MẦU NHIỆM CỦA TỘI LỖI

D

ư luận tại Hoa Kỳ cũng như thế giới đang xúc động theo dơi phiên toà xét xử bà Andrea Yates về tội d́m chết năm đứa con trong bồn tắm. Trong các phiên xử khác, những tranh tụng tại toà xoay quang việc xét xử bị cáo có phạm tội giết người hay không. Lư do là v́ ngay từ đầu bà Andrea Yates đă thú nhận với cảnh sát rằng chính tay bà đă lần lượt d́m chết năm đứa con trong bồn tắm. Trong khi công tố viên cố gắng chứng minh rằng bà Andrea Yates đă giết con một cách có tính toán và tính toán từ lâu, th́ bên bị cáo, các luật sư của bà lại cố gắng biện minh rằng Andrea Yates giết con chỉ v́ muốn con có một cuộc sống tốt hơn mà thôi. Riêng một số chuyên gia tâm lư th́ cho rằng bà Andrea Yates giết con v́ mắc chứng bệnh mà họ gọi là trầm uất hậu sản, nghĩa là xuống tinh thần sau khi sinh. Qủa thật, ngay sau khi sinh đứa con trai đầu ḷng vào năm 1994, bà Andrea Yates đă bắt đầu lo ngại không biết đứa con ḿnh sẽ ra sao. Không những thế, bà c̣n lo sợ trước những ám ảnh thường hiện về trong mộng khiến bà tưởng tượng một ngày nào đó bà sẽ cầm dao đâm một người nào đó không rơ mặt rơ tên.

Là một nữ y tá sinh ra và lớn lên tại Houston, bang Texas, bà Andrea Yates đă phải nghỉ làm tại bệnh viện sau khi sinh đứa con đầu ḷng. Vừa lo ngại vừa thường xuyên sống trong ác mộng, bà vẫn cố gắng chiều chồng để sinh hạ thêm ba trai một gái trong thời gian sáu năm tiếp theo. Sau khi sinh đứa con thứ tư vào năm 1999, bà Andrea Yates đă bắt đầu trải qua những ngày tháng kinh hoàng trong ác mộng. Trong những cơn ác mộng ấy, bà thấy ḿnh là thủ phạm nhúng tay vào những vụ giết người vô tội. Cuối cùng, để thoát khỏi những cơn ác mộng bà đă tự tử bằng cách nuốt một hơi năm mươi viên thuốc ngủ. Được cứu sống, bà lại tự tử một lần nữa. Vào mùa hè năm 1999, bà tâm sự với viên bác sĩ của bà như sau: "Tôi cảm thấy như nghe có tiếng nói thúc giục tôi giết người. Tôi rất sợ sẽ có ngày tôi làm hại người khác. V́ vậy, tôi chỉ c̣n cách là tự tử để tôi chết th́ chẳng c̣n làm hại ai được nữa".

Đến lúc đứa con thứ năm ra đời, th́ bệnh trạng của bà thêm trầm trọng. Ngày 20/ 6/ 2001, bà quyết định giết năm đứa con của ḿnh v́ cho rằng bản thân của bà không xứng đáng là một người mẹ, khiến năm đứa con nếu lớn lên không thể nào có được một tương lai tốt đẹp. Và cách tốt nhất để xă hội có thể trừng phạt bà là bà ra tay giết năm đứa con của bà.

Trong phiên xử hôm thứ tư ngày 14/ 3/ 2002, một bác sĩ trị liệu đă làm chứng trước toà rằng bà Andrea Yates cho biết bà không dám nói với ai về tiếng nói thúc giục bà giết người, v́ sợ rằng nếu bà nói ra satan sẽ nghe thấy và sẽ khiến bà sát hại con cái bà.

 Hiện nay, người ta chưa biết số phận của bà Andrea Yates sẽ như thế nào. Nhiều người cảm thương hơn là lên án bà. Diễn tiến của hành động giết con nơi bà cho thấy đây chỉ là một thảm kịch trong đó kẻ giết người chỉ là một nạn nhân, nạn nhân của một cơn bệnh và nhất là nạn nhân của một tiếng nói thúc giục ḿnh giết người. Tựu trung đó cũng là thảm kịch của thân phận con người được Thánh Phaolô diễn tả bằng một câu nói bất hủ: "Điều thiện tôi muốn, tôi không làm. C̣n điều ác tôi không muốn làm, tôi lại làm".

Qua câu nói trên, Thánh Phaolô muốn khẳng định một mầu nhiệm, đó là mầu nhiệm của sự tội. Tội là một mầu nhiệm. Nó vừa nói lên sự hướng thiện của con người lại vừa bày tỏ sự yếu đuối nơi con người. Nơi mỗi người luôn diễn ra cuộc chiến liên lỉ giữa thiện và ác, giữa ân sủng và tội lỗi, giữa ánh sáng và sức mạnh của tăm tối. Nếu có một tiếng nói của lương tâm không ngừng thúc đẩy con người làm điều thiện th́ tiếng nói lôi kéo con người vào tội ác cũng mănh liệt không kém.

Mùa Chay, mùa của giao chiến giữa ân sủng và tội lỗi, giữa ánh sáng và bóng tối, các tín hữu Kitô được mời gọi ư thức rằng sống là một cuộc chiến đấu liên lỉ. C̣n sống là c̣n chiến đấu, nhưng trong cuộc chiến ấy họ tin rằng họ sẽ chiến thắng v́ Đấng mà họ tin tưởng đă xác quyết với họ: "Đừng sợ, Ta thắng thế gian". Qủa thật, Người đă chiến thắng tội lỗi và sự dữ và Người cũng đă chia sẻ sức mạnh của Người cho các môn đệ của Người. Với Người, trong Người và nhờ Người, họ cũng có thể chiến thắng được satan và tội lỗi.

 Lạy Chúa, với những hy sinh, chay tịnh và hăm ḿnh mà chúng con đang thực hành trong mùa Chay này, xin Chúa gia tăng ḷng tín thác của chúng con, xin cho chúng con luôn xác tín rằng chỉ có ơn Chúa chúng con mới có thể chiến thắng được ma quỉ, con người tội lỗi yếu hèn của chúng con.

 

THIÊN CHÚA

LÀ ĐẤNG TỐT LÀNH

H

ai người đàn ông cùng bắt đầu một cuộc hành tŕnh. Họ đem theo một con lừa để chở hành lư, một ngọn đuốc để soi đường khi đêm xuống và một con gà để làm bạn với chú lừa. Trong hai người đàn ông, một người th́ rất sùng đạo, người c̣n lại th́ theo chủ nghĩa hoài nghi. Trên cuộc hành tŕnh hai người chỉ nói về Thiên Chúa. Người thứ nhất nói:

- Trong mọi sự, Thiên Chúa luôn là Đấng tốt lành.

Người thứ hai nói:

- Rồi chúng ta hăy xem lời ông nói có ứng nghiệm trong cuộc hành tŕnh này.

Họ bắt đầu khởi hành. Chẳng bao lâu đă đến một thành phố. Màn đêm buông xuống,họ đi tới đi lui để tim chỗ trọ qua đêm nhưng chẳng ai thèm để ư đến họ và chẳng có ai nhường chỗ cho họ nghỉ lại qua đêm. Cuối cùng, họ lại tiếp tục đi. Một lúc sau, hai người đă ra khỏi thành phố. Đến một nơi vắng vẻ họ quyết định dừng lại nghỉ đêm tại đó. Liền sau đó, người theo chủ nghĩa hoài nghi nói với bạn đồn hành của ḿnh một cách mỉa mai:

- Ô, Thiên Chúa anh nói th́ luôn tốt lành mới để cho chúng ta ở ngoài như thế này.

Người bạn thứ hai trả lời:

- Thiên Chúa đă quyết định đây là chỗ nghỉ đêm tốt nhất cho chúng ta.

Đêm đó, họ cùng nhau ngủ trên một cây cao làm mốc ngăn cách nội và ngoại thành bên cạnh con đường chính dẫn vào thành phố. Họ buộc con lừa ở một nơi xa họ một đoạn, sau đó cũng để con gà bên cạnh con lừa. Họ leo lên cây và ngủ. Khi họ vừa leo lên cây đă nghe tiếng ồn ào ghê rợn. Một lúc sau họ nhận ra đó chính là tiếng của con sư tử, nó đang bắt lấy con lừa của họ và lôi đi. Ngay lập tức, chẳng có ai bảo ai, hai người cùng leo cao hơn nữa để cùng nhau tránh sư tử. Hai người chưa hoàn hồn th́ người theo chủ nghĩa hoài nghi hỏi bạn đồng hành của ḿnh trong sự bực tức:

- Này anh bạn, thiên Chúa vẫn c̣n là Đấng tốt lành đấy chứ? Bây giờ th́ con lừa của chúng ta đă bị nộp cho sư tử rồi.

