|
TRUYỀN THỐNG GIA Đ̀NH
hi mẹ tôi qua đời, cha tôi bỏ căn nhà vẫn dùng để ở trong những kỳ nghỉ hè, cha bảo chúng tôi: "Này các con, cứ việc lấy những ǵ mà các con thích". Thế là cả ba chị em chúng tôi đến dọn dẹp đồ cho cha. Tôi chọn bàn viết cao cao mà mẹ tôi ngồi để viết thư bên cửa sổ có ánh nắng soi vào rất đẹp. Em gái tôi chọn bức tranh vẽ ngôi nhà nghỉ và em út tôi chọn bức tượng bầy ngựa, bởi mẹ và em út tôi có chung sở thích cưỡi ngựa. Rồi chúng tôi bỏ tất cả những thư từ cũ kỹ và những bức ảnh đă phai màu, tất cả những vật lưu niệm của gia đ́nh vào trong mười hai chiếc hộp, và mỗi chúng tôi giữ bốn hộp. Sau đó, tôi ngồi nơi bậc tam cấp lần giở từng trang của cuốn album và ngắm nghía những tấm h́nh của gia đ́nh. Này là h́nh của cha rất oai vệ trong sắc phục Hải quân và một tấm chụp với mẹ đang đứng cạnh chiếc xe hơi đầu tiên mà mẹ đă mua được . Lần giở những trang sau đó có thể nhận ra tiến tŕnh h́nh thành và phát triển của cả gia đ́nh, nhà và xe cũng ngày một lớn hơn. Rồi nơi trang cuối cùng của cuốn album là h́nh cuảa ba chị em chúng tôi bận đồ đồng phục. lúc này tôi gần như cảm nhận được tiếng sột soạt của từng chiếc áo đầm mà chúng tôi đă mặc. tôi cũng mường tượng ra niềm vui sướng của mẹ khi t́m ra ba bộ quần áo giống hệt nhau cho cả ba chị em chúng tôi trong một tiệm bán quần áo trẻ em ở trong làng. Tôi c̣n nhớ rất rỏ là ba chiếc áo được may bằng lụa Thuỵ Sĩ màu trắng có diễm hoa màu xanh dương, váy và cổ áo được viền bằng chỉ xanh dương thật mảnh. Mẹ bảo:" Cổ xanh dương cho hợp với màu mắt xanh của các con". Chúng tôi được măc5 thử bộ áo đó trong một lần để diễn tập bưổi tŕnh diễn thời trang cho ba xem vào tối hôm đó, cha tôi vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt khi cả ba chị em chúng tôi xúng xính trong bộ đồ mới, xoay qua xoay lại trong pḥng ăn, sau đó chúng tôi cũng dịu dàng khẽ nâng chiếc váy và cúi chào. Ngắm nh́n tấm ảnh, những kư ức thật đẹp của chung ba chị em chúng tôi trong những bộ đồng phục tiếp theo. Chúng tôi mỗi ngày một lớn lên, dần dần nhận thấy mỗi chúng tôi có những sở thích khác nhanu nên không sắm đồ giống nhau cho chúng tôi nữa. và chẳng bao lâu cả ba chị em chúng tôi đă lập gia đ́nh. Năm đầu tiên vắng mẹ vào lễ giáng sinh chúng tôi biết trước là sẽ rất buồn. tôi vẫn luôn nhớ mỗi mùa Giáng sinh bố lại tặng cho mẹ chiếc áo ngủ thật đẹp. Giáng sinh năm nay mẹ không c̣n nữa, cây Noel vẫn được trang hoàng rực rỡ nhưng những hộp quà trang trí hôm nào mà mẹ tôi đặc dưới gốc cây Noel th́ không c̣n nữa. V́ thương ba chị em và chồng con chúng tôi cha tôi vẫn cứ phải tỏ ra vui vẻ. th́nh ĺnh em gái tôi lôi từ sau cây Noel ra ba hộp quà màu trắng y hệt nhau, tren mỗi hộp có gịng chữ rắn rỏi do cha tôi viết:" Quà của chú lùn tặng trong đêm Giáng sinh". Cả ba chúng tôi đều mở quà, đó là ba chiếc áo ngủ bằng lụa đỏ. Chúng tôi nhảy lên sung sướng sau đó cả ba đều chạy đi thay áo rồi cả ba cũng chạy lại trong bộ áo mới. cha chúng tôi đang mở bản nhạc mà chúng tôi đă từng nghe vào những đêm Giáng sinh trước. Cả ba chị em chúng tôi nắm tay nhau nhảy