu, v́ tin tưởng rằng ít ra trong đêm Giáng Sinh, Ngài sẽ làm một phép lạ. Nhưng Hài Nhi Giêsu trả lời với các bác sĩ: "Không phải Ta là người phải làm phép lạ, nhưng chính là ḷng quảng đại của một người sẵn sàng dâng hiến quả tim của ḿnh".

 

Tin tưởng ở ḷng người, Hài Nhi Giêsu đă đến gơ cửa nhà của thân nhân, bạn hữu của vị bộ trưởng. Họ đang mừng lễ Giáng sinh: cây Giáng Sinh của họ đầy những hoa đèn và quà tặng, bàn ăn của họ đầy những thịt rượu và của ngon vật lạ. Họ đang ăn uống say sưa... Vừa thấy Hài Nhi đứng trước cửa nhà, họ tưởng Ngài là một cậu bé vô lại phá đám, cho nên đă tống khứ Ngài đi càng sớm càng tốt.

 

Hài Nhi Giêsu buồn bă bỏ đi... Nhưng Ngài vẫn chưa thất vọng về t́nh người. Lần này, Ngài đến gơ cửa của những người thân cận vị bộ trưởng. Họ là những người đă từng bán đứng lương tâm, chối bỏ phẩm giá của ḿnhđể t́m kiếm lạy lục một chút cặn bă của vinh hoa, lợi lộc phù phiếm. Hài Nhi Giêsu nghĩ thầm ít ra đâycũng là dịp để họ tỏ ḷng gbiết ơn đối với ông bộ trưởng. Nhưng tất cả đều lắc đầu từ chối, trái tim của họ đang hướng đến người sẽ lên thay thế ông bộ trưởng trong những ngày gần đây.

 

Hài Nhi Giêsu lại tiếp tục đi gơ cửa từng nhà, nhưng ai cũng đang bận bịu với cuộc vui đêm Giáng Sinh.

 

Ngài đi, đi măi trong đêm, để rồi mệt lả không c̣n lê bước nữa. Ngài ngồi xuống bên vệ đường ven đô thị. Ngài đang miên man nghĩ đến t́nh gnười th́ bỗng dưới ánh đèn đường mờ ảo, một bóng đen thất thiểu tiến lại gần Ngài. Con người này xem chừng như không biết lễ Giáng Sinh là ǵ. Quần áo bẩn thỉu, dáng đi ngập ngừng. Trên vai của anh đeo lủng lẳng một chiếc đàn vĩ cầm cũ kỹ. Đó là tất cả vốn liếng của một kẻ lăng tử. Vừa thấy em bé ngồi tiu nghỉu bên vệ đường, anh mới dừng lại, lấy chiếc đàn ra và dạo lên những khúc nhạc du dương, trầm buồn. Bản nhạc bỗngmang lại hy vọng cho Hài Nhi. Trên môi Ngài, một nụ cười bé thơ cũng vừa hé mở. C̣n người lang thang phiêu bạt này, con người không có lấy một mái nhà để nương náu, không có được một ngày lễ trong cuộc sống, không biết được đêm nay là đêm Giáng Sinh: vậy mà con người ấy có được một trái tim quảng đại sẵn sàng dâng hiến!

 

Hài Nhi Giêsu đến nắm tay anh, đưa anh vào bệnh viện. Tại đây, với nụ cười tươi nở trên môi, anh để cho các bác sĩ khoét vào lồng ngực của anh để lấy quả tim quảng đại của anh và đặt vào chỗ của quả tim đang thoi thóp của ông bộ trưởng tài chính.

 

Cuộc ghép tim vừa chấm dứt, th́ mọi người đă có thể chứng kiến được phép lạ. Ông bộ trưởng với quả tim quảng đại và yêu đời của người lăng tử đứng dậy khỏi giường và bắt đầu ca hát.