Người bạn thứ hai trả lời:

- Nếu sư tử không bắt con lừa th́ chắc hẳn nó đă tấn công chúng ta rồi. Thiên Chúa luôn là Đấng tốt lành nên chọn điều tốt nhất cho chúng ta.

Sau đó họ quyết định đi ngủ không tranh luận ǵ nữa. Khi hai người đồng ư im lặng th́ họ nghe tiếng kêu của con gà. Nh́n xuống đă thấy con mèo rừng đang cắp con gà của họ và cấu xé. Người theo chủ nghĩa hoài nghi chưa kịp lên tiếng th́ người bạn đă nói:

- Tiếng kêu của con gà lại một lần nữa cho chúng ta biết chúng ta vẫn được an toàn. Thiên Chúa thật là Đấng tốt lành.

Vài phút sau đó, một cơn gió mạnh thổi đến dập tắt ngọn đuốc. Hai người chẳng biết làm ǵ chỉ nằm im trong bóng đêm dầy đặc. Người theo chủ nghĩa hoài nghi lại tiếp tục chế giễu:

- A ha, một lần nữa, sự biểu lộ sự tốt lành của Thiên Chúa lại lộ rơ. Có lẽ sự tốt lành ấy sẽ liên tục hành hạ chúng ta, tước khỏi chúng ta mọi sự.

Người thứ hai đáp lại bằng sự thinh lặng. Rồi cả hai cùng ch́m vào giấc ngủ lúc nào cũng không hay biết. Sáng hôm sau, hai người trở lại thành phố để t́m mua thức ăn. Chẳng mấy chốc, họ nhận ra đêm qua một toán cướp đông đảo và hùng mạnh đă đột nhập vào thành phố và cướp đoạt hết tất cả của cải của dân chúng trong thành. Nghe biết điều đó, người bạn thứ hai nói:

- Cuối cùng, mọi sự đă sáng tỏ và đă chứng minh được Thiên Chúa tốt lành. Nếu đêm qua chúng ta t́m được một chỗ trọ trong thành th́ có lẽ chúng ta sẽ chẳng c̣n sống cho tới lúc này. Và nếu ngọn đuốc của chúng ta không bị tắt th́ có lẽ toán cướp đă nhận ra chúng ta và cũng chẳng để cho chúng ta yên.

 Thiên Chúa măi măi là tốt lành. Đó là sự xác tín của những người theo đạo. Ước ǵ đó không phải là một lời tuyên xưng ngoài miệng của mỗi người chúng ta, của mỗi tín hữu Kitô, mà nó phải là một lời tâm niệm, một động lực để chúng ta vượt qua những gian nan thử thách của cuộc sống v́ biết rằng trong mọi hoàn cảnh và qua từng biến cố của cuộc đời, Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và Ngài vẫn chọn cho chúng ta phần tốt nhất.

Mùa Chay là thời gian để thanh luyện. Chúng ta thanh luyện con mắt, thanh luyện miệng lưỡi, quả tim, khối óc và toàn bộ con người của chúng ta trong t́nh yêu của Thiên Chúa, để chúng ta nhận ra sự hoàn hảo và t́nh thương quan pḥng của Ngài. Chỉ khi chúng ta bị cuốn hút bởi sự tốt lành thánh thiện của Thiên Chúa, con người và cuộc sống của chúng ta mới thực sự được tỏ tường sự hoàn thiện của Thiên Chúa qua những việc làm, lời nói và cả việc làm của chúng ta.

 Lạy Chúa, xin ban Thánh Thần xuống trên chúng con để chúng con được thanh luyện và đổi mới, nhờ đó chúng con biết nhận ra Chúa và sự lành thánh của Ngài trong mọi biến cố của cuộc đời, để luôn ngợi ca và loan truyền sự công minh của Chúa cho mọi người.

 

BÁC ÁI

THEO TINH THẦN PHÚC ÂM

    C

ó một người phong cùi quần áo rách nát hằng ngày ngồi xin bố thí bên vệ đường. Thỉnh thoảng cũng có những người qua đường mủi ḷng để rơi một vài đồng xu vào trong cái mũ lá đặt bên chân người ấy. Có điều lạ là người ăn xin đó không hề tỏ dấu hiệu biết ơn nào, không một lời nói cũng không một nụ cười, hoặc một cái gật đầu.

            Một hôm có người thường xuyên đi ngang qua lối đó thấy vậy liền dừng lại và không khỏi ngạc nhiên lên tiếng hỏi người phong cùi xin bố thí:

            - Tại sao ông không một lời hoặc một cử chỉ biết ơn nào đối với những người tỏ ḷng trắc ẩn bố thí cho ông?

            Người phong cùi thản nhiên đáp:

            - Nhưng tại sao tôi phải cám ơn họ? Thiên Chúa đă muốn dùng tôi như cơ hội tốt  đẹp để họ có dịp làm việc thiện,làm một cử chỉ nhân từ, một hành động bác ái. Có lẽ tốt hơn là họ phải cám ơn Chúa v́ sự bất hạnh khốn cùng của tôi để nhờ đó mà họ được công nghiệm đáng được vào Nước Trời.

            Nghe vậy, vị khách qua đường mỉm cười mỉa mai bỏ đi trong ḷng thầm nghĩ người ấy hoặc là mất trí hoặc là vô ơn,nhưng câu trả lồi của người phong cùi cứ văng vẳng bên tai làm cho vị khách qua đường phải hồi tâm suy nghĩ. Sau cùng, người ấy tự nhủ:"Xét cho kỹ th́ người phong cùi hẳn có lư. Thực ra, bất kỳ việc tốt ǵ chúng ta làm cho người khác,tức là làm cho chính ḿnh vậy". Từ ngày đó trở đi, mỗi lần đi ngang qua người phong cùi ăn xin bên vệ đường, người ấy luôn rút trong túi ra hai đồng tiền, một đồng để làm phúc bác ái cho người phong cùi, c̣n một đồng để tỏ ḷng biết ơn người ấy.

 Có lẽ nhiều lúc chúng ta cũng vội vàng và dễ dàng xét đoán cách nông cạn và sai lầm về việc làm của những người khác. Lời nói của người phong cùi nghe như lời nói của kẻ vô ơn, tệ bạc, nhưng lại là lời thức tỉnh ḷng ích kỷ tự nhiên của con người và nhắc nhở chúng ta có bổn phận phải quan tâm đến những người chung quanh chúng ta. Lắm khi chúng ta nghĩ rằng thực thi đức bác ái chỉ là một lời khuyên bảo tốt, một việc làm thêm có thể làm hoặc cũng có thể bỏ qua. Trái lại, theo tinh thần Phúc âm Chúa Kitô th́ thực thi đức bác ái là một bổn phận nồng cốt trong đời sống người tín hữu. Trong Phúc âm Chúa Giêsu quả quyết với dân chúng: "Các con phải thương yêu nhau như Thầy yêu thương các con". Hơn thế nữa, ḷng bác ái thương người là một vinh dự của các môn đệ Chúa, bởi v́"Hễ điều ǵ các con làm cho một trong những người hèn mọn là các con làm cho chính Thầy vậy" (Mt 26,45).

Ḷng bác ái theo tinh thần Phúc Âm c̣n đi xa hơn cán cân công bằng của người thế trần: mắt đền mắt, răng thế răng; trái lại "Cần phải yêu thương cả thù địch và làm điều tốt cho những người thù ghét các con nữa, có như thế những người khác mới nhận biết các con là môn đệ của thầy được". Chúa giêsu dạy chúng ta cần phải nhắm cao và nh́n xa thấy rộng hơn trên con đường của đức bác ái. Có lần Chúa Giêsu nói với người đă mời Ngài dùng bữa rằng: " Khi nào ông đăi khách ăn trưa hay ăn tối, th́ đừng mời bạn bè, anh em hay bà con hoạc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông. Và như thế, ông được đáp lễ rồi. Khi ông đăi tiệc, hăy mời những người nghèo khó, tàn tật và què quặt đui mù. Họ sẽ không có ǵ đáp lễ và như thế ông mới thật có phúc v́ ông sẽ được đáp lễ trong ngày kẻ lành sống lại".

T́nh thương nhưng không và vô vị lợi của Chúa Giêsu được thể hiện ngay từ giây phút đầu tiên của mầu nhiệm cứu độ. Tin mừng Đấng cứu thế giáng trần đă không được loan báo cho những người giàu sang, quyền cao, chức trọng, nhưng trước tiên là cho các mục đồng, những tâm hồn đơn thành luôn rộng mở tâm hồn đón nhận t́nh thương của Chúa . Họ không có ǵ để đáp đền t́nh thương Chúa ngoài việc hiến dâng cho Ngài sự khó nghèo của họ. Giữa đêm khuya giá lạnh họ đă tới sưởi ấm cho Ngài bằng tấm ḷng khiêm tốn biết ơn của họ.