quay cuồng. nhạc càng cuồng nhiệt th́ chúng tôi càng quay nhanh, không hề để ư đến những đôi mắt mở to đầy ngạc nhiên của các ông chồng và những cái miệng há hốc của các con chúng tôi. nhớ lại tôi vẫn cảm thấy tức cười về cảnh ba bà mẹ trong bộ áo mới nhảy múa như điên giữa đống hộpc ̣n mở để bề bộn, và khi tiếng nhạc dồn dập rồi chấm dứt, cả ba chị em chúng tôi cũng té dúi dụi vào nhau cười như nắc nẻ, trong khi các ông chồng th́ lắc đầu không thể tin vào mắt ḿnh. Các con của chúng tôi cũgn ḅ lê ra mà cười, con cha của chúng tôi th́ mỉm cười sung sướng. Có lẽ mẹ tôi cũgn không bao giờ ngờ v́ đă tạo ra một truyền thống gia đ́nh như vậy. Thói quen đă trở thành truyền thống tốt đẹp của gia đ́nh trên đây, cũng đă trở thành niềm vui sướng cho cả nhà. Trong cuộc sống thường nhật của chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta thường xuyên tạo ra những ư tưởng yêu thương và những nét nghĩ đặc nền tảng trên t́hn yêu th́ cuộc sống của chúng ta thật hạnh phúc biết bao. Niềm vui sống đă làm tan biến những mối ngờ vực, xoá đi những ranh giới nối liền những khoảng cách, lấp đầy những hố sâu giữa những con người, nhưng để được như thế th́ trước hết mỗi chúng ta phải là những con người thật sự sống trunug thực trong t́nh yêu. Chỉ khi đó chúng ta mới dám chứng tỏ cho người khác t́nh yêu của ḿnh cũng như không ngại ngùng để biểu lộ t́nh thương mà ḿhn có với người ḿnh yêu, sẳn sàng hy sinh những t́nh căm riêng tư để hoà vào niềm vui chân chính của người ḿnh thương mến. Cấu chúc quư vị và các bạn luôn t́m kiếm và thiết lập những thói quen tốt đẹp vào niềm vui hạnh phúc cho anh chị em như người mẹ trong câu chuyện tren đây, để thế giới này ngày một xích lại gần nhau trong niềm vui, dạt dào t́nh Chúa, đượm thắm t́nh người. Lạy Chúa, xin thương chúc lành cho tất cả gia đ́nh trên thế giới này. Xin cho t́nh thương được hiện diện nơi mỗi gia đ́nh, biến gia đ́nh thành tổ ấm trước con người phát triển và cảm nghiệm được t́hn yêu Chúa
NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN HIỀN
ồi đó tôi vừa tṛn hai mươi lăm xuân xanh tuổi đời với một giấc mộng thật tươi đẹp. Tôi mơ ước con đường sự nghiệp đầy thắng lợi sau khi tốt nghiệp đại học. Tôi mơ ước một gia đ́nh hạnh phúc với những người con ngoan và những cơ hội thuận tiện để phục vụ tha nhân. Nhưng rồi những trang Phúc Âm nghiền ngẫm hàng ngày như cơm bữa đă thấm nhuần và cách mạng tất cả cuộc sống khiến tôi không ngờ. Tôi thấy Chúa Kitô luôn bận rộn với việc phục vụ và thi hành thánh ư Chúa Cha. Tôi nghe như trong thâm tâm có tiếng Ngài mời gọi và thúc bách tôi:" Không có t́nh yêu nào cao quí hơn cho bằng hy sinh mạng sống v́ người ḿnh yêu mến". Tôi tự nhủ:" Thật vậy, Ngài đă yêu thương tôi, ban cho tôi tất cả, tôi cũng muốn dâng hiến Ngài tất cả để đáp trả t́nh yêu". Từ ngày đó tất cả cuộc sống tôi thuộc trọn về Ngài để rồi cho tới nay chỉ thi hành tất cả những ǵ Ngài muốn và ưa thích. Trên đây là cách cụ thể cô Sandra đă đọc và thực hành lời Chúa trong Phúc âm. Chúa Giêsu quả là thầy dạy khôn ngoan thông thái, v́ Ngài thực sự thi hành