 

Ông đă ném đi quả tim chỉ biết rung động v́ tiền của, để thay thế bằng quả tim quảng đại biết ca hát, và sẵn sàng tự hiến cho người.

 

 

 

ÔNG GIÀ NOEL

 

Tháng 9 năm 1987, một bé gái 8b tuổi tên là Virginia đă viết cho một tờ báo Công Giáo Hoa Kỳ để hỏi về ông già Noel. Câu hỏi của cô bé là: ông già Noel có thật không?

 

Vài ngày sau, trên mục quan điểm của tờ báo, người ta đọc được câu trả lời của ông chủ nhiệm kiêm chủ bút như sau: "Virginia yêu dấu của bác. Điều trước tiên bác muốn nói với cháu là: các bạn của cháu thật là sai lầm khi bảo rằng không có ông già Noel. Các bạn của cháu đă bị tiêm nhiễm bởi trào lưu hoài nghi. Họ nghĩ rằng chỉ có thể tin được những ǵ họ thấy tận mắt. Họ nghĩ rằng không có ǵ có thể có được nếu trí khôn nhỏ bé của họ không hiểu được.

 

Virginia yêu dấu, tất cả mọi trí khôn của loài người, dù là của trẻ em, dù là của người lớn, tất cả đều nhỏ bé. Trong cái vũ trụ bao la này, con người chỉ là một con kiến nhỏ bé.

 

Virginia ạ, ông già Noel có thực. Ông có thực cũng như t́nh yêu và ḷng quảng đại nhờ đó cuộc sống của cháu trở thành vui tươi và xinh đẹp. Bé ơi, nếu không có ông già Noel th́ thế giới của chúng ta sẽ như thế nào? Không có những tâm hồn ngây thơ trong trắng của những trẻ thơ như cháu th́ thế giới của chúng ta sẽ như thế nào? Không có một niềm tin của trẻ thơ như cháu th́ kh6ng có một áng văn, một ḍng thơ nào có thể làm cho cuộc sống của chúng ta đáng sống nữa. Không có một niềm tin của trẻ thơ th́ ánh sáng vĩnh cửu đang lấp đầy thế giới cũng sẽ tắt dần.

 

Virginia, nếu cháu không c̣n tin ở ông già Noel nữa, th́ cháu cũng chẳng c̣n tin ở chuyện thần tiên nữa. Có thể cháu sẽ yêu cầu bố cho người ngồi canh ở ḷ sưởi, ở cuối giường để bắt cho được ông già Noel... Nhưng cho dù cháu không bắt được ông già Noel đi nữa, điều đó ư nghĩa ǵ? Chưa có ai đă thấy ông già Noel, nhưng cũng chưa có ai chứng minh được là không có ông già Noel. Những điều có thực nhất trtong thế giới của chúng ta đó là những điều mà trẻ con và ngay cả người lớn cũng chưa từng thấy.

 

Cháu có bao giờ thấy các nàng tiên nhảy múa trên thảm cỏ chưa? Dĩ nhiên là chưa. Nhưng có ai chứng thực được các nàng tiên không có không? Khôngai có thể có khái niệm hay tưởng tượng được bao kỳ diệu chưa thấy hoặc không thể thấy được trong thế giới của chúng ta.

 

Chỉ có đức tin, chỉ có t́nh yêu mới có thể vén mở được bức màn bí mật của thế giới chúng ta.

 

Nhờ ơn Chúa, ông già Noel vẫn sống và tiếp tục sống, cháu Virginia ạ. Ông già Noel sẽ tiếp tục làm cho tâm hồn trẻ thơ được tràn đầy hoan lạc".

 

Lá thư gởi cho cô bé Virginia trên đây đưa chúng ta vào trung tâm điểm của ngày Giáng Sinh: Giáng Sinh là lễ của nhi đồng, bởi v́ nhân vật chính của ngày lễ làmột Em Bé. Một Em Bé cũng như muôn ngh́n em bé sinh ratrên cơi đời này. Em Bé đó chính là niềm vui và hy vọng cho tất cả mọi người.