 Lạy Chúa Giêsu là thái tử hoà b́nh, là vua t́nh thương, xin ban cho con quả tim quảng đại như Chúa, luôn vươn lên cao, vượt qua mọi t́nh cảm tầm thường để mặc lấy tâm t́nh của Chúa. Xin ban cho con trái tim đủ lớn để con biết khiêm tốn đến với người con không ưa và để tỏ ḷng biết ơn với tất cả những người vô ơn nữa.

 

TÂM HỒN KHÓ NGHÈO

T

ại tu viện kia có hai thầy ḍng nổi tiếng là nhân đức, nhất là về ḷng khiêm tốn và kiên nhẫn. Hai thầy chung sống trong một căn nhà nhỏ bé, lo việc cầu nguyện, chăm sóc vườn rau và những cây ăn trái. Hai thầy chuyên cần làm việc, đào mương dẫn nước nên vườn tược lúc nào cũng xanh tươi và cành cây nặng trĩu những trái cây ngon ngọt, đủ chia sẻ với các thầy trong những nhà khác nữa. Cũng không thiếu cho những khóm hoa lúc nào cũng tươi nở muôn màu sắc dành để dâng tiến Chúa trong nhà nguyện của họ.

Tiếng thơm nhân đức của hai thầy đă đến tai cha bề trên đă cao niên. Một hôm, cha quyết định tới thăm hai thầy để có dịp chứng kiến tận mắt những nhân đức thánh thiện của hai thầy. Vừa trông thấy dáng cha bề trên, hai thầy vội vàng ra cửa đón tiếp cách thân t́nh. Sau mấy phút cầu nguyện trước nhà nguyện, cha bề trên ngỏ ư muốn đi thăm ruộng vườn của hai thầy. Hai thầy vui vẻ dẫn đưa cha bề trên đi xem khắp cả vườn và chỉ cho người thấy từng loại cây ăn trái, từng luống rau, từng bụi hoa. Vừa đi cha bề trên vừa nhăn nhó tỏ vẻ khó chịu, trách khéo là vườn quá đẹp đối với những kẻ tu hành. Hơn thế nữa, cha bề trên lại dung cây gậy chống trên tay, đập phá những cây bắp cải, những cây rau xà lách và những bụi hoa gần hai bên lối đi. Trước cử chỉ khác lạ xem như điên rồ của cha bề trên, hai thầy vẫn giữ thinh lặng, không một lời phản ứng chống lại.

Xem vườn tược xong th́ cũng đă tới gần giờ cơm trưa nên hai thầy đến qú trước mặt cha bề trên lúc đó đang ngồi nghỉ mệt dưới bóng cây, mồ hôi nhễ nhại và thưa:

- Kính thưa cha, nếu cha cho phép, chúng con sẽ đi thu nhặt những lá rau c̣n lại không bị hư nát để dọn bữa ăn thanh đạm mời cha dùng với chúng con.

Tai vừa nghe những lời đó, mắt cha bề trên như sáng lên và ngài đă nhận ra nhân đức cao quí của hai thầy, ngài mở rộng ṿng tay ôm lấy hai thầy và vui vẻ đáp:

- Cảm tạ Thiên Chúa v́ thực sự Thần Khí Chúa đang ngự giữa chúng con nơi đây.

 Như lửa thử vàng, nhân đức con người cũng phải được thanh luyện bằng gian khổ, thử thách và vui vẻ chấp nhận những điều trái ư riêng ḿnh. Trong bài giảng trên núi về Tám mối phúc thật, Chúa Giêsu nói với dân chúng: " Phúc thay người có tâm hồn nghèo khó. Phúc thay người hiền lành. Phúc thay người có ḷng xót thương. Phúc thay người bị bách hại v́ sự công chính. Các con hăy vui mừng hớn hở v́ phần thưởng dành cho các con ở trên trời thật lớn lao".

Những lời trên đây đồng thời cũng phát hoạ cho chúng ta thấy chân dung của Chúa Giêsu, Ngài là Đấng nhân từ rộng ḷng xót thương, không nỡ bẻ gẫy cây nứa đă bị giập, hoặcdập tắt ngọn đèn leo loét sáng. Ngài là Đấng bị bách hại, khủng bố, bất công, nhưng vẫn không hung hăng tự vệ, như con chiên hiền lành vô tội bị dẫn tới ḷ xén long. Hơn ai hết, chính Ngài là Đấng có tâm hồn nghèo khó và thực sự sống khó nghèo từ khi chào đời trong hang đá Belemth cho tới khi tắt thở nhục nhă trên thập giá.

Tinh thần khó nghèo của Chúa Giêsu không chỉ là chấp nhận cảnh sống khó nghèo về mặt vật chất v́ thiếu thốn mà thôi, nhưng là tự chọn lấy cho ḿnh sự yếu đuối của đứa trẻ hơn là quyền cao chức trọng, là chấp nhận bất công bách hại hơn là dung sức mạnh để tự vệ, là chấp nhận triệt để sự vâng lời thi hành thánh ư Thiên Chúa Cha hơn là hành động theo ư riêng ḿnh.

Hơn thế nữa, Chúa Giêsu vốn là Thiên Chúa nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy tŕ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Trái lại, Ngài đă hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ để trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài lại c̣n vâng lời hạ ḿnh cho đến chết và chết trên cây thập tự. Qua mầu nhiệm nhập thể giáng trần, Chúa Giêsu tiếp tục mời gọi mọi người tiến bước theo gương Ngài sống tinh thần khó nghèo từ bỏ và hiền lành khiêm tốn như chính Ngài đă sống.

 Lạy Chúa Giêsu, Con chỉ biết dâng lên Chúa lời kinh khiêm hạ. Xin Chúa ban cho con sự hiền lành và tính mềm dẻo để con ư thức được ḿnh yếu đuối cần được người khác giup đỡ hơn là gây phiền hà, hoặc có thái độ khinh khi người khác. Xin ban cho con một tấm ḷng khiêm tốn để con không trở nên cứng cỏi trước những lời chỉ dạy, những lời phê b́nh hoặc cả đến những lời kết án khắc khe nữa.

 

ĐÀO LUYỆN NHÂN CÁCH

M

ột người Ấn Độ tên là Sanda sau khi trở lại với đức tin Kitô đă quyết tâm trở thành một nhà truyền giáo.

Một buổi chiều nọ, Sanda cùng với một nhà sư phật giáo leo lên một ngọn núi cao trên dăy Hy Mă Lạp Sơn để đến thăm một thiền viện. Trời càng về chiều càng lạnh, nhà sư cảnh cáo rằng họ có thể chết cứng nếu không về đến tu viện trước khi mặt trời lặn. Giữa lúc hai người đang cố gắng băng qua một lối đi nhỏ nằm bên vực họ nghe có tiếng người kêu cứu. Nh́n xuống vực sâu, họ thấy có một người đàn ông nằm bất động, nhà sư lại cảnh cáo Sanda:

- Cứ tiếp tục đi, số phận của người này đă được an bày rồi. Chúng ta phải đi gấp kẻo cũng chết theo.

Nhưng Sanda trả lời nhà sư:

- Theo truyền thống Kitô giáo của chúng tôi th́ tôi hiểu rằng Chúa đă mang tôi tới đây để cứu giúp người anh em này, tôi không thể bỏ mặc anh ta như thế.

Nhà sư nh́n Sanda lắc đầu rồi tiếp tục đi.

Tuyết đă phủ hết lối đi. C̣n lại một ḿnh, Sanda bắt đầu leo xuống vực để cứu vớt người đàn ông bị tai nạn. Anh băng bó vết thương, lấy chăn cuốn chặt người bị thương vào lưng của ḿnh rồi từng bước leo lên. Cuối cùng, anh cũng thấy được ánh sáng chiếu ra từ tu viện. Kéo lê từng bước v́ mỏi mệt, nhưng anh vẫn cương quyết tiến về tu vịên. Th́nh ĺnh, khi gần đến tu viện,chân anh chạm phải một vật cứng chặn cả lối đi. Anh cúi xuống lấy tay cào tuyết để xem vật cản là ǵ. Anh đau đớn vô cùng khi khám phá ra rằng vật cản ấy chính là thi thể của nhà sư. Nhà sư đă chết ngay trước cửa của tu viện. Qú trước nhà sư, anh nhớ lại một đoạn Tin mừng theo thánh Luca:" Ai cứu mạng sống ḿnh sẽ mất nó. C̣n ai mất mạng sống ḿnh v́ Ta sẽ t́m lại được nó". Sanda hiểu được điều Chúa Giêsu muốn nói và anh rất vui mừng v́ đă quyết định mất mạng ḿnh v́ người khác.

Về sau, Sanda trở thành một vị linh sư nổi tiếng khi các đệ tử hỏi ông:

- Thưa thầy, đâu là điều nặng nhọc nhất trong cuộc sống?

