|
ĐÁP LẠI LỜI MỜI GỌI YÊU THƯƠNG
rong năm sáu mươi năm cuộc đời của ông, Hittler đă sát hại trên sáu triệu người Do Thái và gây ra đau thương tang tóc cho không biết bao nhiêu triệu người khác. Nhưng trong địa ngục của hận thù ấy người ta vẫn thấy được những đoá hoa yêu thương. Có khi người thắp lên được một tia sáng của yêu thương ấy lại chỉ là một con ngướ vô danh, đó là trường hợp của một người lính binh nh́ tên là Joseph Suns trong quân đội Đức quốc xă. Joseph Suns là một người lính Đức được gửi đến Nam Tư liền sau khi nước này bị Đức Quốc Xă xâm chiếm. Anh là một người lính trẻ, có kỷ luật và trung thành với tổ quốc. Một ngày nọ, viên trung sĩ gọi tên tám sĩ quan trong đó có anh. Tất cả đều nghĩ rằng họ được giao công tác đi tuần tiễu. Họ tới tŕnh diện trước mặt viên trung sĩ chỉ huy và được lệnh đi đến một ngọn đồi. Họ vẫn chưa biết sẽ làm ǵ. Tại ngọn đồi, tám người Nam Tư, gồm năm người đàn ông và ba phụ nữ, bị trói tay đang chờ đợi họ. Tám người lính Đức Quốc Xă đă hiểu được sứ mệnh uỷ thác cho họ. Tám người lính Đức đứng xếp hàng trước mặt tám người Nam Tư. Khi viên trung sĩ vừa hô hai tiếng chuẩn bị tất cả đều lên c̣ và nhắm thẳng vào các tội nhân. Th́nh ĺnh, một cây súng được thả rơi xuống đất đánh tan sự thinh lặng nặng nề đang bao trùm pháp trường. Viên trung sĩ và bảy người lính khác cũng như tám phạm nhân Nam Tư nh́n về phía Joseph Suns, anh từ từ rời bỏ hàng ngũ và đi về phía những người sắp bị xử bắn. Viên trung sĩ gọi anh trở lại nhưng anh bước đi những bước thật cương quyết về phía các phạm nhân, nắm tay họ và quay về phía các lư h́nh. Pháp trường ch́m trong thinh lặng một hồi lâu. Bỗng viên trung sĩ ra lệnh bắn. Những tiếng súng chát chúa nổ vang và binh nh́ Joseph Suns ngă gục bên cạnh tám người Nam Tư. Máu của anh chan hoà với máu của họ. Khi thu dọn pháp trường, người ta t́m thấy trên thi thể của anh một mẩu giấy có chép những lời từ thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi cho các tín hữu Côrintô đoạn 13 như sau: "T́nh yêu không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. T́nh yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả và chịu đựng tất cả". T́nh yêu mạnh hơn sự chết. Trong những ngày này, chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu trên thập giá. Với những người ngoài Kitô Giáo, với những người mà sự thành công thịnh vượng là giá trị cao nhất trong cuộc đời, th́ quả thật tôn thờ một con người đă bị treo trên thập giá là điều ngu xuẩn nhất trên trần gian này. Những người Hy Lạp vốn đi t́m lẽ khôn ngoan dựa trên lư trí và sự hiểu biết đă từng xem cái chất của Chúa Giêsu trên thập giá là điều ngu xuẩn nhất. C̣n đối với người Do Thái th́ cái chết ấy chỉ là phần số dành cho những kẻ yếu nhược mà thôi. Ông tổ của chủ thuyết vô thần cũng đă từng gọi các nhân đức được Kitô Giáo đề cao là những đức tính của loài vật. Nhưng trong ánh sáng mạc khải chúng ta biết rằng với cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đă chứng minh rằng t́nh yêu mạnh hơn sự chết. Quả thật, trên thập giá ấy, Ngài đă chiến thắng tội lỗi, sự dữ, hận thù và chết chóc. Không có cái chết nào hào hùng hơn cái chết của người hy sinh mạng sống v́ người khác. Từ hai ngàn năm qua, biết bao nhiêu người đă chứng minh điều đó. Nhân loại sẽ măi măi đề cao những con người dám liều mạng sống của ḿnh v́ người khác nhưng lại nguyền rủa những con người chỉ gây ra đau thương tang tóc cho người đồng loại của ḿnh. Thập giá là phát minh bỉ ổi nhất trong lịch sử nhân loại, nhưng kể từ khi Chúa Giêsu đă biến nó thành khí cụ của t́nh yêu th́ măi măi các tín hữu đón nhận nó như biểu tượng của t́nh yêu và lẽ sống. Thập giá đă trở thành niềm vinh dự của họ. Lạy Chúa Giêsu, chúng con đang chiêm ngắm Chúa trên thập giá. Xin cho chúng con luôn đáp lại lời mời gọi của Chúa để mỗi ngày biết đón nhận thập giá và hân hoan tiến bước theo Chúa.
HƯỚNG ĐẾN MAI SAU
gày nọ, tại một khu rừng diễn ra một cuộc gặp gỡ của ba con vật lừa, rùa và ruồi. Cuộc sống của loài ruồi chỉ kéo dài trong một ngày. Con ruồi nói với rùa và lừa như sau: - Các bạn thử xem, nếu mà cuộc sống của tôi dài hơn một chút nữa th́ dễ chịu làm sao. Thử xem, chỉ trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà tôi phải làm mọi việc, nào là được sinh ra, rồi phải lớn lên, phải học biết những kinh nghiệm, phải chịu đau khổ cũng như hưởng những niềm vui rồi già cỗi và chết đi. Tất cả chỉ diền ra trong hai mươi bốn giờ đồng hồ thôi. Lừa nói: - Nếu tất cả chỉ diễn ra trong hai mươi bốn giờ th́ tôi thích chỉ được như thế thôi. Tôi sẽ cố gắng cho đi tất cả, rất ngắn ngủi nhưng cũng rất ngọt ngào. Rùa nh́n lừa rồi nói: - Tôi chẳng thể nào hiểu được các bạn. Tính cho đến lúc này là tôi đă sống được ba trăm năm rồi, v́ thế cũng chẳng có thời gian để chia sẻ với các bạn những kinh nghiệm của tôi bởi tôi đă có quá nhiều kinh nghiệm. Khi vừa tṛn hai trăm tuổi, tôi ao ước cuộc sống của tôi sớm được kết thúc. Rồi quay nh́n lừa, rùa nói: - Tôi ganh tị với bạn và với ruồi. Lừa nói: - Thật đáng tiếc cho bạn. Lừa lại phát biểu: - Sau khi nghe rùa nói tôi thấy không thể nào tưởng tượng được và ước ǵ tôi có được cuộc sống dài như vậy. Tôi có thể sống ba trăm năm có được không? Hăy nghĩ xem, nếu có cơ hội được sống lâu như vậy tôi sẽ rất vui v́ được nếm hưởng mọi sự trên đời này một cách lâu dài và thật măn nguyện. Rồi cả ba cùng buồn bă nh́n nhau thong im lặng, rồi chúng đo lường cuộc đời chúng dài ngắn theo thời gian của kim đồng hồ, mỗi kẻ thích một điều, con th́ thích đời dài hơn, con khác lại thích đời ḿnh ngắn hơn một chút. Cả ba con vật cùng nh́n ra xa và thấy con nhện đang giăng tơ. Chị nhện vẫn được coi là vật khôn ngoan được hỏi ư kiến và xin cho ḿnh một lời khuyên phù hợp. Nhện nh́n rùa và bảo: - Rùa ơi, hăy ngưng phàn nàn đi v́ nào có ai được nhiều kinh nghiệm bằng ngươi đâu. C̣n chú ruồi cũng đừng nên phàn nàn chi cả, v́ có ai có nhiều niềm vui như ngươi đâu, v́ chỉ trong hai mươi bốn giờ đồng hồ mà ngươi được nếm hưởng mọi sự trên cuộc đời này. Và lừa ơi, ta chẳng biết phải nói với ngươi điều ǵ v́ ngươi dường muốn sống lâu như rùa là giống loài muốn sống cuộc đời ngắn như chú ruồi kia, ngươi măi vẫn chỉ là một loài vật ngốc nghếch. Người ta thường dùng câu ngụ ngôn để giải thích tại sau nói ví là ngốc như lừa. Nhưng ở khía cạnh khác của câu chuyện chúng ta cũng rút ra một bài học hữu ích cho chúng ta khi suy nghĩ về số mạng của ḿnh, như chúng ta đă từng nói với nhau chúng ta chỉ thực sự hạnh phúc khi chúng ta nhận ra số mạng Chúa đă uỷ thác cho mỗi chúng ta. Thái độ đó không làm thui chột khả năng mơ ước của chúng ta. Khả năng mơ ước và ngưỡng vọng của chúng ta không có ǵ là xấu cả, trái lại nó có giá trị giúp chúng ta thăng tiến cuộc sống của ḿnh. V́ thế, chúng ta nên phát huy khả năng ước vọng Chúa ban cho chúng ta. Nhưng chúng ta cũng đừng đồng hoá khả năng tốt lành đó với một tật xấu khác là sự ganh tị. Sự ngưỡng vọng về một tương lai có thể là một tương lai mà cũng có thể là tương lai gần, và những chọn lựa của chúng ta trong cuộc sống thường nhật chỉ cách nhau một vài giây sẽ làm cho chúng ta nh́n ra chính con người thật của ḿnh với những ưu khuyết điểm rất rơ ràng. Từ đó, chúng ta sẽ biết ḿnh phải phát triển thêm những mặt nào cũng như phải loại bỏ những điều ǵ không phù hợp trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Thái độ ấy không làm chúng ta thất vọng, trái lại nó làm chúng ta biết khiêm nhường và mau tiến triển hơn. Làm sao có hạnh phúc khi nhận ra con người thật của ḿnh trong chương tŕnh của Chúa? Chúng ta vui và hạnh phúc là nhờ Thiên Chúa và lời mời gọi nên trọn lành của Ngài để sống vui, trái lại sự ganh tị làm cho người ta cảm thấy nôn nao và lo lắng. Người có tính ganh tị là người chỉ nh́n vào người khác rồi lo sợ và so b́ với họ chứ không nh́n vào chính ḿnh. Người có tính ganh tị cũng sẽ là người hoặc tự măn tự kiêu hay là người luôn tự tự ti mặc cảm, và những người này không thể nh́n xa hơn để vượt qua khỏi cái nh́n của ḿnh, để rồi cứ quanh quẩn với cái nh́n phềin trách của ḿnh để so đo điều hơn thiệt của ḿnh với người khác. V́ vậy, mỗi chúng ta hăy luôn nhắc ḿnh để biết nh́n xa hơn, đặt ḿnh trong chương tŕnh của Chúa. Chỉ khi chúng ta được nằm trong t́nh thương quan pḥng của Chúa, chúng ta mới nhận ra giá trị của ḿnh và của anh chị em để sống yêu thương và gắn bó mật thiết với Chúa hơn, cũng như sống tương quan với anh chị em mỗi ngày một tốt hơn. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống gắn bó mật thiết với Chúa hơn trong mùa Chay này để chúng con nhận ra ơn gọi của ḿnh và biết trân trọng những khác biệt của anh chị em để sống vui, hạnh phúc và luôn ngưỡng vọng về Chúa kể cả chân thiện mỹ.