 

Cùng với Em Bé đó, tất cả các em bé đều mang lại niềm vui cho mọi người trong mùa Giáng Sinh. Bầu khí Giáng sinh là bầu khí của nhi đồng. Từ hoa đèn, âm nhạc cho đến quà cáp, tất cả đều hướng về các em nhi đồng... Người cho đă vui mà người nhận c̣n vui hơn: chính các em bé là những người đă dạy cho người lớn biết vui với niềm vui ban phát. Bao lâu con người c̣n có thể mở cửa tâm hồn, bao lâu con người c̣n có thê mở rộng bàn tay để ban phát, để chia sẻ th́ bấy lâu ông già Noel của hy vọng, của quảng đại, của hân hoan vẫn c̣n sống măi trong tâm trí của trẻ em và không biết bao nhiêu người sầu khổ.

 

Giáng Sinh là ngày của nhi đồng do đó cũng là lễ của hoà b́nh. Một em bé sinh ra là một hy vọng mới chớm nở. Hy vọng là tên mới của hoà b́nh. C̣n hy vọng là c̣n muốn xây dựng. Xây dựng trên mầm sống đă đành mà c̣n xây dựng trên những đổ vỡ, mất mát.

 

Qua Hài Nhi Giêsu, tất cả các em bé trên thế giới đang nhắm gởi đến tưng ngừơi trong chúng ta niềm hy vọng vào thiện chí của con người. Hoà b́nh là hoa quả của hy vọng. C̣n tin nơi con người, chúng ta c̣n có thể xây dựng hoà b́nh.

 

 

 

NGẠC NHIÊN

 

Tại miền Provence thuộc miền Nam nước Pháp, có một máng cỏ khá nổi tiếng. Trong số các nhân vật trong máng cỏ, du khách thường chú ư đến một con người nhỏ bé với hai bàn tay mở ra trống trơn, nhưng gương mặt lại để lộ một vẻ ngạc nhiên khó tả. Chính v́ thế mà người ta đặt tên cho nhân vật này là "ngạc nhiên".

 

Người địa phương thường giảithích về sự ngạc nhiên trên gương mặt của nhân vật này bằng một câu chuyện như sau: Một hôm tất cả các nhân vật trong máng cỏ, kể cả mấy chú ḅ lừa, đều tỏ ra khó chịu đối với nhân vật có tên là "ngạc nhiên" này, bởi v́ anh ta không có ǵ để mang tặng cho Chúa Hài Nhi, ngoài hai bàn tay trắng của anh. Họ sỉ vả anh như sau: "Mày không biết xấu hổ sao? Mày đến chầu Hài Nhi Giêsu mà không mang theo ǵ cả?".

 

Nhưng con người có tên là "ngạc nhiên" ấy không để lộ một phản ứng nào, đôi mắt của anh vẫnmở to và chăm chú nh́n vào Hài Nhi Giêsu.

 

Những lời rủa sả cứ tiếp tục trút xuống trên anh, đến độ Đức Maria phải lên tiếng để biện hộ cho anh như sau: "Quả thực anh "ngạc nhiên" đă đến với Hài Nhi Giêsu với hai bàn tay trắng. Nhưng anh đă mang đến món quà cao đẹp nhất: đó là sự ngạc nhiên của anh! Điều này có nghĩa là t́nh yêu bao la của Thiên Chúa đă chiếm trọn tâm tư của anh".

 

Và Đức Mẹ kết luận như sau: "Thế giới này sẽ kỳ diệu biết bao nếu luôn có những con người như anh "ngạc nhiên", biết ngây ngất v́ ngạc nhiên".