Ông trả lời:

- Điều nặng nhọc nhất trong cuộc sống là không có một gánh nặng để vác.

 Điều nặng nhọc nhất trong cuộc sống chính là không có một gánh nặng để vác. Khi nói lời này hẳn ông Sanda đă nghĩ tới người đàn ông bị nạn mà ông đă cứu vớt. Khi Chúa Giêsu kêu mời chúng ta hăy vác lấy thập giá mỗi ngày và bước đi theo Ngài, Ngài muốn nói đến những gánh nặng hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Những gánh nặng ấy là những lao nhọc vất vả để có được chén cơm manh áo từng ngày, nhưng nặng hơn cả vẫn là gánh nặng mà người khác chồng chất lên vai chúng ta.

Qủa thật, sự hiện diện của người khác có thể là một gánh nặng cho chúng ta. Sự hiện diện ấy có khi nặng nề đến độ một triết gia hiện sinh của Pháp đă gọi là hoả ngục. Tuy nhiên, chúng ta không thể sống mà không có người khác. Sự hiện diện của người khác là một điều kiện cần thiết  để chúng ta sống cho ra người. Sống mà loại trừ người khác là tự huỷ. Người khác, do đó, rất có thể là một gánh nặng nhưng là một gánh nặng cần thiết để giup chúng ta đạt được sự sung măn nhân cách.

Mùa Chay là trường đào luyện nhân cách. Những việc làm đạo đức như ăn chay, cầu nguyện, hăm ḿnh là điều cần thiết để giúp chúng ta trau luyện nhân cách. Nhưng nếu không có bác ái đi kèm th́ tất cả những thực hành ấy đều là vô ích. Linh hồn của mùa Chay là bác ái, chúng ta được mời gọi xác định và củng cố quan hệ của chúng ta với người khác. Người khác mà chúng ta sống với khi gặp gỡ mỗi ngày có thể là gánh nặng cho chúng ta nhưng là gánh nặng cần thiết để giup chúng ta dẹp bỏ được con người ích kỷ của chúng ta.

 Lạy Chúa,với những người đang đau khổ chung quanh chúng con, xin ban cho chúng con tâm hồn nhạy cảm. Với những người đang là gánh nặng cho chúgn con, xin cho chúng con luôn biết nh́n vào họ như một thách đố để giúp chúng con thắng vượt được con người mù quáng và ích kỷ của chúng con, hầu được mỗi ngày một lớn lên trong quảng đại và yêu thương.

 

THƯỚC ĐO NHÂN CÁCH

M

ột người hành khất đă tâm sự như sau:

Tôi là một kẻ ăn xin, và bạn biết không, tôi thích làm một người ăn xin. Trong bao nhiêu năm qua, tôi đă quan sát và biết được cách bạn cư xử và sử dụng tiền bạc như thế nào. Lúc đầu khi tôi biết Chúa đă chọn cho tôi con đường ăn xin này tôi không thể vui được, nhưng Thiên Chúa giàu ḷng thương xót đă cho tôi nh́n vào thế giới bằng chính cài nh́n của Ngài khi tôi trung thành với con đường ăn xin của tôi. Con đường của tôi là để làm cho con đường của bạn được sáng hơn dù bạn có muốn hay không.

Mỗi khi bạn đi qua lại trên đường, Chúa cho tôi được nh́n thấy bạn trong chính con người thật của bạn.

Bạn là một trong vô số người đi qua lại trên con đường trước mặt tôi. Tôi đang đứng tựa vào tường, tôi vẫn đứng một chỗ mỗi ngày. Từ bao nhiêu tuần lễ qua tôi chưa hề tắm gội, từ xa bạn đă có thể ngửi được mùi hôi thối toát ra từ người tôi. Bạn đang đi về hướng tôi, tay bạn cầm cặp giấy sang trọng, bạn thấy tôi đứng đó cho nên một cách kín đáo bạn t́m cách rẽ đi lối khác, nhưng rồi khi tới ngă tư bỗng nhiên bạn lại hối hận và quay trở lại về hướng tôi và kín đáo trao vào tay tôi vài đồng xu nhỏ. Tôi đă cầu xin Chúa soi sáng cho bạn để bạn nghe được tiếng nói lương tâm của bạn, và quả thật Ngài đă nhậm lời tôi.

Bạn là một người phụ nữ, bạn đă không có được một buổi sáng b́nh an lắm, bạn đă la hét chồng con, bạn đă không t́m ra được xâu ch́a khoá trong cái xách tay của bạn, bạn đă trễ giờ, thế là bạn chạy tất tả xuống phố. Hôm đó, bạn quên hẳn sự có mặt của tôi, mặc dù từ đàng xa bạn đă ngửi thấy mùi hôi thối nơi con người tôi. Mũi bạn khó chịu, bạn đưa mắt nh́n sang chỗ khác và cằn nhằn trong miệng. Khi tôi ch́a tay ra, bạn tḥ tay vào ví rồi nói: " Tôi trễ mất rồi, chốc nữa tôi sẽ quay lại". Thế là bạn đi. Phần tôi, tôi cầu xin Chúa soi sáng bạn để bạn biết lấy t́nh người mà cư xử với tôi và tôi tin chắc là bạn sẽ trở lại t́m tôi.

Bạn cũng có thể là một trong vô số những người qua lại trước mặt tôi. Bạn có nhiều đồng xu nhỏ trong túi, bạn trông thấy tôi mỗi ngày. Lẽ ra th́ bạn không nên bố thí cho tôi v́ bạn biết là tôi sẽ dùng tiền đó để mua rượu nhưng bạn vẫn dừng lại bố thí cho tôi và nói: "Bác đi mua cà phê hay bánh trái mà ăn nghe, đừng uống rượu nữa". Bạn lại đi và tôi thầm cám ơn v́ bạn đă đối xử tử tế với tôi.

Tất cả các bạn, các bạn đều có mọi sự các bạn muốn, nhưng các bạn vẫn c̣n nhận thấy một điều các bạn luôn cần đó là trao ban cho người khác trước khi họ ngửa tay xin. Như vậy, dù bạn làm nghề ǵ, mỗi khi bạn xuống đường tôi vẫn biết bạn là ai, trong giây phút ấy tôi nh́n thấy bạn như chính Chúa trông thấy bạn trong mỗi giây phút của cuộc sống bạn. Bạn hăy giữ ư tứ. Tôi có mặt ở đây là để làm cho con đường của bạn được sáng them. Bạn có biết bạn đang đi về đâu không?

 Mỗi một tha nhân là tấm gương phản chiếu con người của chúng ta. Chúng ta vui hay buồn, quảng đại hay ích kỷ, cảm thông hay điêu ngoa, chân thành hay dối trá, điều đó điều được biểu lộ trên gương mặt của chúng ta mỗi khi chúng ta gặp người khác. Mỗi một người khác đều bắt buộc chúng ta thể hiện con người thật của chúng ta. Tha nhân quả thật là trường dạy cho chúng ta sống cho ra người. Tha nhân mời gọi chúng ta sống quảng đại, bác ái, yêu thương. Tha nhân là thước đo nhân cách của chúng ta.

Trong thong điệp đầu tay của Ngài, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă gọi con người là Đường đi của Giáo Hội. Mỗi một tín hữu Kitô cũng có thể nói như thế về tha nhân ḿnh sống với hay gặp gỡ mỗi ngày. Qủa thật, mỗi một tha nhân là một thách đố trong cuộc hành tŕnh đức tin của chúng ta, nếu chúng ta biết đón nhận tha nhân, con đường của chúng ta sẽ sáng lên; trái lại, nếu chúng ta chối bỏ tha nhân chúng ta sẽ bước đi trong tăm tối.

 Lạy Chúa, chúa đă tự đồng hoá với mỗi tha nhân, nhất là những kẻ nghèo hèn bé mọn nhất trong xă hội. Xin cho chúng con luôn biết nhận ra và yêu mến Chúa trong mỗi một tha nhân.

 

SỐNG ĐÍCH THỰC

T

rong cuốn sách có tựa đề Bảy thói quen của những con người có tài năng cao, tác giả Steve Corvey đă kể lại kinh nghiệm mà chính ông đă có được trong một chuyến xe điện ngầm tại New York vào một buổi sáng chủ nhật.

Tác giả kể lại rằng trên chuyến xe điện ngầm mọi người đang ngồi yên lặng, một số đang đọc báo, một số ngủ gà ngủ gật, một số khác th́ nhắm mắt để chime niệm. Quả là một khung cảnh tĩnh lặn gan b́nh. Thế rồi, đến một trạm dừng, một người đàn ông cùng với một đàn con bước lên xe. Mấy đứa nhỏ bắt đầu la lối căi cọ nhau. Chúng ném đồ chơi vào người nhau, có đứa giật cả những tờ báo của người khác. Bầu không khí tĩnh lặng bỗng trở nên ồn ào khó chịu. "Đây là những đứa trẻ mất dạy", có lẽ người hành khách nào cũng nghĩ thầm trong bụng như thế nhưng không ai dám lên tiếng, và điều làm cho hành khách khó chịu hơn là người cha vẫn ngồi bất động.