SỨC MẠNH CỦA THẬP GIÁ
ào năm 1856, các nhà khảo cổ đă thực hiện một cuộc khám phá đầy thú vị tại đồi Palatino ở Rôma. Khi đào bới lớp đất bao phủ một trại lính Rôma cổ, trên vách một bức tường họ t́m thấy một cây thập giá được một người lính nào đó dùng đinh hay mũi dao cắt một cách vụng về trên tường. Bên cạnh thập giá là h́nh một chàng thanh niên giơ tay chào kính thập giá. Trên thập giá có vẽ h́nh một người nhưng đầu người ấy là h́nh một con lừa. Dưới hai bức h́nh người ta thấy có viết hàng chữ: Alexandre Menos thờ lạy Chúa của hắn. Các nàh khảo cổ cho rằng có thể bức tranh đă được thực hiện khoảng giữa những năm 123 và 126 sau công nguyên. Nếu sự phỏng đoán về niên biểu này đúng th́ đây có thể là h́nh vẽ về thập giá cổ xưa nhất và đồng thời cũng là một thập giá bị nhạo báng. Người ta có thể đọc được ư tưởng đằng sau h́nh vẽ ấy như sau: "Nếu Thiên Chúa mà chết trên thập giá th́ đây là một hành động yếu hèn, khờ dại như hành động của một con lừa. Và cả những người thờ lạy Thiên Chúa trên thập giá cũng là những kẻ ngu dại như lừa". Vào năm 1870, các nhà khảo cổ đă t́m được câu trả lời mà họ nghĩ là của một thanh niên mang niềm tin Kitô tên là Alexandre Menos. Ở một cột trụ bằng đá dựng h́nh một vị thần vốn là thần của chiến tranh, người ta lại đọc được ḍng chữ như sau: "Alexandre Menos vẫn vững tin". Quả thật, h́nh ảnh của một Thiên Chúa bị treo trên thập giá là một h́nh ảnh khủng khiếp. H́nh ảnh này tự nhiên gợi lên sự yếu nhược và khờ dại, nhưng thánh Phaolô lại biện hộ cho những hành động mà người đời cho là điên rồ ấy như sau: "Tiếng nói của thập giá đối với những kẻ hư hỏng là điên rồ. C̣n đối với những người được cứu rỗi, tức chúng ta, th́ đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Thật vậy, người Do Thái đ̣i hỏi phép lạ. Người Hy Lạp t́m kiếm sự khôn ngoan, c̣n chúng tôi th́ giảng về Chúa Kitô chịu đóng đinh vào thập giá, người Do Thái cho đó là xấu xa, c̣n những người ngoại giáo th́ cho là dại dột. Nhưng với tất cả những ai được Thiên Chúa tuyển chọn th́ Chúa Kitô chịu đóng đinh là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa". Thứ sáu Tuần Thánh, chúng ta chiêm ngưỡng sự khôn ngoan và sức mạnh ấy của Thiên Chúa. Từ thập gái ấy chúng ta cũng múc lấy sự khôn ngoan và sức mạnh để vác lấy chính thập giá của mỗi người chúng ta. Một người đàn bà tại trại tập trung Đức Quốc Xă đă viết một lời nguyện và cài vào thi thể của đứa con gái nhỏ của ḿnh. Người đàn bà cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa, xin Chúa không chỉ nhớ đến những người thiện chí mà cũng thương đến những kẻ ác tâm, nhưng xin Chúa đừng nhớ đến tất cả những khổ đau mà họ đă gây ra cho chúng con. Xin Chúa hăy nhớ đến nhữgn hoa quả mà chúng con có được nhờ những đau khổ này, đó là t́nh bạn, sự trung thành, tính khiêm tốn, ḷng can đảm, trái tin quảng đại, tâm hồn cao thượng đă đâm chồi nảy lộc từ những đau khổ ấy. Và khi chúng con ra trước toà Chúa, xin cho những hoa trái ấy trở thành bảo chứng của ơn tha thứ dành cho họ". Bexitanbul, người thiếu nữ đă chết trong cùng một trại tập trung đă thề nguyền không bao giờ thù ghét những cai tù đă từng đánh đập hành hạ cô. Trong cơn hấp hối, người thiếu nữ này đă thốt lên như sau: "Chúng ta phải nói với mọi người những ǵ mà chúng ta đă học được ở đây. Chúng ta phải nói với họ rằng không có giếng nào sâu hơn t́nh yêu của Thiên Chúa". Những lời trên đây đă xuất phát từ miệng của những con người đă bị chính người đồng loại của ḿnh đày vào tầng đáy của địa ngục. Họ đă t́m thấy sức mạnh và lẽ khôn ngoan của thập giá. Lạy Chúa Giêsu, chiêm ngắm và tôn kính Thập giá Chúa trong ngày thứ sáu Tuần thánh xin cho chúng con cũng biết đến kín múc sức mạnh và lẽ khôn ngoan từ thập giá Chúa. Xin cho chúng con biết đón nhận thập giá mỗi ngày và đi theo chân Chúa với tất cả những tín thác và tin yêu.