 

Người ta thường nói: "ngạc nhiên" là khởi đầu của khám phá. Có biết ngạc nhiên, có biết đặt câu hỏi, người ta mới đặt ra giả thuyết rồi mớit́m ṭi, khảo sát và khám phá... Sự tiến bộ của loài người bắt nguồn từ chính sự ngạc nhiên. Trong lănh vực siêu nhiên cũng thế, Thiên Chúa đă ban cho con người khả năng biết ngạc nhiên, biết chiêm ngắm để khám phá ra t́nh yêu bao la của Ngài. Cả vũ trụ là một quyển sách luôn được mở ra để mời gọi con người t́m đọc được lời ngỏ yêu thương của Chúa. Lịch sử của nhânloại, cuộc đời của mỗi người cũng là một kỳ công, qua đó Thiên Chúa không ngừng bày tỏ t́nh yêu của Ngài.

 

Đức Kitô phục sinh mang lại cho chúng ta sức sống mới và đôi mắt mới. Với đôi mắt mới ấy, chúng ta không ngừng được mời gọi để đi vào sự ngạc nhiên và ngây ngất trước t́nh yêu của Thiên Chúa. T́nh yêu ấy nhiệm mầu đến nỗi chúng phải vượt qua nhăn giới b́nh thường của chúng ta để nh́n thấy được và cảm nếm được những ǵ không nằm trong sự đo lường, tính toán của chúng ta. Do đó, người có cái nh́n ngạc nhiên và ngây ngất luôn phó thác cho t́nh yêu của Chúa. Trong lúc thịnh vượng, họ thốt lên lời ca chúc tụng tri ân đă đành, mà đứng trước thất bại, khổ đau, mất mát, họ cũng vẫn có thể nh́n ra dấu ấn t́nh yêu của Chúa.

 

 

 

NHỮNG VỊ THÁNH VÔ DANH

 

Có một vị thánh nọ thánh thiện đến độ, không hề dám có ư nghĩ rằng ḿnh là một con người thánh thiện.

 

Ngày kia, một thiên thần đến nói với ngài: "Chúa sai tôi đến gặp ngài. Ngài hăy xin bất cứ điều ǵ ngài muốn. Chúa sẽ ban cho ngài. Vậy ngài có muốn được ơn chữa bệnh không?".

 

Vị thánh trả lời: "Không. Thà để cho chính Chúa chữa trị th́ tốt hơn". Vị sứ thần đề nghị điều khác: "Ngài có muốn đem những người tội lỗi trở về đường công chính không?".

 

Vị thánh cũng lắc đầu từ chối: "Không. Cải hoá tâm hồn con người không phải là việc của tôi. Đó là công việc của các thiên thần". Vị sứ giả của Chúa mới gợi ư thêm: "Ngài có muốn trở thành một mẫu gương để thiên hạ tuôn đến bắt chước không?".

 

Vị thánh cũng khiêm tốn trả lời: "Không. Bởi v́ làm như thế tôi sẽ trở thành turng tâm thu hút sự chú ư". Thiên thần mới hỏi: "Vậy th́ ngài mong muốn điều ǵ?". Vị thánh trả lời: "Ơn Chúa, có ơn Chúa, đó là điều tôi hằng khao khát".

 

Vị thiên thần được Chúa sai đến vẫn chưa chịu bỏ cuộc, nên đề nghị lần cuối cùng: "Ngài phải xin một phép lạ. Nếu không tôi đành phải để cho phép lạ xảy ra vậy". Vị thánh của chúng ta đành phải ưng thuận: "Vậy th́ tôi xin điều này: ước ǵ mọi việc thiện được thực thi qua tôi mà tôi không hề hay biết". Thế là để cho lời ước của vị thánh được thành sự, Thiên Chúa ban cho cái bóng phía sau của ngài được mọi thứ quyền năng. Nơi nào có cái bóng phía sau lưng ngài đi qua, th́ nơi đó, người bệnh được lành, đất đai trở thành ph́ nhiêu, nguồn suối phát sinh sự sống, niềm vui trở lại trên những gương mặt sầu khổ.