Tác giả Steve Corvey không thể tưởng tượng được rằng người cha có vẻ tỏ ra bất động như thế để cho các con của ông muốn làm ǵ th́ làm.Cuối cùng, với tất cả b́nh tĩnh và tự chủ, ông đến gần bên người đàn ông và nói:

- Thưa ông, các con của ông quả thật đang quấy rầy người khác. Ông có thể bảo chúng ngồi yên một chút được không?

Người đàn ông đưa mắt nh́n tác giả Steve Corvey như thể đây là lần đầu tiên ông hồi tỉnh sau một cơn ngủ dài rồi nói:

- Ồ, ông có lư, tôi xin lỗi. Lẽ ra tôi phải lên tiếng bảo các con của tôi ngồi yên. Chúng tôi vừa mới rời bệnh viện, người mẹ của chúng vừa mới qua đời được một tiếng đồng hồ. Tôi không biết phải làm ǵ và tôi nghĩ chắc các con tôi cũng không biết phải cư xử như thế nào.

Tác giả Steve Corvey ghi lại như sau:

"Bạn có biết lúc đó tôi nghĩ ǵ không? Th́nh ĺnh tôi thấy mọi sự đều thay đổi, v́ tôi thấy khác nên tôi cũng cảm nghĩ khác và tôi cũng đă cư xử khác. Cơn giận của tôi bỗng biến mất, tôi không c̣n phải nghĩ đến chuyện kiểm soát cách cư xử và thái độ của tôi nữa. Trái tim tôi tràn ngập nỗi đau của người đàn ông vừa mất vợ, những nỗi xúc động của cảm thương và đồng cảm tuôn trào. Tôi hỏi người đàn ông: "Vợ ông vừa mới qua đời ư? Ồ, tôi xin lỗi. Liệu tôi có thể làm ǵ được để giúp ông không?".

Không có ǵ thay đổi trên chuyến xe điện ngầm ấy, mọi sự đều như cũ, cũng vẫn những con người đó, cũng vẫn những đứa trẻ ồn ào đó. Nếu có thay đổi chăng th́ đó là cách nh́n sự vật và cùng với cách nh́n ấy, cách cư xử cũng thay đổi.

H́nh thức cao độ nhất của t́nh yêu là cùng chia sẻ chân thành một số phận. Chúng ta biểu lộ t́nh yêu không chỉ khi chúng ta ban tặng mà bằng cả khi đón nhận, trao đổi, tương trợ, đối thoại và hiệp nhất với người khác. Đây là cách thế thể hiện t́nh yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ yêu thương con người từ trời cao, Ngài đă hoá than làm người, Ngài đă trở nên giống loài người chúng ta trong tất cả mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Ngài đă biết thế nào là đói, Ngài đă biết thế nào là khóc. Qủa thật, Chúa Giêsu đă làm người và đă chỉ cho chúng ta cách sống cho ra người. Sống đích thực là có thể quên ḿnh. Làm người thực sự là có thể đặt ḿnh vào hoàn toàn trong đời sống con người và chấp nhận trao đổi.

Mùa Chay chúng ta có dịp chiêm niệm mầu nhiệm khổ nạn của Chúa Giêsu. Trên thập giá Ngài đă thực sự sống trọn thân phận con người. Sự cảm thong và ḷng thương xót đă được Thiên Chúa thể hiện một cách trọn vẹn qua cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Trong mầu nhiệm này, chúng ta được mời gọi để lấy sự cảm thông và tha thứ mà đối xử với nhau.

 Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết đau với niềm đau của người khác, biết khắc khoải với nỗi khắc khoải của người khác ngơ hầu được tham dự một cách thâm sâu vào mầu nhiệm tử nạn của Chúa.

 

QUYỀN LỰC VÀ VINH QUANG

T

rong quyển tiểu thuyết có tựa đề Quyền lực và vinh quang, nhà văn Graham Kline đă mô tả một linh mục sống dưới thời bách hại tại Mêhicô. Một bên là sự ŕnh rập của cảnh sát, một bên là gánh nặng mục vụ đối với giáo dân, cuối cùng vị linh mục đă ngă gục, ông đă bắt đầu uống rượu và trở thành nghiện ngập. Sau đó, ông bị bắt giữ, kết án tử h́nh và giam giữ để chờ ngày hành quyết.

 Buổi sáng ngày hành quyết, vị linh mục thức dậy trên tay c̣n cầm một chai rượu trống không, ông cố gắng đọc kinh ăn năn tội nhưng tâm trí rối loạn đến nỗi không c̣n nhớ nỗi một một tiếng nào trong lời kinh. Th́nh ĺnh ông thấy cái bóng ḿnh in trên tường của pḥng giam, ông ngồi bất động và dán chặt đôi mắt vào đó, ông chợt nhận ra sự điên dại của ḿnh khi nghĩ rằng ông đủ can đảm để ở lại và phục vụ đoàn chiên của ḿnh, lẽ ra ông đă phải lẩn trốn. Thật là một sự điên rồ và tai hại. Những giọt nước mắt bắt đầu lăn trên g̣ má ông. Ông không khóc v́ sợ chết, ông chỉ khóc v́ nghĩ rằng ḿnh về với Chúa với hai bàn tay trắng.

 Tác giả Graham Kline đă viết về tâm trạng của vị linh mục như sau: "Dường như trong lúc đó ông thấy rằng nên thánh là một điều dễ dàng, chỉ cần một chút tự chủ và can đảm. Ông cảm thấy ḿnh như một người đă thể hiện hạnh phúc chỉ vài giây đồng hồ. Ông biết rằng cuối cùng chỉ có một điều đáng kể trong cuộc đời là nên thánh.

Trong một lá thư để lại, thánh Phêrô Clave, người đă phục vụ những người nô lệ da đen tại Châu MỹLa Tinh hồi thế kỷ thứ mười bảy đă thuật lại như sau:

"Hôm qua, lễ Chúa Ba Ngôi, một số đông người nô lệ da đen bị rượt bắt dọc theo những ḍng sông bên Phi Châu đă được chở bằng thuyền đến. Chúng tôi đă vội vàng chạy ra, mang theo cam, chanh, bánh ngọt và đủ thứ. Chúng tôi đă phải cố gắng len lỏi qua đám đông để t́m đến với những người bệnh hoạn. Nhiều người trong họ nằm la liệt trên đất, thậm chí trên bùn, họ không có được một mảnh áo che thân. Chúng tôi liền cởi áo xuống, đi đến một cửa hàng, chở tất cả gỗ đang có rồi xếp thành một chỗ khô ráo và mang tất cả những bệnh nhân đến đó. Chúng tôi đọc được ḷng biết ơn trong ánh mắt của họ. Với cách thế ấy chúng tôi đă nói chuyện với họ, nói không bằng lời mà bằng hành động. Bất cứ một h́nh thức liên lạc nào khác cũng đều vô ích. Rồi sau đó chúng tôi ngồi hay qú xuống bên cạnh họ rồi lau mặt hoặc thân thể họ."

Thánh Phêrô Clave không phải là một vị tử đạo, Ngài cũng chẵng dành suốt đời đọc kinh cầu nguyện hay sám hối, Ngài cũng chẵng có những thị kiến hay viết những cuốn sách cao siêu, Ngài chỉ là một con người b́nh thường. Chính v́ thế mà Ngài là một vị thánh. Ngài đă cư xử một cách rất người, Ngài chứng tỏ cho mọi người thấy rằng nên thánh quả là một điều dể dàng. Ngài cũng muốn nói rằng nên thánh là diều duy nhất đáng kể trong cuộc đời.

     Mùa chay, sống lại bốn mươi năm lang thang trong sa mạc của dân Do Thái, chúng ta được nhắc nhở rằng sống đạo là một hành tŕnh mà điểm đến là nên thánh. Như vị linh mục trong tác phẫm Quyền Lực Và Vinh Quang đă nhận ra, chỉ cần một chút tự chủ và can đảm cũng đủ nên thánh.

      Lạy Chúa, chúng con đă đi đươc hơn một nửa con đường mùa chay nhưng vẫn chưa định được cuộc hành tŕnh của chúng con. Bao nhiêu lần chúng con đă vấp ngă, bao nhiêu lần chúng con đă muốn buông xuôi bỏ cuộc, xin Chúa tha thứ và nâng đở để chúng con biết chỗi dậy và bước theo Chúa. Giữa cuộc hành tŕnh đầy chông gai và thử thách, xin Chúa ban ơn them can đảm cho chúng con.