những ǵ Ngài phán dạy dân chúng. Ngài là mô phạm hoàn hảo cho những ai muốn noi theo gương Ngài. Ngài dùng những h́nh ảnh cụ thể quen thuộc với mọi người để dẫn đưa thính giả của Ngài tới chân lư cao siêu. Một trong những h́nh ảnh được Chúa Giêsu để diễn tả sứ mệnh quan trọng của Ngài là h́nh ảnh của ngướ chăn chiên và đàn chiên. Như người mục tử hiền sẳn sàng liều mạng sống ḿnh để bảo vệ sự sống của đàn chiên, Chúa Giêsu cũng đă tự hiến tế mạng sống của Ngài v́ phần rỗi của toàn thể nhân loại, tức là đàn chiên Thiên Chúa Cha đă trao phó cho Ngài. Sứ mệnh đó Ngài đă hoàn tất một lần qua mầu nhiệm khỗ nạn chết và sống lại. thế nhưng, Ngài cần có những người chăn chiên khác để tiếp tục sứ mệnh cứu độ của Ngài qua thời đại, cho mọi dân tộc trên khắp mặt đất. đó chính là lời mời gọi trở nên môn đệ Ngài, trở nên những cộng tác viên sẳn sàng liều mạng sống ḿnh v́ sự sống của cả đàn chiên của Ngài. Thế nhưng, khôgn ai có thể chấp nhập thách đố đó nếu không cảm nghiệm được ḿnh thuộc về đàn chiên của Chúa, là con chiên được chủ chăn biết tên và biết nhận ra tiếng của người chăn chiên. Chúa Giêsu muốn nêu bật mối liên hệ mật thiết giữa người chăn chiên và từng con chiên, Ngài nói:' ta là Đấng chăn chiên lành, Ta biết các chiên ta và các chiên ta biết ta. người chăn chiên hiền gọi tên từng con chiên. Chúng quen tiếng người chăn và đi theo sau". Ngài c̣n nói thêm Ngài đến đem sự sống để những ai tin Ngài được sự sống dồi dào hơn. tiến bước theo Chúa tức là bước trên con đường cứu độ, là t́m thấy đồng cỏ xanh tươi và ḍng suối nước mát, là cảm nghiệm được cuộc sống sung măn tràn đầy. Qua h́nh ảnh người mục tử, Chúa Giêsu c̣n muốn nêu bật mối liên quan giữa người chăn chiên và đàn chiên, tức là nói lên sự mật thiết giữa Ngài với mỗi người . Sự liên hệ ấy không dựa trên chiều dài của thời gian nhưng hơn nữa là tren chiều sâu của ḷng yêu mến. ḷng yêu mến Chúa khác nào ngọn lửa bốc cháy sưởi ấm mọi người, mọi vật chung quanh. V́ lư do đó Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trở nên những con chiên của Ngài, để rồi một khi đă cảm nghiệm được t́hn yêu thương của Chúa, chúng ta cũng sẽ trở nên những người mục tử khác tiếp nối công việc chăn chiên của Chúa và truyền đạt sự sống của Ngài đến cho những người khác đang ở ngoài đàn chiên, ở xa chuồng chiên của Chúa, bởi v́ sứ mệnh chính yếu của người mục tử là đi t́m kiếm những con chiên lạc và ân cần chăm sóc cho những con chiên bị bệnh tật, bé nhỏ và yếu đuối. Lạy Chúa Giêsu, Chúa là mục tử nhân hiền đă sẳn sàng hiến mạng sống v́ chúng con. Xin ban cho chúng con một trái tim quảng đại đầy t́nh yêu mến Chúa để chúng con cũng trở nên như người chăn chiên hiền lành, thánh thiện, theo gương Chúa v́ sự sống của đàn chiên là Giáo Hội. Nếu không có ơn Chúa phù trợ, che chở, làm sao chúng con có thể đối phó được với thú dữ đang ŕnh chực và cắn xé như con mồi ngon. Lạy Chúa, chỉ có Chúa mới là người dẫn đầu khôn ngoan trên con đường đầy chông gai khó nguy, là ánh sáng soi giữa bóng tối của những băn khoăn lo lắng trong cuộc sống hàng ngày của chúng con.