 

Nhưng vị thánh không hề hay biết điều đó, v́ dân chúng chú ư đến cái bóng đến độ quên hẳn con người.

 

Hôm nay Giáo Hội kính nhớ các thánh an hhài, những vị thánh đă chết v́ Đức Kitô mà cũng không hề hay biết rằng ḿnh phải chết v́ Ngài. Các trẻ em ấy là kiểu mẫu của không biết bao nhiêu vị thánh vô danh.

 

Có những Mẹ Têrêxa Calcutta, những linh mục Pierre mà thế giới không ngừng nhắc đến, nhưng cũng có không biết bao nhiêu những người cha, người mẹ, người chồng, người vợ ngày ngày âm thầm hy sinh trong không biết bao nhiêu công việc vô danh, phiền toái mỗi ngày. Có biết bao nhiêu người đang âm thầm đau khổ và hy sinh cầu nguyện mà không thể thấy được kết quả của lời cầu nguyện của ḿnh. Có biết bao nhiêu người âm thầm phục vụ tha nhân cách này hay cáchkhác mà không hề được đền đáp hoặc nhắc nhớ.

 

Trong ánh sáng của mầu nhiệm Giáng Sinh, chúng ta được mời gọi để t́m thấy giá trị của những hy sinh âm thầm từng ngày. Sự thinhlặng bé nhỏ của Hài Nhi Giêsu trong hang đá Bêlem, 30 năm âm thầm của Ngài tại Nagiarét: đó là ư nghĩa của cuộc sống phiền toái, độc điệu mỗi ngày của chúng ta. Hài Nhi Giêsu mời gọi chúng ta nhận ra giá trị của cuộc sống ấy. Thiên Chúa thi ân tuỳ theo cách thế Ngài muốn. Cuôc sống âm thầm và hy sinh từng ngày của chúng ta là một trong muôn ngh́n cách thế thi ân của Ngài mà chúng ta không thể đo lường được. Ngoài sự tưởng tượng và dự đoán của chúng ta, những hy sinh từng ngày của chúng ta được Chúa dùng như cái bóng vô h́nh nhờ đó Ngài thông ban muôn ơn lành cho người khác.

 

 

 

HOÀNG TỬ VÀ CẬU BÉ NGHÈO

 

Văn hào Anh Mark Twain cách đây ba thế kỷ, có viết một quyển tiểu thuyết mang tựa đề "Hoàng tử và cậu bé nghèo". Chuyện kể lại t́nh bạn của hai cậu bé giống hệt nhau khiến người ta tưởng là sinh đôi. Một trong hai cậu bé tênlà Edward, hoàng tử xứ Galles. C̣n Tom Canty, người bạn của vị hoàng tử, lại là một cậu bé con nhà nghèo.

 

Một ngày kia, hai cậu bé có ư nghĩ ngộ nghĩnh là thay đổi địa vị xă hội. Tom vào thế chỗ của vị hoàng tử Edward trong triều đ́nh, c̣n Edward th́ khoát lên ḿnh mảnh áo rách rưới và bắt đầu cuộc phiêu lưu. Cậu lang thang đầu đường xó chợ bên cạnh những người cùng cực nhất trong xă hội.

 

Thế nhưng một lúc nào đó, hai cậu bé cũng cảm thế mệt mỏi với tṛ chơi đầy phiêu lưu này. Edward mới sực tỉnh về ngôi vị hoàng tử của ḿnh. Trong bộ áo rách rưới nhơ bẩn, cậu t́m đủ mọi cách để chứng minh rằng ḿnh là hoàng tử nối ngôi của xứ Galles. Nhưng cảnh sát đă không tin... Thế là hoàng tử Edward đành phải lặng lẽ bước vào tù v́ tội giả mạo.