 

CUỘC LỮ HÀNH TRIỀN MIÊN

T

homas Merton là một trong nhuững tác giả tu đức nổi tiếng nhất trong thế kỷ hai mươi. Năm lên mười sáu tuổi, Thomas Merton mồ côi. Năm lên hai mưoi tuổi, anh gia nhập đảng cộng sản Mỹ. Năm hai mươi ba tuổi, anh trở lại công giáo. Năm hai mươi bốn tuổi, anh trở thành kư giả của tờ New York thời báo. Năm hai mươi sáu tuổi, anh thu góp tất cả tài sản vào một cái túi nhỏ t́m đến bang Kentucky và trở thành một vị tu sĩ Trappis tại đan viện Giếcsêmani. Trong cuốn sách tự thuật có tựa đề Ngọn Núi Bảy Tầng Thomas Merton đă kể lại những buob771 đầu tiên ttrong cuộc trở lại của anh. Thomas Merton ghi lại rằng vừa tốt nghiệp trung học đă một ḿnh du lịch sang Âu Châu và tại đây anh đă lao vào cuộc sống truỵ lạc, nhưng một đêm nọ, ngồi một ḿnh trong pḥng anh bỗng nhận ra con người tội lỗi của ḿnh.

Thomas Merton viết như sau:

" Trong một thoáng, mọi sự hiện ra trước mắt tôi. Tôi bỗng nhận ra một cách sâu sắc nỗi khốn khổ và sự đồi bại của tâm hồn tôi. Tôi sợ hăi trước điều tôi vừa thấy và linh hồn tôi khao khát muốn thoát ra khỏi t́nh trạng ấy một cáh mănh liệt và cấp ách hơn bao giờ hết".

Thomas Merton cho biết lần đầu tiên trong cuộc đời anh đă cầu nguyện và cầu nguyện thật sự. Anh cầu nguyện với một Thiên Chúa mà anh chưa từng biết. Anh xin Ngài từ trời cao hăy đoái nh́n đến anh và giải thoát anh khỏi sức mạnh của sự dữ đang giam hăm linh hồn và thể xác anh trong ṿng nô lệ.

Câu chuyện của Thomas Merton trên đây minh hoạ cho sự đổi dời mà chúng ta thường nghe đọc và suy niệm trong mùa chay này, đó là sự đổi dời của người con hoang đàng đựơc ghi lại trong Tin mừng của thánh Luca.

Điều ǵ đă khiến cho con người đổi dời?

Nhiều năm trước đây, các lư thuyết gia về chính trị chú ư đến nhữgn bước cần thiết để làm một cuộc cách mạng. Bước đầu tiên là phải tạo ra tâm lư bất măn trong quần chúng, bởi v́ quần chúng sẽ chỉ chấp nhận thái độ khi nào họ bất măn với t́nh trạng hiện tại. điều này cũng đúng cho các cá nhân. Con người chỉ nghỉ đến chuyện đổi dời khi họ không hài ḷng với cuộc sống hiện tại. Đây là trường hợp của người con hoang đàng và Thomas Merton.

Nói cách khác, bước đầu tiên trong sự hoán cải là cần phải bất măn với cuộc sống hiện tại của ḿnh. Bất măn ở đây có nghĩa là khao khat sống tốt đẹp hơn.

Bước thứ hai trong tiến tŕnh đổi dời là một biến cố có sức bật mạnh. Với Thomas Merton biến cố ấy chính là kinh nghiệm trải qua trong pḥng khách sạn khi anh ngồi đối diện với chính ḿnh.

Bước thứ ba trong tiến tŕnh đổi dời là cần phải làm một bước cụ thể trong cuộc sống mới. Thomas Merton đă làm được diều đó. Tuy không phải là một người công giáo, anh đă đi tới nhà thờ, qú gối và đọc kinh lạy cha. Sau khi cầu nguyện, anh ra khỏi nhà thờ và đến ngồi trên một chiếc ghế đá. Anh cảm nhận được sự b́nh an mà anh chưa từng biết đến. nhưng dĩ nhiên, cuộc trở lại của anh đă không dừng ở lại đó. từ một con người ngoại đạo trở thành một tín hữu, từ một tín hữu trở thành một tu sĩ chiêm niệm, cuộc sống đối với anh từ nay đă trở thành một cuộc hành tŕnh triền miên.

Sống đạo là một cuộc lữ hành không bao giờ chấm dứt. Đây là cảm nghiệm mà cuộc hành tŕnh mùa chay gợi lên cho chúng ta. Sống lại kinh nghiệm bốn mươi năm lang thang trong sa mạc của người Do thái, chúng ta được mời gọi tiến bước không ngừng, tiến bước từ t́nh trạng tội lỗi đến ân sủng, tiến bước từ nguội lạnh dến nhiệt thành, tiến bước từ tầm thường đến mẫu mực. Không ai làm tín hữu một lần cho tất cả mà phải không ngừng trở thành một tín hữu.

Lạy Chúa,với tâm t́nh hoán cải của người con hoang đàng, chúng con quyết tâm trở về với Chúa. Xin Chúa đừng để chúng con tự măn với một ít việc lành phúc đức mà chúng con đă có thể thực hành trong mùa chay này. Xin cho chúng con được ra khỏi bản thân để mọi ngày được tiến tới trên bước dường theo Chúa.

 

NHÂN TÍNH CỦA CON NGƯỜI

M

ột biến cố được xem là bất ngờ nhất trong kỳ thế vận hội mùa hè năm 1984 tại Los Angeles, Hoa Kỳ, đó là giây phút vơ sĩ Chesk Plasnick của Hoa Kỳ đă đánh hạ vơ sĩ Thomas Giohanson của Thụy Điển trong một trận đấu vật truyền thống La Mă, Hy Lạp. Khi trận đấu kết thúc, vơ sĩ Plasnick đă không nhảy tung người lên v́ sung sướng, anh cũng chẳng cần cằm nắm tay đưa lên trong không khí, anh cũng chẳng cúi đầu trước khán giả, trái lại anh qú gối xuống chắp tay lại, cúi đầu và cầu nguyện. Trên màn ảnh truyền h́nh, khi ống kính chiếu sát khuôn mặt anh, hàng triệu khán giả thấy nước mắt chảy đầm đ́a trên g̣ má anh. Người vơ sĩ này có đủ mọi lư do để khóc nhưng anh không khóc v́ đă giật được huy chương vàng về cho Hoa Kỳ, c̣n có một lư do lớn hơn. Hai năm trước đó anh bị ung thư, mười tám tháng trước trận đấu anh đă phải trăi qua một cuộc giải phẫu, và giờ đây anh đă thắng được trận chiến thứ hai.

Ngày hôm sau tất cả các báo chí tại Hoa Kỳ đều nói về câu chuyện của anh. Một kư giả đă viết như sau:

"Một trong những điều có giá trị nhất của thế vận hội là nhắc nhở cho chúng ta về giá trị thanh tẩy, chữa trị của những giọt nước mắt. Quí vị theo dơi những vận động viên đạt được huy chương vàng trên bục chiến thắng hướng về lá quốc kỳ của ḿnh và nghe bài quốc ca. Trong mọi trường hợp người ta điều thấy mắt họ sũng ướt. Cứng rắn bao nhiêu, mạnh bạo bao nhiêu, tất cả đều trở nên mềm mỏng trong giây phút ấy. Và khi thể hiện tính người như thế họ lại càng thu hút hơn. Đây là trường hợp của Plasnick, anh đă trở thành một anh hùng, không phải v́ chiến thằng trong trận thi đấu cũng chẳng phải v́ chiến thắng được bệnh ung thư, mà bởi v́ đă chia sẻ tính người của anh với chúng ta. Con người nặgn trên một trăm kư ấy bỗng nhiên trở nên giống bất cứ một người nào trong chúng ta, mềm mỏng, yếu đuối một cách thật đẹp.

 

 

*

*    *

 

 

Chủ nhật thứ năm mùa Chay, Giáo Hội cũng cho chúng ta thấy nơi Chúa Giêsu một tính cách như thế. Trước mộ của Lazarô, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đă thổn thức khóc. Đây là một trong những cảnh tượng cảm động nhất trong Tin Mừng và một trong những lư do khiến cho cảnh tượng ấy trở nên cảm động là v́ Chúa Giêsu chia sẻ nhân tính của Ngài với chúng ta. Chúng ta dễ quên nhân tính của Chúa Giêsu, chúng ta dễ quên rằng Ngài đă cảm thấy đói trong sa mạc, chúng ta dễ quên rằng Ngài đă khát trên thập giá, chúng ta dễ quên rằng Ngài đă mệt mỏi v́ đường xa, chúng ta đă quên rằng Ngài đă sợ hăi đến toát mồ hôi máu trong vườn cây dầu. Cảnh tượng Chúa Giêsu thổn thức và khóc trong bài Tin mừng hôm nay lột tả tất cả nhân tính của Ngài. Ngài quả thật là một con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Chính v́ thế mà Ngài hiểu được cảm xúc của chúng ta khi chúng ta lâm vào cùng một hoàn cảnh như Ngài. Ngài hiểu được thế nào là sống và cư xử như một con người, và đây chính là điều mang lại hy vọng cho chúng ta. Hơn ai hết, Chúa Giêsu là người thông cảm trước những yếu hèn của chúng ta.