L̉NG THAM VÔ ĐÁY
ng Thâm vốn là người nổi tiếng có ḷng tham vô đáy. Tiền bạc, của cải, hầu như không bao giờ đủ với ông cả. Ông luôn gây gỗ với mọi người trong nhà chỉ v́ vấn đề tiền bạc. Thế rồi mấy người thù địch t́m mưu lập kế làm hại ông, họ đem đến tặng ông Thâm một con cá vàng nhỏ xíu đựng trong cái bầu thuỷ tinh. Họ nói với ông rằng:" Này ông Thâm, đây là con cá vàng nhỏ xíu nếu ông chịu khó nuôi con cá vàng này tới khi nó phát triển hết cỡ tới mức tối đa, rồi nó sẽ chết cách tự nhiên. Lúc đó, thân thể cá sẽ trở thành khối vàng ṛng và ông sẽ là người phú hộ giàu có nhất không ai có thể sánh được". Ḷng tham đă làm cho ông Thâm mờ mắt và mất trí khôn. Ông mù quáng tin lời phỉnh gạt của mấy tên thù địch và c̣n tỏ ra vui mừng biết ơn họ nữa. Ông dồn hết nghị lực vào việc chăn nuôi con cá vàng với tham vọng trở nên giàu có nhất làng. Ông không quản ngại mua các thức ăn cần thiết và rộng tay cho cá ăn để nó mau lớn. Cá ăn nhiều và lớn rất nhanh, nên ông phải chuyển nó vào thùng nước lớn hơn. Ngày tháng trôi qua, thùng nước trở nên quá bé nhỏ nên ông phải bỏ tiền đào ao cho cá. Năm tháng trôi qua, cá lớn hơn nữa và ông phải xây hồ nhân tạo cho cá được tự do bơi lặn và lớn thêm hơn với hy vọng khối vàng cũng lớn hơn nữa. Ông Thâm đă chi phí hầu như hết tài sản vào việc nuôi cá, nhưng con cá cứ lớn măi không ngừng. ông bắt đầu mong cho cá mau chết để được thấy con cá trở thành khối vàng vĩ đại và được trở thành người phú hộ vô địch như lóng ông vẫn thầm mơ ước. Cuối cùng, ông Thâm già yếu lại bị phá sản. Ông buồn sầu v́ mỏi ṃn trông chờ và đă từ trần trước khi cá chết để trở thành cá vàng thực sự. Ông Thâm không bao giờ hiểu rằng kẻ thù của ông đă tặng ông con cá voi thay v́ là con cá vàng làm cảnh. Quả thật, tham th́ thâm, như chúng ta vẫn thường nghe nói. Ai trong chúng ta lại không biết mối nguy hiểm của tiền bạc. Thế nhưng, tiền bạc vẫn có sức mạnh thu hút lạ thường và làm cho những ai chạy theo nó dễ bị mê hoặc tới mức độ mù quáng dại dột. Chúng ta vẫn biết là những người có ḷng tham vô đáy thường không bao giờ được an b́nh hạnh phúc cả, v́ họ luôn muốn giàu có thêm nữa. Hơn nữa, ḷng tham lại c̣n là gốc rễ phát sinh ra nhiều thứ tội ác. Trong Phúc âm, Chúa Giêsu không lên án sự giàu có hoặc của cải vật chất, nhưng giàu ḷng ao ước không kiềm chế và sự thèm muốn, ghen tương, tranh đấu để chiếm cho bằng được những của cải mau qua. Đó là dấu chỉ tinh thần quyến luyến của cải trần gian và chúng có nguy cơ trở thành một mối dây ràng buộc c̣n hiểm độc hơn là sự chiếm hữu những của cải trần gian đó. Tham vọng chiếm hữu này có thể bóp nghẹt tâm hồn và làm tê liệt ư chí. V́ thế, càng biết tự thoát khỏi những ràng buộc của cải thế trần, con người sẽ càng sẵn sàng đón nhận sự cao cả đích thực. Của cải vật chất mau qua có thể cống hiến cho chúng ta một bước tiến thân nhỏ bé và nghèo nàn. Nhưng chỉ một ḿnh Thiên Chúa mới có thể ban tặng cho con người những cái vô cùng tận mà thôi. Nếu người giàu có biết chia sẻ của cải với những người nghèo khó thiếu thốn hơn th́ những của cải giàu sang đó sẽ trở thành những phương thế giúp họ thu tích được những công nghiệp đời sau. Tuy nhiên, những người nghèo khó mà ham muốn của cải trần gian cũng sẽ không thể hưởng được những của cải đó v́ không có chúng, và rồi cũng sẽ nghèo nàn măi trong cuộc sống vĩnh cửu nữa. Lạy Chúa là Thiên Chúa giàu sang vô cùng, xin ban cho chúng con quả tim của Chúa, một trái tim quảng đại không đóng kín v́ cái nh́n trục lợi ích kỷ, không mù quáng v́ những đam mê bất chính, cũng không quá ti tiện hẹp ḥi chỉ muốn báo oán, trả thù. Xin đổi mới tâm hồn chúng con biết luôn rộng mở, sẵn sàng đón nhận và chia sẻ với tha nhân những ǵ mau qua thế trần để đổi lấy món quà vĩnh cữu vô tận là t́nh thương vô biên của Chúa.