 

Giữa lúc Tom, cậu bé nghèo, sắp sửa được tấn phong làm vua, th́ hoàng tử Edward xuất hiện... Không mấy chốc cậu đă được phục hồi trong ngôi vị hoàng từ của cậu. Chính nhờ kinh nghiệm của nhữngtháng này làm người ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ với những người cùng khổ, mà Edward đă trở thành một vị vua đạo đức và giàu ḷng thương người.

 

cũng giống như câu chuyện trên đây. Thiên Chúa đă đến giữa loài người để hoàn đổi vị thế với chúng ta. Ngài mặc lấy thân xác nghèo hèn cua chúng ta để chúng ta được mang lấy tước phẩm được làm con Chúa. Nhờ ân sủng của ngài, Ngài chia sẻ với chúng ta sự sống thần linh và đón nhận trong thân xác Ngài tất cả những hệ luỵ của kiếp sống khổ đau của con người.

 

Mang lấy trong thân xác Ngài khổ đau của nhân loại, Chúa Giêsu đă tự đồng hoá với từng người, nhất là những người khổ đau.

 

Đồng hoá ḿnh với những người đau khổ, Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta con đường để gặp gỡ Ngài: Ngài hiện diện trong những đau khổ, bé mọn nhất. Tiếp rước những người đó chính là tiếp rước Ngài.

 

Thiên đàng là một gặp gỡ triền miên với Chúa, nhưng cuộc gặp gỡ này chỉ được chuẩn bị bằng những gặp gỡ của chúng ta với tha nhân. Chúng ta sẽ nhận ra Chúa hay không là tuỳ thuộc ở những gặp gỡ của chúng ta với tha nhân. Chúng ta tiếp nhận tha nhân, chúng ta sẽ gặp được Chúa. Chúng ta khước từ tha nhân, chúng ta cũng khước từ chính Chúa.

 

Tha nhân là bí tích của Thiên Chúa. Chính trong tha nhân mà chúng ta phải nhận ra và yêu mến Chúa.

 

Nơi bàn thờ, vị linh mục đọc lại lời của Chúa Giêsu: Này là Ḿnh Ta, này là Máu Ta... Khi chỉ cho chúng ta mỗi một con người, có lẽ Chúa Giêsu cũng sẽ nói: "Này là Ḿnh Ta...". Thánh lễ là một cuộc gặp gỡ với Chúa. Cuộc gặp gỡ này chỉ có ư nghĩa và giá trị nếu trong cuộc sống hằng này, chúng ta cũng biết nhận ra Chúa trong từng cuộc gặp gỡ với tha nhân... Xin Chúa thêm đức tin để chúng ta có thể nhận ra Chúa Giêsu trong tha nhân, nhất là những người cùng khổ, bé mọn trong xă hội.

 

 

 

SỰ CHỌN LỰA CỦA CHÚA

 

Vào dạo tháng 12/1987, Đức Hồng Y Jean Marie Lustiger, đương kiêm Tổng Giám Mục Paris, Pháp quốc, đă cho xuất bản một quyển sách mang tựa đề "Sự chọn lựa của Thiên Chúa". Qua tựa đề này, ai cũng đoàn được đây là một quyển tự thuật ghi lại cuộc hành tŕnh đức tin của ngài.

 

sinh ra trong một gia đ́nh Do Thái sùng đạo, ông ngại là một thày Rabbi uyên thâm, Jean Marie Lustiger đă tự ư trở lại với đức tin Công Giáo vào năm 14 tuổi. Hành động này của Jean Marie dĩ nhiên đi ngược lại với xác tín của gia đ́nh, nhất là mẹ của cậu. Trước khi bị đưa lên xe chở qua trại tập turng Đức quốc xă ở Auschwitz, bà c̣n nói với các con: "Các con hăy giữ ḿnh, chớ theo đạo Công Giáo. Đây là một cơn bệnh hiểm nghèo".