Tuy nhiên, Tin mừng hôm nay không chỉ bày tỏ cho chúng ta nhân tính của Chúa Giêsu. Khi Ngài hô lớn cho Lazarô từ mồ đi ra, Ngài không chỉ là một con người như chúng ta nữa, Ngài là Thiên Chúa. Ngài không chỉ là nguồn cảm hứng và lư tưởng để chúng ta đi theo. Ngài c̣n là Thiên Chúa, Đấng thông ban sự sống và sức mạnh cho chúng ta. Ngài chạm đến cuộc sống của chúng ta bằng một cách thế mà không người phàm nào có thể có được.

Mùa Chay chúng ta được mời gọi kết hiệp với Chúa Giêsu trong mậu nhiệm thập giá. Mang lấy thân phận con người, Ngài đă vâng phục cho đến chết. Ngài chết trên thập giá để giải thoát loài người khỏi tội lỗi. Thập giá đă trở thành nguồn ơn cứu thoát và mang lại hy vọng cho chúng ta. Trong ánh sáng của mầu nhiệm thập giá, chúng ta hiểu được giá trị của khổ đau trong cuộc sống của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đă vạch ra cho chúng con đường phải đi khi vác lấy thập giá. Xin cho chúng con biết đón nhận mọi khổ đau với tinh thần tin yêu và phó thác.

 

LIÊN ĐỚI VÀ CHIA SẺ

T

háng sáu, lá cây trong vườn đă ngả màu, những cơn gió nhẹ thổi qua cuốn theo những chiếc lá vàng ĺa cành. Vào một buổi sáng nọ, những chú chim vừa kết thúc bài ca buổi sáng, các lá cây cũng uốn ḿnh theo điệu nhạc của bài hát vừa dứt. Chú sâu cũng vươn ḿnh cho ngay ngắn rồi lên tiếng:

- Chào các bạn.

Mọi tạo vật bắt đầu chuyện tṛ với nhau. Sau một hồi lâu nói chuyện với không khí, lá hỏi không khí rằng:

- Cơn gió nào đă đưa bạn đến đây?

Chú sâu chẳng để ư lại nghe loáng thoáng câu hỏi của lá và tưởng là hỏi ḿnh nên trả lời lắp bắp:

- Thú thực là …tôi nghĩ…

Và chẳng bao giờ nó trả lời được câu hỏi đó được trọn vẹn.

-Tôi có một câu hỏi quan trọng muốn hỏi các bạn. Mỗi buổi sáng các bạn lấy thức ăn cho cả ngày từ các lá cây mà tại sao lại không lấy từ nơi khác? C̣n tôi th́ không lúc nào cũng dể dàng t́m được thức ăn như vậy, v́ thế tôi cứ phải ở đây hoài.

Lá bài tỏ sự cảm thông của ḿnh với sâu bằng câu nói:

- Nếu tôi  t́m ra cách nào để giúp bạn, th́ tôi sẽ sẳn sàng, chỉ có diều là tôi bị dính chặt vào cây này, v́ thế tôi chẳng thể nào đi nơi khác t́m thức ăn được.

Rồi chú sâu thật mạo hiểm đề nghị với lá như sau:

- Bạn biết đấy, bạn có một bộ lá xanh thật đẹp.

Rồi chú sâu tiếp tục lời đề nghị của ḿnh:

- Bạn lá ơi, nếu có thể, bạn hăy hy sinh chịu nhỏ đi một chút xíu có đựơc không?

Thoạt đầu, lá không nghỉ rằng sâu dám dề nghị với lá như vậy, nhưng khi nh́n vào đôi mắt với vẻ khẩn khoản của sâu, lá hít thở thật sâu và nghỉ tới lời đề nghị của sâu rồi tự nhủ: " Bạn sâu thực sự đă đói lả nhưng không biết chuyện ǵ sẽ xảy ra nếu ḿnh cho bạn ấy một phần lá là chiếc áo độc nhất của ḿnh" Lá lư luận: " Nếu ḿnh không cho sâu một chút thức ănchắc chắn bạn ấy sẽ chết v́ đói. Nếu ḿnh cho bạn ấy một chút lá th́ bạn ấy sẽ lại vui sống". Lá lại tự nhủ: " Dầu sao đi nữa th́ cũng nên cho bạn ấy một chút lá của minh, v́ con người ta vẫn có thể sống với chiếc áo lủng lỗ" . Và lá quyết định cho chú sâu ăn một chút lá của ḿnh. Đúng như dự đoán của lá, sâu chỉ ăn một chút và cảm thấy vui vẻ trở lại, rồi nó cũng trở lại lên cây để chuyện tṛ với lá.

Mùa thu, chiếc lá lủng lỗ cũng rụng, nó cảm thấy rất hạnh phúc khi nhớ lại chuyện cũ và mùa xuân đến nó lại bắt đầu thay bằng bộ lá tuyệt đẹp.

 Tâm sự của chiếc lá và chú sâu trong câu chuyện tưởng tượng trên nhắc nhở chúng ta về tinh thần liên đới và chia sẻ khi cùng sống với nhau. Tinh thần đó là hoa trái của những hy sinh, từ bỏ một chút của riêng ḿnh.

Mùa Chay Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta hăy chiêm ngắm t́nh thương của Thiên Chúa qua cái chết và cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Bài học yêu thương đó không thể sinh hoa trái trong ḷng chúng ta, nếu mỗi người chúng ta khôgn dám hy sinh một chút ǵ là bản thân ḿnh để tạo niềm vui và hạnh phúc cho anh chị em. Thực ra nếu nh́n lại chúng ta thấy rằng hạnh phúc của anh chị em chính là hạnh phúc của mỗi chúng ta. V́ trong sự liên đới để sống trong thế giới này, hạnh phúc của người này cũng có tác động đến người khác, nó có sức cải biến và thăng tiến các tương quan cũng như mỗ con người và sự vật.

Chiếc lá hy sinh một phần của ḿhn để sâu có thể tồn tại và làm bạn với nó, th́ con người cũgn vậy, để chúng ta luôn có được những liên đới và những tương quan tốt đẹp với người kgác đoôi khi chúng ta cũng phải hy sinh một chút ǵ của riêng ḿnh. sự hiện diện của người khác vẫn măi là niềm vui của chúng ta, cho dù đôi khi chúng ta có muốn phủ nhận sự thật này, th́ chúng ta chỉ sống và tồn tại trong sự bao bọc của rất nhiều các mối tương quan. sự cô độc luôn là một độc hại giết chết con người. có thể có những người sống cô đơn một ḿnh ở những nơi chẳng ai biết đến, nhưng họ không cô độc, họ vẫn có thể cảm nếm được hạnh phúc bởi những mối dây liên đới tinh thần sâu xa với anh em và với thế giới bên ngoài.

Mùa Chay là thời gian để chúng ta tập giữ tinh thần hy sinh, hăm ḿnh, là một phương thức giúp chúng ta sống liên đới và chia sẻ với anh chị em những ǵ là cụ thể nhất như của ăn thức uống. Nhưng điều  đó chẵng đạt được ư nghĩa trọn vẹn nếu chúng ta không nỗ lục để sống tinh thần từ bỏ chính ḿnh, để kiến tạo niềm vui và hạnh phúc cho anh chị em.

Lạy Chúa,xin giúp chúng con được trở nên giống Chúa mỗi ngày một hơn trong niềm vui sát tế.

 

DẤU CHỈ CỦA T̀NH YÊU

 

T

rong vở kịch có tựa đề Một con người của bốn mùa, tác giả đă mô tả cảnh vua Henri VIII cố gằng thuyết phục thủ tướng của ông là Thánh Thomas Moore hăy đồng ư với quyết định ly dị của ông và cưới nàng Pauline làm vợ. Vua Henri nói như sau:

- Thomas, khanh hăy hiểu cho rằng trẫm đang có nguy cơ mất linh hồn. Thật ra giữa trẫm và vợ trẫm chẳng bao giờ có hôn phối cả, bởi v́ nàng là quả phụ của anh trẫm.

Nhưng thánh Thomas Moore trả lời:

- Tâu bệ hạ, thần không có thẩm quyền để can thiệp vào vấn đề này. Thần nghĩ vấn đề thuộc thẩm quyền của Toà Thánh…

Nhưng vua Henri VIII ngắThomas lời:

- Thomas ơi, phải chăng người ta cần có một vị Giáo hoàng để nói cho ḿnh biết khi nào ḿnh đă phạm tội? Thomas, đây là một tội! Trẫm nh́n nhận điều đó, trẫm hối hận và Chúa đă trừng phạt trẫm, trẫm không có con trai. Thomas ơi, hết đứa con trai này đến đứa con trai khác, tất cả đều chết từ lúc mới sinh hay chỉ một tháng sau. Trẫm không bao giờ thấy bàn tay của Chúa tỏ tường như thế. Trẫm có một đứa con gái, đây là một đứa con ngoan, nhưng trẫm lại chẳng có con trai. Nhiệm vụ của trẫm là gạt bỏ hoàng hậu và xin các vị Giáo hoàng đừng xen vào giữa trẫm và nhiệm vụ của trẫm.