MẦU NHIỆM PHỤC SINH
rong sứ điệp Phục sinh gửi cho tổng Giáo phận Sidney, Australia, đức cha Goirgie Bens có kể lại gương can đảm của một người phụ nữ Phi Châu như sau: Người đàn bà Phi Châu này hiện đang đứng coi một trung tâm giúp đỡ những nngười túng thiếu và không nhà không cửa. Cụ thể, mỗi ngày bà nấu cơm và dọn cho họ ăn. Chuyện đáng nói là bởi v́ bà, con gái của bà và ngay cả đứa cháu nội bốn tuổi đều đă bị hăm hiếp dă man bởi chính những người đàn ông địa phương.Tội ác đă diễn ra ngay trước trung tâm cứu trợ của bà. Người đàn bà biết rơ những kẻ đă hành hạ bà. Bà vẫn thường thấy họ đi lại trên đường phố, nhưng v́ chế độ tham nhũng cho nên các phiên tào chỉ là tṛ hề và những kẻ gây ra tội ác vẫn không bao giờ bị trừng phạt. Khi được hỏi tại sao giữa những đau khổ như thế bà vẫn có thể tiếp tục sống và giúp đỡ những người hàng xóm và những người túng thiếu khác? Bà trả lời như sau: "Bởi v́ có Chúa đang ở với tôi !" Những người ngoài Kitô Giáo thường tỏ ra khó chịu và đôi lúc bất măn hay nổi giận về thái độ b́nh thản của các tín hữu Kitô khi đứng trước đau khổ. Người phụ nữ Phi Châu được Đức tổng giám mục Sidney đề cao trên đây không phải là một con người bất thường hay vô cảm, bà phải đối phó với nỗi khổ đau khủng khiếp của bà từng ngày, nhưng dù vậy, bà vẫn cảm thấy an b́nh và tiếp tục hy vọng. Sở dĩ người đàn bà này có thể tiếp tục đứng vững như thế không phải v́ bà không c̣n đau khổ nữa mà chỉ v́ Thiên Chúa vẫn có đó và bà vẫn cảm nhận được t́nh yêu của Ngài. Câu chuyện trên đây đưa chúng ta vào trọng tâm của mầu nhiệm phục sinh. Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật và là người thật, đă đến trong thế gian. Và ở tuổi thanh niên, Ngài đă chịu tra tấn, hành hạ và cuối cùng chết treo trên thập giá. Nỗi đau khổ của Chúa Giêsu có thể mang lại niềm an ủi cho chúng ta những lúc chúng ta gặp đau khổ. Ngài đă chết nhưng ba ngày sau đó đă sống lại và ra khỏi mồ. Ngài chứng minh cho chúng ta thấy rằng t́nh yêu và sự sống mạnh hơn đau khổ và sự chết. Phục sinh không chỉ là ngày lễ trọng nhất của Kitô Giáo mà c̣n là một mùa đặc biệt của hy vọng cho tất cả mọi người đang đau khổ. Kỳ thực, có ai trong chúng ta thoát khỏi khổ đau. Ít hay nhiều, mỗi người đều có một thập giá để vác, nhưng Chúa vẫn có đó và Ngài vẫn yêu thương chúng ta. Thứ bảy Tuần thánh, chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu đang nằm trong mộ. Bầu khí tĩnh lặng của nhà thờ gợi lên trong tâm hồn chúng ta sự an b́nh. Đó là sự an b́nh của tin yêu và phó thác. H́nh ảnh của Chúa Giêsu đang an nghỉ trong mồ nhắc nhở chúng ta về h́nh ảnh của hạt giống được gieo vào ḷng đất. Như Ngài đă nói: "Nếu hạt giống được gieo vào ḷng đất mà không thối đi, th́ nó sẽ trơ trụi một ḿnh. Nhưng nếu nó thối đi, nó mới sinh nhiều bông hạt". Những nỗi khổ đau mà chúng ta đang trải qua là những hạt giống cần được gieo vào ḷng đất. Chỉ khi nào chúng ta chấp nhận đặt vào ngôi mộ của Chúa Giêsu những nỗi khổ đau của chúng ta, niềm hy vọng mới bừng lên trong chúng ta và niềm tin yêu và tín thác mới đơm hoa kết trái trong chúng ta. Lạy Chúa Giêsu, chúng con đang chiêm ngắm Chúa trong ngôi mộ. Chúa đang yên giấc để chuẩn bị sống lại. Chúng con xin được đến với Chúa cùng với gánh nặng của bao vất vả sầu đau trong cuộc sống. Xin cho chúng con được kết hiệp với Chúa để cũng được cùng với Chúa sống lại trong con người mới của tin yêu và hy vọng.
TIN MỪNG PHỤC SINH
rong cuốn sách tâm linh bán chạy nhất trong nhiều năm có tựa đề Hy vọng cho loài hoa, tác giả Trina Polous đă viết bằng các h́nh vẽ hơn là bằng chữ, mà những h́nh vẽ lại toàn là những con sâu róm. Con sâu róm sinh ra trên một cành cây, trong một gia đ́nh êm ấm. Một hôm, nó chợt nhận ra ḿnh đă trưởng thành, nó thấy cần phải đi xuống cuộc đời và nó đă ḅ xuống, nó ngạc nhiên tại sao chỉ gặp toàn những con sâu đang hối hả đi về phía trước, nó hỏi chúng đi đâu th́ tất cả đều im lặng không nói ǵ cả. Con sâu róm ṭ ṃ đi theo. Một hồi lâu, nó thấy một cái cột thật cao, đỉnh chạm tới trời. Nh́n kỷ hơn nó nhận ra đó là một cái cột toàn là sâu lúc nhúc đang chen nahu ḅ lên. Nó hỏi trên đó có ǵ không, không ai trả lời. Thấy có một đám đông sâu chen chúc leo lên như thế, nó cũng hoà ḿnh vào và cố gắng gạt bỏ những con sâu khác để đạt muc tiêu, nhưng leo lên đến lưng chừng th́ nó thấm mệt. nghĩ rằng ở trên đỉnh cột cũng chẳng có ǵ đáng để xem nên nó lại trèo xuống. Nhưng rồi con sâu róm lại đâm hồ nghi chính ḿnh. Thấy ḿnh chẳng giống ai, nó liền quan sát kỷ những con sâu khác đang miệt mài trèo lên. Thế là nó ra sức trèo lên một lần nữa. Dĩ nhiên lần này nó hung hăn hơn lần trước. và cuối cùng nó đă leo lên đến đỉnh cao, nhưng cũng chính đó là lúc thất vọng nhất. Trên đỉnh ấy chẳng có ǵ cả. th́ ra cái cột giàu sang cuộc đời này chỉ là một ảo tưởng được tạo bằng chính những con sâu bon chen đặc ra các tiêu chuẩn giá trị. Nh́n sang rừng cây bên cạnh, nó thấy một đàn bướm đủ màu sắc đang tung tăng vỗ cánh thảnh thơi. Nó có dịp lắng đọng nh́n kỹ để phát giác một điều là ở cành cây có treo lủng lẳng những tổ kiến. Đó là cái mồ chôn để sâu chui vào đó lột xác thành bướm. Con đường thật là đau khổ. Nhưng không c̣n con đường nào khác hơn. Tin mừng phục sinh được gói ghém tron môt 5ngôi mộ trống. Ngôi mộ ấy trước tiên xác nhận sự kiện Chúa Giêsu đă chết và đă được mai táng. Cũng như loài sâu đă được vỏ kiến hoá thành làm bướm, Chúa Giêsu cũng đă chết và mai táng trong mồ để phục sinh. từ cái chết và sự phục sinh ấy Chúa Giêsu đă đề ra một quy luật mới cho loài người: Có chết đi mới được sống lại, hạt giống có thối đi mới thành cây, con sâu rụng lông đi mới thành bướm. Mùa phục sinh, chúng ta được mời gọi để nhận ra hiện trạng chúng ta là hạt giống, là con sâu với khát vọng trở thành cây, thành bướm. Và để đạt được ước vọng ấy, chúng ta phải có đủ can đảm chấp nhận bị vùi vào ḷng đất như hạt giống, chui vào tổ kiến và đón nhận khổ đau để chờ ngày được biến dạng. Liệu chúng ta có đi theo tiến tŕnh biến dạng ấy chưa, hay vẫn tiếp tục bám vào lớp bụi bậm của phù du tự đoạ đày ḿnh và làm khỗ người khác? Lạy Chúa Kitô phục sinh, chúa đă đón nhận thân phận con người của chúng con, Chúa đă chết cái chết của chúng con và đă sống lại để mời gọi chúng con sống bằng sự sống của Chúa. Xin cho chúng con cũng biết đón nhận thân phận con người với bao khổ đau của chúng con. Xin nhờ những khổ đau ấy cho chúng được đủ sức cởi bỏ con người củ của tội lỗi để được sống lại bằng sự sống của Chúa.