 

Nhưng tiếng Chúa c̣n mạnh hơn sự cảnh cáo của người mẹ. Cũng giống như thi sĩ Paul Claudel khi ngắm nh́n ánh nến lung linh trên bàn thờ, bỗng nhận ra tiếng gọi của Chúa, Jean Marie Lustiger cũng đă nghe được tiếng gọi thầm kín ấy một ngày thứ năm tuần thánh nọ khi cậu bước vào nhà thờ chính toà Orleáns. Dân chúng đứng chen chúc đông nghẹt trong nhà thờ. Nhưng ngày hôm sau, khi cậu trở lại, nhà thờ bỗng trống vắng... Nhưng chính trong mỗi trống vắng của ngày thứ sáu tuần thánh đó mà Jean Marie Lustiger đă nhận ra tiếng gọi của Chúa.

 

Qua quyển tựthuật trên đây, Đức Hồng Y Jean Marie Lustiger tuyên xưng rằng "ơn cứu rỗi và sự hiện diện thầm kín của Đấng cứu thế trong nhân loại là một mầu nhiệm của ḷngthương xót". Thiên Chúa yêu thương con người một cách lạ lùng. Ngài mời gọi con người trên muôn vạn nẻo đường của con người. Do đó, theo Đức Hồng Y Lustiger, hy vọng, chính là tin rằng Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người.

 

Tin Mừng được loan báo như một vết dầu loang. Chính nhờ trung gian của nhiều người khác nhau mà Thiên Chúa ngỏ lời với con người. Nói như thi sĩ Paul Claudel, Thiên Chúa viết bằng những đường cong. Những đường con mà Thiên Chúa không ngừng viết để ngỏ với chúng ta chính là cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Mỗi một biến cố xảy đến, mỗi một cuộc gặp gỡ là một lời ngỏ của Thiên Chúa. Chính qua trung gian của những biến cố đó mà Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta. Do đó, người Kitô sẽ không ngừng thức tỉnh để lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa. Trong giấc ngủ say như cậu bé Samuel, trong một buổi trống vắng của ngày thứ sau tuần thánh như trường hợp của Jean Marie Lustiger, trong niềm vui của gặp gỡ, của thịnh đạt, trong đau khổ của bệnh tật, mất mát: tiếng nói của Thiên Chúa vẫn vang dội trong ḷng người.

 

Chúng ta biết rằng cuộc đời của mỗi người trong chúng ta là lịch sử của một ơn gọi. Mỗi người chúng ta không phải là một con số trong năm tỉ người đang sống trên mặt đất, nhưng là một lịch sử cá biệt trong t́nh thương của Chúa. Tiếng Chúa gọi chỉ ngỏ với từng người mà thôi. Tên gọi của từng người chúng ta có một âm vang đặc biệt trong tiếng gọi của Chúa. Mỗi người chúng ta chỉ có thể nói: Thiên Chúa yêu thương gôi và chỉ ḿnh tôi mà thôi... Trong muôn ngh́n đau khổ của cuộc sống, mỗi người chúng ta hăy lặp lời lời tuyên xưng của thánh Gioan tông đồ: "Thiên Chúa là T́nh yêu", Ngài đang yêu thương tôi.

 

 

 

LẼ SỐNG

 

Ngày xưa cómột ông vua, tuổi đă quá ngũ tuần mà vẫn chưa xem được một quyển sách nào. Bộ sách mà ông thèm khát được đọc nhất là bộ "lịch sử loàingười". Nhưng khốn nỗi, cuộc đời của ông, tứ mái đầu xanh cho đến tóc điểm bạc, không lúc nào được rảnh rang. Đời ông luôn luôn sống trên lưng ngựa, nằm sưng, gối tuyết trên băi chiến trường. Nay chinh phục nước này, maingăn chặn nước kia xâm lăng. Mắt ông chỉ thấy có gươm giáo và máu lửa. Ông rất ân hận v́ chưa đọc được một trang sách của thánh hiền... Nay nước nhà đă ohà b́nh, ông muốn dành thời giờ c̣n lạiđể đọc cho kỳ được bộ lịch sử loài người, để t́m xem con người xưa nay sống để làm ǵ? Nhưng tuổi ông đă cao, mà bộ sách lại quá dày. Biết sức ḿnh không thể đọc hết bộ sách, cho nên nhà vua mới ra lệnh cho viên sử thần làm hộ cho ḿnh công việc ấy. Với sự giúp đỡcủa một ban gồm 50 người, viên sử thần mới bắt tay ngày đêm miệt mài đọc sách.