L̉NG KHOAN NHƯỢNG VÀ THA THỨ
ới nhiều người trẻ hồi giáo trên thế giới, Osama Bin Laden vẫn là một anh hùng. Điều này được thấy rơ trong một chủng viện hồi giáo tên là Alnidmin tại Indonesia. Đối với hai ngàn học sinh của trường này, con người đang bị thế giới săn lùng này hiện đang được thần thánh hoá. H́nh của ông được dán đầy trên những bức tường của pḥng ngủ. Gương mặt của ông được in trên những chiếc áo thun của các học sinh của trường. Osama Bin Laden đối với các học sinh của trường Alnidmin sáng giá hơn cả những ngôi sao điện ảnh hay nhạc Rock đối với thanh thiếu niên tây phương. Nhưng nếu người trẻ tây phương tự chọn cho ḿnh thần tượng, th́ tại ngôi trường này, người hướng dẫn giới trẻ hồi giáo đi vào con đường bạo động và khủng bố của Osama Bin Laden không ai khác hơn là ông Abubaca Bassir, hiệu trưởng của trường. Ông đề cao Osama Bin Laden trong những bài thuyết giảng của ông và khuyên những người hồi giáo hăy đi theo con đường của kẻ khủng bố. Theo các quan chức Hoa kỳ và Á châu cho biết Abubaca Bassir là người đă đứng ra chiêu mộ các cảm tử viên cho mạng lưới Al Qaeda tại Đông Nam Á. Theo chính phủ Singspore, ông là người lănh đạo nhóm hồi giáo có tên Jêmaa Islamia mà các viên chức chính phủ xem như là một tổ chức khủng bố của nhiều nhóm rải rác trong vùng Đông Nam Á. Bị cảnh sát Idonesia thẩm vấn, ông Baasir đă nh́n nhận rằng ông đă từng huấn luyện cho mười ba người bị Malaysia và Singapore bắt giữ v́ liên can tới một âm mưu tấn công toà đại sứ Hoa Kỳ tại Singapore. Trong một cuộc phỏng vấn, ông tuyên bố rằng Hoa Kỳ là một quốc gia khủng bố, ông cho biết rất vui mừng v́ cuộc khủng bố ngày 11/ 9/ 2001 v́ Đấng Ala đă trừng phạt Hoa Kỳ. Trong bốn trăm năm qua, Indonesia là quốc gia rất tự hào về các trường hồi giáo này. Chính tại những trường này mà dưới thời cựu Tổng thống Suharto, các học sinh đă đắc thủ được tinh thần tự túc và sáng kiến. Trong một quốc gia vốn bị đè nặng bởi óc phong kiến, các trường hồi giáo này được xem như là những nơi ươm trồng tinh thần dân chủ, những giá trị đạo đức và nhất là thái độ khoan nhượng. Nhưng Alnidmin là một trường hợp cá biệt. Dưới sự lănh đạo của ông Baasir, trường này đă trở thành một trung tâm cổ vơ và đào luyện khủng bố. Brado Gotman Goji, người bị xem là người lănh đạo cuộc âm mưu cho nổ toà đại sứ Hoa Kỳ tại Singapore đă từng theo học bốn năm tại đây. Thánh chiến là con đường của thánh Ala. Đó là khẩu hiệu mà Goji đă từng tâm niệm tại đây và hiện nay đang được hai ngàn học sinh của trường hàng ngày tụng niệm. Tại cuộc gặp gỡ liên tôn để cầu nguyện cho hoà b́nh của thế giới tại Asisi ngày 24/ 1/ 2002, các vị đại diện tôn giáo đă đồng thanh tuyên bố rằng không có tôn giáo nào dạy con người nhnâ danh Thiên Chúa hay tôn giáo để sát hại người khác, nhất là những người vô tội và vô phương tự vệ. Nhân danh tôn giáo hay Thiên Chúa để khủng bố là một hành động vô tôn giáo. Thật ra, dù có niềm tin tôn giáo hay không, không một người có lương tri nào chấp nhận một thứ đạo đức cổ vơ cho bạo động và khủng bố. Nhân loại sẽ măi măi dựa trên tinh thần khoan nhượng để đánh giá các nhân vật lịch sử. Những kẻ dù tài ba lỗi lạc đến đâu, một khi đă lấy bạo động, hận thù làm chính nghĩa, sẽ măi măi là bia cho người đời nguyền rủa. Máu của người vô tội vnẫ là tiếng kêu không bao giờ tắt trong lịch sử nhân loại. "Hăy học cùng Ta v́ Ta hiền lành và khiêm nhượng trong ḷng", Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến học nơi mái trường của Ngài. Trong các thức học th́ học làm người là khó nhất và trong các bài học làm người, quan trọng hơn cả là ḷng khoan nhượng và tha thứ. Trong những giây phút cuối cuộc đời dương thế, Chúa Giêsu đă muốn để lại cho chúng ta bài học quan trọng nhất và là linh hồn của mọi giới răn, đó là Ngài đă tha thứ cho những kẻ đang hành hạ Ngài. Không có cử chỉ ấy th́ toàn bộ Tim mừng sẽ trở thành vô nghĩa. Không có bài học ấy th́ mọi lời rao giảng sẽ trở thành trống rỗng. Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết lấy tinh thần khoan nhượng và sự tha thứ làm cốt lơi của cuộc sống đạo của chúng con.