SỨ ĐIỆP CỨU ĐỘ CỦA KITÔ GIÁO
áng hôm ấy, vào một buổi sáng đẹp trời, bé Hương Lan được ông ngoại đưa tới công viên để chơi. Ông dẫn cháu đi đường tắt, băng qua nghĩa trang thành phố. Vừa đi bé vừa chú ư quan sát những cây thập giá, những h́nh tượng và những b́nh hoa đặt trên các nấm mộ ở hai bên lối đi. Vốn là đứa trẻ thông minh ở tuổi lên bốn, Hương Lan luôn có những câu hỏi sẵn trên môi miệng. Vừa giơ tay chỉ vào những nấm mộ, bé vừa hỏi: - Ngoại ơi, những cái ǵ đây? Ông ngoại giật ḿnh trước câu hỏi bất ngờ, lúng túng không biết phải giải thích thế nào cho bé về vấn đề sự chết. Cuối cùng, ông đành phải nghĩ ra một cách trả lời. Đưa tay chỉ về những căn nhà dưới chân đồi, ông nói: - Họ là những người cũng đă từng sống như những người ở trong những căn nhà dưới kia, nhưng rồi Chúa gọi họ về sống trong nhà của Chúa với các thiên thần. Hương Lan ṭ ṃ hỏi thêm: - Họ có đi theo Chúa về nhà của Chúa với các thiên thần không ngoại? Ông mau mắn gật đầu trả lời cho qua và chỉ mong cháu không hỏi thêm nữa: - Có chứ, họ đă đi theo Chúa về nhà các thiên thần luôn rồi. Bỗng nhiên, bé ngước mắt nh́n ông mỉm cười như vừa hiểu được điều ǵ mới lạ, bé nói thêm: - Ngoại ơi, cháu nghĩ là khi họ đi theo Chúa về nhà Chúa với các thiên thần, họ đă để lại quần áo của họ ở đây phải không? Câu nói tuy đơn sơ dí dỏm của em bé nhưng cũng đă diễn tả được phần nào ư niệm về sự chuyển tiếp từ cái chết của thể xác qua tới sự sống của linh hồn là ǵ. Câu nói của bé gợi lại trong tâm trí chúng ta lời các thiên thần đă nói với bà Madalena và mấy phụ nữ vào sáng sớm ngày chủ nhật phục sinh, khi họ đem dầu thơm đến mộ Chúa Giêsu. Vừa tới mộ, họ thấy tản đá trên mộ đă được lăn sang một bên. Bước vào trong mộ, họ hoảng hốt ngạc nhiên không thấy thi hài của Chúa Giêsu đâu cả, chỉ thấy ngôi mộ trống với khăn liệm và kăn trùm đầu của Ngài c̣n bỏ lại trong mồ mà thôi. Các bà lại nghe thấy tiếng hỏi: " Tại sao các bà lại t́m người sống ở giữa kẻ chết? Người không c̣n ở đây nữa, nhưng đă sống lại rồi. Hăy nhớ lại diều mà Ngài đă nói với các bà hồi Ngài c̣n ở Galilê, là con người sẽ bị nộp trong tay [hường tội loỗi và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sẽ sống lại" (Lc 24,5-7) Các bà liền nhớ lại lời của Chúa Giêsu. Lập tức họ ra khỏi mồ, chạy về báo cho các môn đệ và nhiều người khác những diều họ đă tai nghe mắt thấy. Qua mọi thời đại, biến cố phục sinh của Chúa Giêsu vẫn là tâm điểm của tất cả sứ diệp cứu độ của Kitô giáo. Đối với những người không muốn hiểu và không muốn tin th́ không ngôn ngữ nào có thể diển tả đầy đủ hết được, nhưng đối với những người muốn hiểu th́ không cần đến lời nói nữa. Biến cố phục sinh đă được Chúa Giêsu tiên báo trước nhiều lần cho các môn đệ và cho dân chúng, thế nhưng cản trở lớn có lẽ là v́ ít người coi trọng điều Ngài muốn nói với họ. Chỉ sau thảm cảnh khổ nạn, sau khi họ đă thất trung phản bội, đă nhát đảm trốn chạy bỏ lại Chúa một ḿnh gánh chịu khổ h́nh thập giá, sau khi các môn đệ trông thấy tận mắt, nghe tận tai, đựoc chạm tới Ngài, lúc đó họ lới hiểu và mới tin vào Ngài, để rồi trở thành những chứng nhân can đảm của Chúa Phục sinh. Cũng một cách tương tự trong đời sống mỗi người chúng ta hôm nay, mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu sẽ có ư nghĩa và tác động mạnh tron gt âm hồn những ai đă cảm nghiệm được sự gịn mỏng, những đổ vỡ và sứt mẻ của con người thật là ǵ. Càng đi sâu vào trong thâm tâm, càng nhận rỏ những lo sợ của con người tội lỗi, hư hèn, đấy thất bại, chúng ta sẽ càng khao nhát t́m kiếm Tin mừng giải thoát và mong muốn được nghe tin mừng của chiến thắng. trái lại, bao lâu chúng ta chưa xác tín ḿnh là kẻ tội lỗi, bấy lâu chúng ta vẫn chưa thấy cần tới vị cứu tinh để giải thoát khỏi ách nạn của tội lỗi ḿnh. Bước đường từ sự chết đă chiến thắng phục sinh là con đường cởi bỏ, là chấp nhận cởi bỏ áo củ của thân xác,tháo gở những trói buộc của con người củ và tội lỗi để mặc lấy con người mới được giải thoát nhờ ơn thánh. Lạy Chúa Kitô, Chúa đă sống lại khải hoàn rồi, nhưng cho tới nay biết bao nhiêu người vẫn c̣n chưa được ánh sáng phục sinh của Chúa chiếu soi. Xin ánh sáng phục sinh của Chúa chiếu soi và đổi mới tất cả đời sốngcon, để mỗi ngày c̣n lại của đời con là như ngày thứ nhất trong tuần, là ngày lễ phục sinh, là bắt đầu đời sống mới để rồi như những phụ nữ Do Thái và như các tông đồ, con biết ra đi rao truyền tin mừng Chúa phục sinh đến cho mọi người.
SỰ SỐNG BẤT DIỆT
ôm ấy, một hoàng tử nọ và ba vị cận thần lên đường kinh lư kiễm tra đất nước rộng lớn của vua cha. Khi tới trên đỉnh núi cao, hoàng tử đưa mắt nh́n xuống miền dất mênh mông phía dưói. Một lúc , hoàng tử ngậm ngùi lên tiếng: - Ôi, quê hương thân mến! Ôi đất nước dấu yêu! Ngươi thật xinh đẹp biết bao với những thung lủng êm dịu, những mặt hồ trong xanh đầy ánh sáng, những cánh đồng với những cánh hoa muôn màu sắc, những núi đồi hùng vĩ và những khu rừng tĩnh mạc êm đềm. Thế nhưng, ta sẽ phải chết và sẽ phải từ biệt ngươi, sẽ không bao giờ c̣n được chiêm ngắm vẻ đẹp của ngươi nữa. Ôi , sự chết, nhưng tại sao phải có sự chết? Rồi hoàng tử buồn sầu nức nở. thấy vậy, hai vị cận thần cũng mũi ḷng khóc theo. Họ than thở và t́m cách ủi an hoàng tử. Trong khi đó, vị cận thần thứ ba chỉ mỉm cười và không một lời phát biểu. Về tới triều đ́nh, hoàng tử gọi vị cận thần thứ ba đến và ttrách hỏi: - Hôm nay, khi đứng trên núi cao, tâm hồn ta buồn sầu khôn tả. Trong khi hai cận thần kia t́m cách an ủi ta, c̣n ngươi, tại sao ngươi chẳng nói ǵ mà lại mĩm cười như thế? Vị cận thần thứ ba khôn ngoan trả lời: - Tâu lạy hoàng tử. xin hoàng tử hăy nghĩ lại xem. nếu những vị danh nhân đại tướng từ trước đến nay tiếp tục sống măi, không ai phải chết, đời sống họ sẽ ra thế nào và vận mệnh thiên hạ sẽ ra sao? Nếu hoàng đế vua ông nội của hoàng tử không phải chết th́ làm sao vua cha của hoàng tử có thể lên ngôi kế vị được? Nếu vua cha của hoàng tử tiếp tục sống măi th́ làm sao hoàng tử có thể cai trị trên ngai vua cha được? Nếu như tất cả các hoàng tử và các vua chúa trên trần gian này c̣n tiếp tục sống măi th́ lúc này hoàng tử sẽ thế nào? Hôm nay hạ thần đă nh́n thấy một hoàng tử thiếu hiểu biết sự thật về thân phận con người, laạithêm hai vị cố vấn chỉ biết nịnh bợ vuốt ve sự khờ dại của hoàng tử nữa th́ làm sao mà hạ thần không thấy buồn cười cho được? Lời nói khôn ngoan của vị cận thần thứ ba đă làm cho hoàng tử thức tỉnh và cảm thấy hỗ ngươi v́ sự khờ dại của ḿnh. Hoàng tử nói thêm: - Sau này, khi giờ chết đến, ta chỉ muốn một ḿnh ngươi bên cạnh giường ta mà thôi. Là con người, ai lại không sợ chết. Bởi v́ biết rỏ những ǵ phải bỏ lại đàng sau, nhưng không biết trước mắt sẽ gặp thấy điều ǵ, chính v́ những điều chưa biết đó làm cho con người thêm băn khoăn và lo sợ. Tuy nhiên, trên trần gian này không có chân lư nào chắc chắn hơn sự chết. Mỗi người sinh ra trên trần gian đều phải chết, tuy không ai biết được chính xác ḿnh sẽ chết khi nào, chết caách nào và chết ở đâu. Thế nhưng, đâu phải tất cả mọi người đều nghĩ đến cái chết của ḿnh. biết bao người sống như thể là sẽ không bao giờ phải chết hoặc v́ dửng dưng, hoặc v́ cố t́nh muốn gạt bỏ nó sang một bên dể khỏi bận tâm dến cuộc sống hiện tại của họ. Chúa Giêsu tuy là con một của thiên Chúa haằng sống và là nguồn mạch sự sống, nhưng đă tự nguyện mặc lấy thận phận con người hay chết, và hơn nữa là muốn chấp nhận cái chết khổ nhục trên thập giá để nhắc nhở con người thực tại về sự chết là ǵ và đâu là con đường dẩn dến sự sống hạnh phúc thật, sự sống bất diệt. Đó là là con đường cứu độ qua mầu nhiệm đau khổ của thập giá và của sự chết. Ơn cứu độ của Chúa Giêsu đă tác dộng trên con người toàn diện, bắt đầu tự trong thâm tâm, từ sự nhận biết và chấp nhận con người thật với tất cả những hạn hẹp của ḿnh. Dó là bước đầu tiên tháo gỡ ḿnh thoát khỏi những trói buộc nô lệ, để bắt đầu sự giải thoát. Con đường cứu thoát đ̣i hỏi sự chết đi liên tục để bắt đầu con đường sống thực sự. Đ̣i hỏi ḷng can đảm và sức mạnh vào ḷng tin của Chúa Kitô là Đấng đă toàn thắng sự chết để mở ra chân trời mới của sự sống bên kia sự chết. Trong Phúc âm, trước khi bước vào con đường khổ nạn, Chúa Giêsu đưa ba môn đệ thân cận nhất lên núi cao và cho họ thấy trước vinh quang của Ngài để củng cố niềm tin của họ, để họ không nản ḷng thất vọng v́ sẽ phải đứng trước cái chết khổ nhục của Ngài, v́ biết rằng đó là ngưỡng cửa dẫn vào vinh quang của sự sống bất diệt. Con đường cứu dộ đó không thể nào chỉ dừng lại trong vinh quang của núi Tabor, nhưng là vững bước cùng Chúa vác thập giá tiến lên núi sọ qua sự chết đi từng ngày tron cuộc sống của ḿnh. Chết đi cho tính kêu ngạo, cho ḷng ích kỷ tự ái và thói hư nết xấu để sống cho Chúa trong tinh thần phục vụ và yêu thương. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đă phán bảo chúng con rằng: "Không có t́nh yêu nào lớn hơn cho bằng hiến dâng mạng sống v́ người ḿnh yêu mến." Xin giúp con can đảm chấp nhận chết đi từng giây phút tron người củ của con, để bắt đầu sống cho Chúa ngay từ phút này, để con biết nhận ra Chúa nơi anh em con. Và để những người chung quanh cũng nhận ra Chúa trong cuộc sống con.