Rồi ông nài nỉ thánh Thomas Moore một lần nữa như sau:

- Tại sao khanh không thấy điều đó khi mọi người đều thấy?

Một cách b́nh tĩnh, thánh nhân trả lời:

- Thế th́ tại sao bệ hạ lại cần sự ủng hộ của hạ thần?

Vua Henri nói từng tiếng như sau:

- Bởi v́ khanh là một con người lương thiện và ai cũng biết rơ sự lương thiện của khanh. Khanh nh́n xem, có những người pḥ trẫm là bởi v́ trẫm đang đội triều Thiên trên đầu, có những người đi theo trẫm chỉ v́ họ là những con gấu với răng nhọn, c̣n trẫm là một con sư tử, có cả một đám đông đi theo trẫm, chỉ v́ họ để cho đám đông lôi cuốn, nhưng khanh th́ khác.

Những lời trên đây của một người nắm quyền sinh sát trên tay không chỉ là những lời đường mật mà đă vẽ ra cho thánh Thomas Moore một thập giá đang chờ đợi ở phái trước. Thánh nhân có thể khước từ thập giá ấy và sống trong phú quí và danh vọng, hoặc là thách thức nhà vua và chọn lấy cái chết. Nhưng cuối cùng ngài đă ôm lấy thập giá, ngài đă chọn con đường thập giá của Chúa Giêsu.

Cũng giống như chiếc ghế điện tại những nơi c̣n duy tŕ án tử h́nh, thập giá quả là một điều chướng kỳ. Chúa Giêsu đă bị treo trên ấy và chúng ta được kêu mời ôm lấy nó. Thật không ǵ ngu xuẩn bằng khi đặt trọng tâm của cuộc sống vào thập giá ấy, nhưng Chúa Giêsu lại dùng biểu tượng của nhục nhă khủng khiếp đó để nói lên tư cách của người môn đệ của Ngài: " Ai không vác thập giá và đi theo Ta không đáng làm môn đệ Ta".

Thập giá không phải là một món đồ trang sức mà là một thách đố giữa sống và chết, giữa t́nh yêu và hận thù, giữa hy sinh và ích kỷ, giữa hạnh phúc và khổ đau.

Thập giá là dấu chỉ của t́nh yêu. Chúa Giêsu đă nói: " Không có t́nh yêu nào cao quí hơn mối t́nh của người thí mạng v́ người ḿnh yêu". Thập giá là một lời mời gọi sống yêu thương. Chúa Giêsu đă nói: "Hăy yêu thương như chính Thầy đă yêu thương các con". Thập giá là một mạc khải về t́nh yêu đích thực. Yêu là đau khổ, yêu là hy sinh. Thời đại của chúng ta là thời đại của giảm đau. Người ta dùng thuốc giảm đau để làm giảm bớt cơn đau trong thân xác đă đành, người t ac̣n t́m đủ mọi cách để tránh hy sinh. Nhưng thập giá của Chúa Giêsu soi rọi cho chúng ta thấy rằng một cuộc sống không có thập giá là một cuộc sống vô nghĩa và không đáng sống.

Lạy Chúa Giêsu,bước vào Tuần Thánh, xin cho chúng con biết can đảm bước theo con đường thập giá của Chúa. Xin cho chúng con biết dâng lên Chúa những hy sinh trong suốt tuần này để được kết hiệp với Chúa trong mầu nhiệm khổ nạn hầu được tham dự vào sự sống lại của Chúa.

 

LỜI MỜI GỌI YÊU THƯƠNG

 

T

rong quyển tiểu thuyết có tựa đề Người du hành, tác giả Richard Masterson đă tưởng tượng ra một chuyến đi kỳ thú của một nhà khoa học tên là Paul Chirus. Chirus là thành viên của một nhóm nghiên cứu đă phát minh được một màn ảnh năng lượng có thể đưa con người trở về quá khứ

Chuyến đi đầu tiên được dự định vào những ngày trước lễ Giáng sinh. Chirus đă được chọn để thực hiện chuyến đi dầu tiên. Ông quyết định trở về với thời gian Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên đồi Canvê. Là một người vô thần, ông muốn có cái nh́n về việc Chúa Giêsu chịu dóng đinh trên thập giá khác với những ǵ được ghi lại trong kinh thánh. Khi giây phút lich sử đến, Chirus được đưa vào màn ảnh năng lượng. chuyến đi về quá khứ diển ra thành công. Không mấy chốc, Chirus thấy ḿnh lần lược trở về với từng giai đoạn của quá khứ. Một trăm năm, một ngàn năm và cuối cùng ông dừng lại ở thời điểm hai ngàn năm trước công nguyên. Màn ảnh năng lượng đă dừng lại đúng mục tiêu dự định. Chirus thấy ḿnh đang tới gần đồi Canvê, dân chúng đứng đông nghẹt trên quả đồi. tấ cả mọi người đều dán mắt vào ba người bị đóng đinh trên thập giá. Trong màn ảnh năng lượng, Chirus chỉ đứng cách đám đông khoảng hai trăm thước. ông liên lạc về trung tâm điều khiển để xin phép dược dến gần với cảnh tượng  hơn. Trung tâm dồng ư nhưng bảo ông không được rời khỏi màn ảnh năng lượng , Chirus từ từ tiến gần tới chổ Chúa Giêsu bị đóng đinh, càng tiến gần ông càng nh́n thẳng vào Chúa Giêsu. Th́nh ĺnh, một điều kỳ diệu đă diển ra, như một miếng kim loại nhỏ bị nam châm thu hút, ông thấy ḿnh bị Chúa Giêsu lôi kéo, ông cảm thấy t́nh yêu của Chúa Giêsu toả lan một cách mảnh liệt. Đây là diều mà ông chưa từng cảm nhận được. Rồi, trái với sự chờ đợi của ông, tất cả mọi biến cố xảy ra trên đồi Canvê bắt đầu diễn ra y như trong các sách Tin mừng đă mô tả, Chirus cảm thấy dao động. trung tâm điều khiển nhận thấy điều đó tức khắc và người ta sợ rằng Chirus đă bắt đầu để cho cảm xúc điều khiển ông, họ bảo ông hăy chuẩn bị để trở về với thế kỷ hai mươi. Chirus phản đối nhưng người ta cũng đă đưa ông trở về với hiện tại. khi bước ra khỏi màn ảnh năng lượng, Chirus đă hoàn toàn là một con người đổi mới.

Tác giả kết thúc câu chuyện khoa học giả tưởng như sau: " Hôm đó là đêm giáng sinh và đó là một đêm tuyệt vời để t́m gặp đức tin".

Chúng ta đă bước vào tuần thánh, chúng ta hăy trở lại đồi Canvê, chúng ta trở lại đó không phải để dừng lại với nỗi khổ đau của Chúa Giêsu trên thập giá, mà chính là để cảm nghiệm được t́nh yêu của Ngài. Thật thế, với cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta về t́nh yêu bằng ba cách:

Trước hết, Thập giá của Chúa Giêsu là dấu chỉ của t́nh yêu. Thật thế, chính Ngài đă nói với chúng ta: "Không có t́nh yêu nào cao quí hơn t́nh yêu của người thí mạng sống v́ người ḿnh yêu. Chúa Giêsu chết trên thập giá là dđể nói với chúng ta rằng Ngài yêu thương chúng ta ".

Thứ đến, với cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu muốn mời gọi chúng ta yêu thương. Thật thế, Ngài đă dạy chúng ta:"Các con hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương các con".

Cuối cùng, thập giá là một lời mời gọi hy sinh. Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng t́nh yêu đích thực luôn đi đôi với hy sinh và khổ đau. Không có t́nh yêu nào mà không đ̣i hỏi hy sinh. Yêu là khổ dađu, yêu là chấp nhận chết trong ḷng một ít.

Trong những ngày này, khi đi lại con đường thập giá của Chúa Giêsu và chiêm ngắm Ngài trên thập giá, chúng ta hăy tha thiết xin Ngài dạy chúng ta biết sống yêu thương như Ngài.

Lạy Chúa,chúng con chưa biết sống yêu thương, chúng con vẫn để ích kỷ và vụ lợi thúc đẩy những toan tính của chúng con. Xin dạy chúng con biết sống yêu thương và đón nhận mọi hy sinh và khổ đau v́ yêu thương.

                                                                                               Tiếp theo-->