 

Sau 10 năm cắm cúi đọc sách, viên sử thần đă có thể tóm tắt bộ lịch sử loài người thành 10 quyển sách, và cho mang vào tŕnh lên nhà vua. Nhưng vừa nh́n thấy 10 quyển sách và đo lường tuổi tác của ḿnh, nhà vua lại cảm thấy không đủ sức để đọc hết bộ sách đă được rút ngắn. Nhà vua mới đề nghị cho uỷ ban làm việc thêm một thời gian nữa. Sau 5 năm liền làm việc thêm, uỷ ban đă tóm lược lịch sử loài người thành 5 quyền. Nhưng khi uỷ ban mang 5 quyển sách vào ra mắt nhà vua, th́ cũng chính là lúc nhà vua đang hấp hối trên giường bệnh. Biết ḿnh không thể đọc được dù một trang sách, nhà vua mới thều thào nói với viên trưởng ban tu sử hăy tóm tắt bộ lịch sử loài người thành một câu mà thôi. Vị trưởng ban tu sử mới tâu với nhừ vua như sau: "Hạ thần xin vâng mạng. Lịch sử loài người từ khai thiên lập địa đến giờ là: loài người sinh ra để khổ rồi chết". Nhà vua gật đầu. Đôi môi khô héo của nhà vua bỗng nở nụ cười măn nguyện... rồi tắt thở. Và giữa lúc ấy, vị trưởng ban tu sử cũng nấc lên mấy tiếng rối trút hơi thở cuối cùng.

 

Hôm nay là ngày cuối năm. Nh́n lại một năm qua với không biết baonhiêu đóikhổ, chiến tranh, chết chóc cho nhân loại cũng như cho chính bản thân, có lẽ nhiều người cũng sẽ đi đến kết luận bi quan như viên trưởng ban tu sử trong câu chuyện trên đây: "Loàingười sinh ra để khổ rồi chết".

 

Đi qua mô đoạn đường trong cuộc lữ hành trần gian, Giáo Hội muốn chúng ta mặc lấy thái đọ hân hoan và lạc quan. Bài ca trên môi miệng của chúng ta trong ngày hômnay không phải là bài ca bi ai, tả oán, mà phải là bài ca "Te Deum", ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa. Ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa bởi v́ vinh quang của Ngài là con người được sống. Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải của người chết.

 

Không chối bỏ thực tại của khổ đau, chết chóc, nhưng chúng ta luôn được mời gọi để không nh́n vào đó như tiếng nói cuối cùng, như ngơ cụt. Bởi v́ vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống, cho nên hướng đi của lịch sử loài người không phải là ngơ cụt của sự chết, mà là sự sống. Bên kia khổ đau, chết chóc, cuộc sống vẫn c̣n tiếp tục có ư nghĩa và đáng sống.

 

C̣n tâm t́nh nào xứng hợp trong ngày cuối năm cho bằng cảm tạ và phó thác. Cảm tạ và phó thác cho Chúa bởi v́ Ngài vẫn luôn là Thiên Chúa của t́nh yêu, Thiên Chúa của sự sống. Cảm tạ và phó thác cho Chúa bởi v́ Ngài là Đường, là Sự Thật và là Lẽ Sống của chúng ta. Cảm tạ và phó thác cho Chúa v́ cuộc sống này vẫn tiếp tục có ư nghĩa và đáng sống.

 

 BACK