TUYÊN XƯNG L̉NG TIN
ại nhà thương tâm thần kia có một bệnh nhân luôn nghĩ ḿnh là người chết. Bác sĩ đă t́m đủ mọi phương cách điều trị nhưng vẫn vô hiệu, không ǵ có thể làm cho người ấy thay đổi năo trạng được. Cuối cùng, bác sĩ t́m ra một phương cách khác. Sau nhiều thời gian lư luận và thuyết phục, bác sĩ đă giúp bệnh nhân đồng ư rằng người chết không có sự sống nữa, v́ thế không c̣n máu lưu thông và không bị chảy máu nữa. Được sự đồng ư của bệnh nhân, bác sĩ lấy kim chích vào đầu ngón tay của người ấy và cố gắng nặn cho máu chảy ra. Từng giọt máu nhỏ ra trước mắt người bệnh nhân đủ để cho người ấy nh́n thấy rơ. Bác sĩ tuyên bố: - Như ông nh́n thấy, đó là những giọt máu từ ngón tay ông đang chảy ra. Thân thể ông c̣n máu lưu thông, v́ vậy ông là người sống chứ không phải là người chết nữa. Bệnh nhân trố mắt nh́n những giọt máu chảy ra nhưng vẫn cố chấp không tin, rồi ông ta ngẩng mặt lên nh́n bác sĩ và nói: - Nhưng bác sĩ đâu có biết hết mọi sự. Xác chết vẫn c̣n chảy máu được. Chúng ta thường nghe nói: "Không ai mù cho bằng người không muốn nh́n thấy". Nh́n vào xă hội, những h́nh thức kỳ thị màu da tiếng nói, những đố kỵ giữa người quyền cao chức trọng và giới cùng đinh, giữa người giàu sang và kẻ không có tiền. v. v... tất cả đều là những triệu chứng của bệnh mù loà. Có những thứ mù loà của tâm hồn c̣n trầm trọng hơn sự mù loà của con mắt thể xác. Khi chúng ta chỉ bận tâm để ư tới những cái rác trong mắt người khác và quên cái xà trong mắt ta cũng là người mù vậy. Có thể nói được rằng mỗi người chúng ta đều có một thứ mù loà nào đó hoặc thể xác, hoặc tâm thần, hoặc về mặt thiêng liêng. Ngay từ thời ban đầu, khi nguyên tổ nhân loại được tạo dựng, ông Adong đổ tội cho bà Eva, bà Eva đổ tội cho con rắn đă cám dỗ bà bất tuân lệnh truyền của Chúa. Từ ngày đó, con người cũng được thừa hưởng thói hư nết xấu, chạy tội và chối bỏ những điều không muốn nh́n thấy nơi bản thân ḿnh. Trong Phúc âm, khi thuật lại việc Chúa Giêsu chữa lành người mù từ lúc mới sinh, thánh sử Gioan nhấn mạnh sự tiếp xúc trực tiếp giữa Chúa Giêsu và người mù. Ngài có thể chữa lành cho ông bằng một lời nói từ đàng xa. Nhưng không, Ngài đă muốn chữa lành bằng sự tiếp xúc trực tiếp với người mù và qua việc tuyên xưng đức tin của người ấy. Ngài đến gần, nhổ xuống đất, lấy nước bọt trộn thành bùn và xoa bùn trên mắt người ấy và bảo hăy đi rửa trong ao Siloe. Người ấy đi rửa và được sáng mắt, không những mắt của thể xác mà c̣n cả con mắt tâm hồn và ông đă nhận ra Ngài. Bất chấp sự đố kỵ và cố chấp của giới thủ lănh, sau cùng ông đă mạnh dạn tuyên xưng: "Lạy Chúa, con tin Ngài là Con Thiên Chúa". Trong mỗi người đều có một góc tối tăm mà chúng ta không muốn nh́n kỹ vào để được thấy tỏ tường, nhưng đó lại chính là nơi cần được ánh sáng của Chúa chiếu soi, v́ chỉ có chân lư của Chúa mới giải thoát con người khỏi cảnh mù loà. Để được chữa lành những sự mù loà của tâm hồn, chúng ta cần có can đảm đến gần Chúa, để Ngài nh́n thẳng vào cặp mắt, nh́n tận vào tâm hồn ta, cần khiêm tốn xưng thú sự mù loà của chúng ta và cầu xin Chúa chữa lành cho chúng ta, cần tuyên xưng ḷng tin vào quyền phép của Chúa có thể chữa lành và xin Ngài kiện cường ḷng tin c̣n quá yếu nhước của ta. Và một khi đă cảm nghiệm ḿnh được chữa lành, lúc đó, ḷng tin sẽ càng thêm vững mạnh. Lạy Chúa Xin cho con được chữa lành, đó là một lời cầu xin đơn sơ và ngắn gọn, nhưng nếu lời cầu xin đó được phát sinh tận đáy ḷng khiêm tốn chân thành, lời cầu xin đó sẽ có sức mạnh lạ thường. Ông Batimeo, người mù ngồi ăn xin bên đường, khi nghe biết Chúa Giêsu sắp đi ngang qua ông đă lớn tiếng kêu xin Ngài cứu chữa, cả khi người ta doạ nạt bảo im đi, ông ta lại càng lớn tiếng kêu xin hơn và Chúa đă chữa lành ông. Trong các phép lạ Phúc âm thuật lại, điều kiện cần thiết để được Chúa Giêsu chữa lành luôn là ḷng tin. Nhiều lần Ngài hỏi các bệnh nhân đến kêu xin Ngài: "Con có tin Ta có thể chữa lành con đuợc không?" Lạy Chúa là chân lư và là sự sáng, con tin Chúa. Biết bao lần ḷng kêu ngạo và tính tự phụ đă làm con hoá ra mù loà không c̣n biết nhận ra Chúa nữa, con đă từng tạo cho con h́nh ảnh của Chúa theo hoạ ảnh con người hèn mọn của con thay v́ nhận ra sự cao cả của Chúa qua vũ trụ và qua sự hiện diện của Chúa những khi Chúa đi ngang qua bên cạnh con, qua những người đau khổ, qua sự tốt lành của những người xung quanh con, qua nụ cười tươi nở của những đứa trẻ con gặp. Lạy Chúa, xin đặt tay Chúa vào mắt con để con nhận biết Chúa. Xin đặt tay Chúa trên trái tim con để con biết yêu mến và tin tưởng vào Chúa, v́ Chúa đă muốn nên bạn đường đồng hành với con trên con đường đức tin.
BAN TẶNG SỰ SỐNG
ột văn sĩ nổi tiếng người Hy Lạp ghi lại trong sách sử mẩu chuyện sau đây: Một hôm, vua Alexandre đến nhà triết gia Diojénais gặp lúc ông đang khảo cứu những bộ xương khô. Mỗi bộ xương được đặt trong một hộp khác nhau. Vừa bước chân vào nhà, vua Alexandre ngạc nhiên hỏi Diojénais đang làm ǵ, triết gai thản nhiên đáp: - Tôi đang suy nghĩ về những vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống con người. Chẳng hạn như hai bộ xương này đây. Một hộp chứa đựng bộ xương của thân phụ vua, và hộp kia đựng bộ xương của người nô lệ đă nhiều năm phục vụ trong đền vua. Tôi đă mất nhiều thời gian quan sát rất kỹ lưỡng, nhưng bây giờ tôi phải thú nhận rằng tôi không thấy có ǵ khác biệt giữa hai bộ xương khô này cả. Tất cả mọi người sinh ra trên trần gian này đều phải chết. Và sau khi chết, thân xác con người cũng đều trở về tro bụi như nhau, v́ thân thể con người được nhồi nặn lên từ bụi đất. Thế nhưng, không phải tất cả mọi người sinh ra đều thực sự sống và sống cách tốt lành như cuộc đời đáng sống. Điều khác biệt là sống với niềm tin vào sự sống hay là chỉ tồn tại cách trống rỗng, vô niềm tin. Đối với những người có ḷng tin, th́ sự sống là món quà cao quí nhất Thiên Chúa ban tặng cho tất cả mỗi người được may mắn sinh ra trên trần gian này. Đời sống là cả một kho tàng Thiên Chúa gởi gắm và trao tặng trong tay mỗi người, để giữ ǵn, bảo tŕ và tăng triển. Sự sống là một hồng ân cao trọng ban tặng cách nhưng không, đồng thời cũng là một trách nhiệm lớn phải tôn trọng và bảo vệ sự sống. Tuy nhiên con người không phải là ông chủ có toàn quyền trên sự sống ḿnh. Trong Phúc âm, Chúa Giêsu tuyên bố: " Chỉ một ḿnh Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống, và chỉ ḿnh Ngài mới có toàn quyền trên sự sống của mỗi người" . Khi Chúa Giêsu làm phép lạ cho con gái ông Giairô sống lại, khi Ngài chạm tay vào quan tài và truyền cho cậu thanh niên con bà quả phụ thành Naim đă chết được ngồi dậy, khi Ngài đứng trước mộ đá và lên tiếng gọi ông Lazarô đă được chôn táng trong mồ bốn ngày "Hăy chỗi dậy ra khỏi mồ" , tất cả những sự lạ phi thường đó chứng tỏ Ngài là sự sống lại và là sự sống thật, Ngài có thể ban tặng cho ai và có thể cất đi lúc nào tuỳ theo ư muốn của Ngài, Ngài có thể tự hiến dâng đời sống ḿnh và cũng có quyền lấy lại sự sống ấy nữa. Ngài c̣n tuyên bố thêm rằng :" Ai tin Ta, dù đă chết, cũng được sống lại. Vả lại hễ ai c̣n sống mà tin Ta, sẽ không phải chết đời đời" (Ga 11, 25-26). Chúa Giêsu đến trần gian này để ban tặng sự sống và để những ai tin vào Ngài sẽ được sống dồi dào hơn. Tự nguyện chấp nhận thân phận con người, Chúa Giêsu muốn nói lên giá trị của đời sống. Ngài yêu chuộng sự sống và tất cả những ǵ thuộc về sự sống. Ngài cũng mủi ḷng xúc động trước cái chết của thân nhân bạn hữu như sự mất mát lớn. Ngài cũng khóc với những giọt nước mắt của t́nh thương, nhưng không phải của thất vọng, bởi v́ chính Ngài là sự sống và những ai tin vào Ngài, th́ bên kia sự chết không phải chỉ c̣n nắm xương khô, nhưng sẽ được sống đời đời. Như Chúa Giêsu đă hỏi bà Matta trước cái chết của ông Lazarô, Ngài cũng tiếp tục đặt câu hỏi cho mỗi người chúng ta: "Con có tin thật Ta là sự sống và là sự sống lại chăng?". Lạy Chúa Giêsu, quả là diều an ủi vui sướng biết bao khi biết rằng có Chúa ở gần chúng con trong thân xác loài người như chúng con. Chúa không phải là Thiên Chúa lạnh lẽo và xa lạ, nhưng Chúa cũng mang trong tâm hồn tất cả những cảm xúc như chúng con. Chúa hiểu rơ giá trị t́nh bạn nghĩa thiết, trái tim Chúa cũng biết rung động v́ vui mừng và đau khỗ. Nhưng tiếc thay, chúng con lại không giống Chúa. Biết bao lần những cảm xúc cá nhân đă đóng kín chúng con lại trong cái mồ của ḷng ích kỷ. Nước mắt của Chúa cũng đủ để đẩy tảng đá lớn cho cửa mồ sang một bên và hoàn trả sự sống, đem lại niềm vui sướng cho tâm hồn. Lạy Chúa, xin ban cho mỗi người chúng con một trái tim như Chúa. Xin Chúa hăy mở toan tảng đá che cửa mồ là tội lỗi chúng con và thắp sáng lên trong tâm hồn chúng con niềm hy vọng của đời sống mới, đời sống thật và đời sống vĩnh cửu.
TIN TƯỞNG VÀO T̀NH THƯƠNG CỦA CHÚA
ột thương gia nọ rất giàu có và nổi tiếng là hay kiêu hănh. Một hôm, trong cuộc giao tranh v́ tiền bạc, ông ta lỡ tay sát hại thù địch. Lần đầu tiên bàn tay nhà thương gia bị dính máu và từ ngày đó mối ân hận trở nên như khối đá đè nặng tâm hồn ông. H́nh ảnh người thù địch bị sát hại oan ức luôn theo đuổi ông nhu h́nh với bóng, làm ông ta ban đêm thao thức mất ngủ, ban ngày mất an b́nh không làm được việc ǵ nữa. Cuối cùng, ông quyết định t́m đến một linh mục để xưng thú tội ḿnh với hy vọng t́m lại được sự an b́nh cho tâm hồn. Vị linh mục khuyên bảo ông thực ḷng ăn năn sám hối và cương quyết đền bù tội phạm. Ông ta về nhà bán hết mọi tài sản bố thí cho kẻ nghèo khó rồi rút lui vào rừng vắng cầu nguyện, ăn Chay, phạt xác để đền tội. Thế nhưng, người ấy vẫn không thể nào t́m được chút an b́nh cho tâm hồn. Một hôm, trong đêm tối, người thương gia nằm mơ thấy Chúa Giêsu hiện đến và phán bảo: - Hỡi con, con c̣n một điều nữa vẫn chưa dâng hiến hết cho Cha. Run sợ, người ấy thưa: - Lạy Chúa, con đâu c̣n ǵ để dâng hiến cho Chúa nữa. Con đă dâng hiến cho Chúa tất cả rồi, nào là tiền bạc, của cải, nhà cửa, vợ con và mọi thứ thú vui thế trần. Cả đời sống con nữa, con cũng đă dâng hiến cho Chúa hết rồi, con chỉ c̣n tấm thân xơ xác này đây thôi. Nếu Chúa thấy con c̣n ǵ có thể dâng hiến Chúa nữa th́ xin Chúa hăy phán bảo, con xin sẵn sàng hiến dâng Chúa ngay. Với cặp mắt đầy nhân từ, tha thứ, Ngài phán: - Hỡi con yêu dấu. Ta biết, con vẫn c̣n một tài sản riêng của con nữa chưa hiến dâng cho Ta, con hăy cho Ta các tội lỗi của con. Ta muốn xin tất cả mọi tội lỗi của con. Nếu con vẫn c̣n muốn giữ lại những tội lỗi ấy th́ làm sao Ta có thể tẩy rửa hết để ban tặng cho con niềm vui sướng, an b́nh và ơn tha thứ của Ta được. Mỗi người chúng ta thử đặt ḿnh dưới chân Chúa và để cho lời nói của Ngài vang dội trong tâm hồn chúng ta. Lời của Chúa là lời đầy an ủi và khích lệ biết bao, nhất là khi chúng ta nhnậ ra con người xấu xa và những tội phạm của ḿnh. Đối với nhữgn người thành tâm thống hối và quyết tâm cải tà qui chính, lời của Chúa không phải là lờituyên án tử h́nh, nhưng là lời tha thứ, là lời ân xá của t́nh thương vô biên không đạt giới hạn. Chính v́ thế mà Ngài đă tự hạ ḿnh và tự nguyện sống hoà ḿnh giữa loài người để cảm thông những yếu hèn của chúng ta và để cùng đồng hành với mỗi người. Chính v́ biết nhân loại cần được tha thứ nên Ngài đă tự hiến ḿnh để chuộc lại những ǵ đă hư mất. V́ thế, càng tiếp xúc với thực tại sứt mẻ của ḿnh, chúng ta càng cảm thấy cần được Ngài giơ tay chữa lành và nâng chúng ta dậy khỏi những bùn lầy của tội lỗi. Đó cũng là lúc chúng ta làm cho Chúa hài ḷng, v́ chúng ta nh́n nhận Ngài thực sự là Thiên Chúa toàn năng và đầy ḷng nhân từ xót thương. Khi Chúa Giêsu đồng hành với các môn đệ trên biển cả yên lặng, Ngài nằm ngủ trong thuyền nhưng các môn đệ đâu có ư thức được sự hiện diện của Ngài giữa các ông. Đến khi sóng to gió lớn nổi lên làm thuyền họ suưt bị ch́m, lúc đó họ mới tới đánh thức Ngài dậy và cầu xin để được Ngài cứu vớt. Cũng vậy, đối với những người c̣n có ḷng tin tưởng vào t́nh thương của Chúa, th́ sự ư thức được tội lỗi của ḿnh không phải là lư do để thất vọng hoặc để trốn chạy xa Chúa. Trái lại, đó là thời điểm của ơn thánh, là tiếng Chúa gọi để chỗi dậy trở về với t́nh thương tha thứ của Ngài, đó là lúc chúng ta có thể tuyên xưng một cách chân thực rằng: Lạy Thiên Chúa là Đấng cứu độ con, là nơi con nương tựa và con sẽ không bao giờ phải hổ ngươi thất vọng. Con đặt hết tin tưởng vào Lời Chúa, cho dù tội lỗi của con có đỏ như gấc và đen như mực, nhưng chỉ cần một cái nh́n xót thương của Chúa thôi, chỉ cần một giọt máu của Chúa thôi, cũng đủ để thanh tẩy con trở nên trắng hơn. Lạy Chúa, con trông cậy vào t́nh thương tha thứ của Chúa.
SỐNG NIỀM TIN PHỤC SINH
ột linh mục làm tuyên uư nhiều năm tại thượng viện Hoa Kỳ thường kể lại câu chuyện Người giữ mùa xuân như sau: Người giữ mùa xuân là một nông dân người Áo âm thầm sống trong một ngôi làng dọc theo dăy núi Al. Từ nhiều năm qua, ông đă được hội đồng của một thành phố thuê vớt những lá cây rừng rơi xuống một ḍng suối nhỏ chảy xuyên qua thành phố. Hàng ngày, người nông dân già này đi dọc theo ḍng suối vớt lên từng chiếc lá ra khỏi ḍng suối. Nhờ vậy, ḍng suối lúc nào cũng trong mát và thu hút được nhiều người đến nghỉ mát và cắm trại bên cạnh bờ suối. Năm tháng qua đi, một buổi tối nọ, Hội đồng thành phố mở phiên họp bán niên. Khi xem lại ngân sách, một nghị viên bỗng chú ư đến số tiền được dành để trả lương cho người nông dân già chuyên vớt lá bên ḍng suối. Có người thắc mắc người nhân viên này là ai? Tại sao chúng ta cứ phải trả lương cho một người mà chúng ta chưa bao giờ thấy mặt? Bây giờ th́ ḍng suối lúc nào cũng tươi mát rồi, thiết tưởng không cẩn giữ lại người nhân viên này một cách vô ích nữa. Người ta biểu quyết và đi đến kết kuận sa thải người nông dân già. Vài tuần lễ sau đó thị dân không thấy có thay đổi nào, ḍng suối vẫn tươi mát. Nhưng khi mùa thu đến, cây rừng bắt đầu ngả màu, lá bắt đầu rụng, những cành cây khô bắt đầu đổ xuống, rác rưởi bắt đầu ứ lại một vài nơi trong ḍng suối. Một buổi chiều nọ, ai đó nhận ra rằng ḍng suôi đă ngả màu nâu. Vài ngày sau đó, nước bỗng trở nên đen thẫm. Chỉ trong một tuần lễ sau, người ta đă bắt đầu ngửi được mùi hôi thối, những con Thiên nga đă từng bơi lội trong ḍng suối cũng biến mất, du khách cũng vắng tanh. Một vài chứng bệnh lạ cũng xuất hiện trong thành phố. Hội đồng thành phố liền triệu tập một phiên họp khẩn cấp. Nhận ra sự sai lầm của ḿnh, họ liền cầu cứu người giữ mùa xuân. Chỉ vài tuần lễ sau khi người giữ mùa xuân trở lại làm việc, ḍng suối lại trở nên tươi mát như cũ. Sự sống trở về với thành phố. Với sức sống mới của mùa Phục Sinh, chúng ta ư thức lại sứ mệnh của người tín hữu Kitô trong trần thế. Chúa Giêsu bảo chúng ta hăy trở nên muối đất và ánh sáng thế gian. Dù âm thầm, nhưng vai tṛ của người giữ mùa xuân trong câu chuyện trên đây không thể thiếu được cho ḍng suối chảy qua thành phố. Thế giới sẽ như thế nào nếu thiếu muối của niềm tin và ánh sáng hy vọng của người tín hữu Kitô? Những lần hiện ra của Chúa Kitô phục sinh mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe và suy niệm trong những ngày này ghi lại một chi tiết đầy ư nghĩa. Ngài đến như một người vô danh, có khi như một người làm vườn, có lúc như một người bộ hành hoặc như một người vô dnah trên băi biển. Ngài hiện đến giữa lúc các mon đệ đang vất vả lao nhọc. Ngài chia sẻ bữa cơm với các ông. Ngài đến trong đời thường của họ. Quả thật, cuộc sống âm thầm độc điệu mỗi ngày là nơi Ngài chọn như những giây phút ưu việt để đến với con người. Chính trong đời thường ấy mà họ phải luôn tỉnh thức để nhận ra Ngài. Chính qua cuộc sống âm thầm ấy mà họ cần phải làm chứng cho Ngài. Sống niềm tin phục sinh hôm nay là qua những gặp gỡ mỗi ngày nhận ra được Chúa Kitô trên gương mặt của mỗi người. Sống niềm tin phục sinh hôm nay là qua những công việc mà bổn phận âm thầm hàng ngày t́m kiếm và xây dựng những giá trị vĩnh hằng. sống niềm tin phục sinh hôm nay là qua những khổ đau từng ngày vẫn cố gắng chiếu lên niềm tin yêu và hy vọng cho mọi người chung quanh. Lạy Chúa Kitô Phục sinh, xin cho chúng con luôn vững tin rằng Chúa đang đồng hành với chúng con. Xin dâng lên Chúa cuộc sống âm thầm , đồng dạng từng ngày để được trở thành muối đất ướp mặn đời và ánh sáng cho cho mọi người.
TRỌNG TÂM VÀ TỘT ĐỈNH CỦA NIỀM TIN
iện nay tại Hoa Kỳ, một số người dường như muốn trở về với Ai Cập thời cổ. Họ đăng kư để được ướp xác sau khi qua đời. Công ty ướp xác tại ban Uhta hiện đă nhận được đơn của trên một trăm bốn mươi người. Giám đốc của công ty nói rằng các thân chủ của ông không muốn quay về với kiếp bụi tro và bị muôn đời lăng quên. Họ muốn được nhắc nhở sau khi chết. Họ muốn được tiếp tục sống một cách nào đó. Được trường sinh bất tử xem ra vẫn là giấc mơ của nhiều người Mỹ hiện nay. Ước mo này cũng được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Đề tài sôi nổi trong các trung tâm chăm sóc sức khoẻ hiện nay vẫn là được trường thọ. Hai cuốn sách được báo New York Times xếp vào hạng bán chạy nhất và khuyến khích đọc là Yếu tố giúp sống lâu và Một thân xác không có tuổi, một tâm trí siêu thời gian. Cuốn sách thứ nhất khuyên người ta phải ăn uống cho đủ sức để sống lâu; cuốn sách thứ hai gồm những lời khuyên của một người Ấn Giáo. Tác giả khẳng định rằng thân xác chúng ta là sự sáng tạo của tâm trí chúng ta. Chúng ta có thể kiểm soát được sức khoẻ của chúng ta và sống lâu hơn nhờ làm chủ được ư thức của chúng ta. Xă Hội tục hoá đang cố gắng để ngày càng trở nên thế tục hơn, nghĩa là thoát khỏi điều mà nó gọi là những ṿng vây hăm của Kitô Giáo, nhất là loại bỏ được giáo thuyết của Kitô Giáo về cuộc sống mai hậu. Nhưng càng cố gắng loại bỏ ảnh hưởng của Kitô Giáo, con người lại càng rơi vào một lỗ hỗng tinh thần để rồi cuối cùng phải t́m đến những tôn giáo khác, mà cốt lơi cũng chính là khác vọng trường sinh bất tử. Thuật ướp xác của người Ai Cập thời cổ hay thuốc trường sinh của Tần Thuỷ Hoàng đang được con người thời đại làm cho sống lại. Khát vọng trường sinh bất tử là vật chứng mà Thiên Chúa đă gieo sâu vào lóng người. Thời Ai Cập cổ hay hiện đại, dưới nhữgn h́nh thức khác nhau, nhưng khác vọng ấy vẫn giống nhau. Ở đâu và ở thời đại nào con người cũng cảm thấy rằng nếu cái chết thực sự là một tận cùng vĩnh viễn, th́ tất cả những thành tựu trong cuộc sống này đều vô nghĩa. Nấm mồ là sự chế nhạo dành cho mọi hy vọng và lư tưởng của con người. Chính v́ thế mà con người vẫn luôn luô đi t́m kiếm một cái ǵ đó bên kia cuộc sống này. Thiên Chúa đă gieo hạt giống bất tử trong tâm hồn chúng ta. Vấn đề được đặt ra cho mỗi người là hoặc là làm những cái xác ướp, hoặc là hướng về sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô. Khi sống lại từ cơi chết, Chúa Giêsu đă chiến thắng sự chết. Biến cố này đă thực sự diễn ra trong lịch sử cho nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đă trở thành con đường dẫn đến sự sống vĩnh cữu. Phục sinh là trọng tâm và tột đỉnh của niềm tin. Như thánh Phaolô đă quả quyết: "Nếu Chúa Kitô không sống lại, niềm tin của chúng ta chỉ là hăo huyền, và chúng ta là những kẻ khờ dại nhất trên trần gian này". Sự sống lại của Chúa Kitô chính v́ là trọng tâm và tột đỉnh của niềm tin cho nên cũgn đ̣i hỏi nơi người tín hữu Kitô một thái độ tận căn. sự phục sinh ấy phải là động lực của mọi cố gắng, hy vọng và ư tưởng của họ. Sự phục sinh ấy phải là linh hồn của mọi sinh hoạt và gặp gỡ của họ. Sự phục sinh ấy phải là ánh sáng hướng dẫn mọi suy nghĩ, hành động và cư xử của họ. Lạy Chúa Kitô Phục sinh, Chúng con tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến. Xin cho niềm tin của chúng con không chỉ được biểu dương trên môi miệng, mà c̣n phải được diễn tả bằng cả cuộc sống của chúng con. Giữa những tăm tối của ích kỷ và thù hận. Xin cho niềm tin phục sinh của chúng con luôn được chiếu sáng bằng cuộc sống hiến thân, hy sinh vô vị lợi. Dưới những bóng đêm của thất vọng, xin cho niềm tin phục sinh của chúng con luôn khơi dậy niềm hy vọng và tin yêu.
ÁNH MẮT ĐỨC TIN
hững tấm gương giàu ḷng nhân ái vẫn luôn luôn được đề cao. Hiện nay tại Việt Nam, nhiều người đă biết tới tên của bác sĩ Jerry, người đứng đầu tổ chức chuyên giải phẫu miễn phí cho các em dị tật bẩm sinh. Cho đến nay đă có gần hai trăm trẻ em Việt Nam hưởng được sự trợ giúp của tổ chức này. Sinh năm 1957, ngay từ khi được ba tuổi, bác sĩ Jerry đă ước mơ trở thành một bác sĩ giống như các bác sĩ hay đi giúp đỡ người khác ở các nhà thờ. Năm hai mươi ba tuổi, chàng thanh niên Jerry bước chân vào ngành y khoa ở trường đại học Harvard. Con đường sự nghiệp đầy hứa hẹn, bác sĩ Jerry có thể dễ dàng kiếm được nhiều tiền nhưng h́nh ảnh của các bác sĩ chuyên đi cứu giúp người khác vẫn luôn đeo đuổi ông. Năm 1993, bác sĩ Jerry vận động bạn bè quen biết để thành lập một Hội bác sĩ từ thiện chuyên giải phẫu hàm mặt. Tháng 1/ 1995, đoàn bác sĩ do Jerry làm trưởng đoàn đă quyết định sang Việt Nam. Ca đầu tiên mà bác si Jerry gặp là một em bé có khuôn mặt giống người sói. Em bé này không hề biết đến nụ cười và cũng chưa bao giờ được đặt chân tới bất cứ trường học nào. Bác sĩ Jerry đă thực hiện ca phẫu thuật tạo h́nh này suốt sáu tiếng đồng hồ để trả lại nụ cười cho em bé. Sau ca mổ, bà ngoại của em bé này chấp tay cung kính trước mặt ông và nói rất nhiều. Mặc dù không biết một chữ tiếng Việt nào, bác sĩ Jerry cũng cảm đông vô cùng v́ hiểu đó là nhữgn lời cám ơn chân thành nhất. H́nh ảnh của bà ngoại và ánh mắt của em bé này như một nỗi ám ảnh thôi thúc bác sĩ Jerry đều đặn trở lại Việt Nam mỗi năm một lần. Không những thế, ông c̣n mang hai đứa con theo và giải thích như sau: " Để chúng hiểu rơ công việc của cha chúng và phải biết san sẻ hạnh phúc của ḿnh cho những mảnh đời bất hạnh". Trả lại cho người khác một gương mặt khả ái, mang lại cho người khác một nụ cười không nhất thiết phải là một bác sĩ giải phẫu hàm mặt, mà bất cứ ai cũng có thể làm được điều đó. Người tín hữu Kitô tin rằng mỗi một người sinh ra trên cơi đời này, dù xấu xa thấp hèn đến đâu, cũng đều có một phẩm giá cao trọng, bởi v́ mỗi người đều mang lấy h́nh ảnh của Thiên Chúa. Không có gương mặt nào xấu đến độ không phản chiếu được vẻ đẹp của Thiên Chúa. Thật ra, chúng ta không làm cho một gương mặt nên khả ái, mà chỉ khám phá ra sự khả ái trên gương mặt của người khác. Dĩ nhiên, chỉ với con mắt đức tin và t́nh yêu thương, chúng ta mới nh́n ra được vẻ đẹp của mỗi người. Mùa Phục sinh, chúng ta nhớ lại ơn tái sinh. Trong cuộc trao đổi với người biệt phái tên là Nicôđêmiô, Chúa Giêsu đă nói đến sự cần thiết của tái sinh. Nhưng dĩ nhiên con người không thể tự ḿnh sinh ra hay sinh lại, đó là ơn nhưng không của Chúa. Cái nh́n mới cũng không phải là kết quả của cố gắng nơi con người mà là ơn huệ của Chúa. Với ơn đức tin nhờ phép rửa, con người sẽ nh́n bằng chính ánh mắt của Thiên Chúa, yêu thương bằng chính t́nh yêucủa Ngài. Đó là ơn mà các tín hữu Kitô chúng ta cần xin Chúa củng cố trong chúng ta. Lạy Chúa, lắm khi chúng con chỉ đoán xét người khác qua bề ngoài và tính toán so đo trong cách cư xử với người khác. Xin giữ cho ánh mắt đức tin của chúng con luôn được tươi mát để nh́n thấy vẻ đẹp nội tâm của mỗi người. Xin trao ban cho chúng con nụ cười trên môi để chúng con cũng biết khơi dậy niềm vui cho người khác. Xin cho chúng con không biết một niềm vui nào khác hơn là phục vụ.
PHÉP LỊCH SỰ CỦA CON NGƯỜI
ất nước của những con người tự do, quê hương của những con người can đảm". Đó là câu nói cuối cùng trong bài quốc ca của Hoa Kỳ. Nhưng mới đây, một kư giả làm cho hăng tin Cosre News Servis đă nhại lại như sau: "Đất nước của hạ tiện, quê hương của cuồng nộ". Với tựa đề này kư giả Pop Dorte đă viết về tác phong xử sự của một số không nhỏ người Mỹ hiện nay. Bài báo tường thuật lại kết quả của một cuộc nghiên cứu được thực hiện trong toàn cơi Hoa Kỳ mang tựa đề Tường tŕnh về thái độ thô lỗ tại Hoa Kỳ. Theo tường tŕnh này, 88% người được hỏi cho biết họ thường gặp những người thô lỗ và thiếu lễ độ, có 79% khẳng định rằng thiếu lễ độ và bất lịch sự là vấn đề nghiêm trọng, nhưng chỉ có 62% cho biết họ rất khó chịu về thái độ thô lỗ, bất kính, và 62% cho biết xưa kia họ đă có những hành động tương tự. Trong số người lái xe có 60% nói rằng họ thường gặp những người lái xe khác hành động bất cẩn và đe doạ sinh mạng người khác. Cũng theo tường tŕnh trên đây, một nửa dân số Mỹ buộc phải ghi một số người khác nói chuyện bằng điện thoại lưu động tại nơi công cộng. Một nửa dân số Mỹ lại cho rằng họ ra khỏi cửa hàng và không mua ǵ trong năm 2001 vừa qua chỉ v́ thái độ phục vụ không tử tế của những tiếp viên trong các cửa hàng. Có người cho biết họ buộc phải nghe những lời lẽ thô thục từ những thanh thiếu niên. Một người đă nhận xét như sau: "Nếu quí vị ở trong một cửa hàng và đi sau ba em c̣n trong tuổi vị thành niên, quí vị có thể nghe thấy những từ ngữ tục tĩu trong mỗi câu nói của chúng. Những lời tục tĩu là một phần trong ngữ vựng của các em. Các em nói mà không hề suy nghĩ". Hầu hết những người được phỏng vấn đều nói rằng thói thô lỗ đang gia tăng. Thật ra đây không phải là vấn đề mới lạ. T́nh trạng suy dồi về kinh tế xă hội diễn ra trong mỗi quốc gia trên thế giới vào mọi thời đại. Đáng quan tâm chăng là nó thể hiện sự suy dồi về đạo đức. Lịch sự, lễ độ, tử tế ở đầu và thời nào cũng được trân quí. Tổ tiên ông bà chúng ta xem trọng điều đó khi dạy con cháu: " Tiên học lễ, hậu học văn". sức khoẻ của một xă Hội được thể hiện qua cung cách xă giao và đối xử của con người trong xă hội đó. Văn minh tiến bộ của con người không chỉ được đo lường bằng của cải vật chất hay các phát minh khoa học và những ứng dụng kỹ thuật mà trước tiên bằng sự tinh tế của phép lịch sự được thể hiện qua các quan hệ giữa người với người. Trong tinh thần Kitô Giáo, phép lịch sự luôn được đề cao. Chúng ta vẫn nói lịch sự là hoa của bác ái, không thể sống bác ái mà tự miễn chước phép kịch sự, không thể tôn trọng và yêu thương người khác trước tiên không đối xử lịch sự và lễ độ với họ. Tựu trung, lịch sự là đ̣i hỏi của đức tin và yêu thương bác ái. Người tín hữu Kitô không có những cử chỉ, lời nói hay hành động cọc cằn, thô lỗ v́ ư thức rằng ḿnh là đền thờ của Thiên Chúa. Họ biết rằng bất cứ cử chỉ thiếu lễ độ nào cũng là một xúc phạm đến phẩm giá cao cả của chính bản thân họ. Người tín hữu Kitô cư xử lịch sự là bởi v́ họ nhận ra nơi mỗi tha nhân h́nh ảnh của Chúa. Người tín hữu Kitô tin rằng Thiên Chúa mà họ tôn thờ tự đồng hoá với mỗi một con người, Thiên Chúa ấy gần gũi thiết thân với con người đến độ bất cứ một thương tổn nào gây ra cho tha nhân cũng là một xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Việc Chúa sống lại mà các tín hữ Kitô đang tuyên xưng một cách đặt biệt trong mùa này không phải là một mầu nhiệm xa lạ với cuộc sống con người. Thật thế, Đấng phục sinh tự đồng hoá với mỗi một tha nhân, nhất là của những kẻ bé mọn nhất trong xă Hội loài người. Hơn bao giờ hết, mùa phục sinh, các tín hữu Kitô được nhắc nhở để nhận ra và yêu thương Ngài trong những kẻ bé mọn ấy. Lạy Chúa Kitô Phục sinh, Chúa đă không loại trừ một người nào. Chúa đă ngồi đồng bàn với những người bị loại ra bên lề xă Hội. Chúa đă yêu thương các trẻ em. Chúa cư xử nhân hậu với các tội nhân. Chúa đă tha thứ cho các lư h́nh của Chúa. Chúa tự đồng hoá với những kẻ bé mọn. xin cho chúng con biết nhận ra Chúa nơi mỗi người và cư xử với họ bằng chính cung cách của Chúa.
|