DANH HIỆU KITÔ
háng 4/1986, hai người đàn ông bạc đầu gặp nhau tại phi trường quốc tế Tokyo, Nhật bản, họ ôm nhau và khóc thành tiếng. một người là công dân Mỹ tên là Ponist, một người tên là Osibasi, công dân Nhật bản. LẦn cuối cùgn họ gặp nhau cách đó hơn bốn mươi năm trong một hầm kín tại Okinawa. Dĩ nhiên, lúc đó họ là hai kẻ thù không đội trời chung. Ponist llúc đó là một trung sĩ đang bồng trên tay một cậu bé Nhật Bản năm tuổi. Cậu bé đă bị trúng đạn ở cả hai chân. Osibasi là một trong hai người lính bắn sẻ đang ẩn nấp trong một góc của cùng một căn hầm. Th́ng ĺnh, Osibasi và người dồng đội của anh nhảy ra khỏi nơi ẩn nấp, chĩa súng vào người Ponist và chuẩn bị nỗ súng. Ponist chỉ c̣n biết đứng như trời trồng, rồi anh lặng lẽ đặc cậu bé xuống nền đất, lấy băng và bắt đầu lau vết thương cho cậu bé. Anh nghĩ rằng nếu anh có chết th́ ít ra cũng chết khi đang làm một nghĩa cử. Hai người lính Nhật Bản đứng nh́n với tất cả sửng sốt rồi từ từ họ hạ súng xuống. vài phút sau đó, người lính Mỹ làm điều mà Osibasi không bao giờ quên được, anh bồng cậu bé trern6 tay, đứng dậy và cúi đầu cám ơn hai người lính Nhật rồi mang cậu bé đến bệnh viện dă chiến của Mỹ. Năm 1985, Ponsist viết một lá thư cho một nhật báo tại Tokyo để cám ơn nhân dân Nhật Bản đả tha mạng cho ông ta tại một căn hầm ở Okinawa cách đó một mưoi năm. Osibasi đọc lá thư, ông liền liên lạc với tờ báo để nhờ dàn xếp cuộc gặp gỡ. Đây là một trong những cựô gặp gỡ căm động nhất của hai người . Nếu Osibasi đă dùng súng hạ sát kẻ thù của ḿnh, điều mà nguười llính nào cũng có thể làm trong chiến tranh, rart61 có thể anh sẽ chẵng bao giờ nhớ hay muốn nhớ lại chuyện đó; nhưng bởi lẽ Ponist đă muốn được chết trong lúc đang làm một nghĩa cử, và chính Osibasi cũng đă tha chết cho kẻ thù của ḿnh cho nên biền cố ấy được ghi măi trong tâm khảm của họ. Người ta luôn muốn quên đi một cơn ác mộng hay một hành động xấu xa đê tiện của ḿnh, nhưng ai cũng muốn ghi măi trong kư ức một việc làm vốn làm cho ḿnh lớn lên trong tư cách con người. Và người thọ ơn thường cũng không quên được một nghĩa cử người khác dành cho ḿnh. Một nghĩa cử dù nhỏ bé đến đâu cũgn có một giá trị vô biên. một lời nói ủi an, một nụ cười, một cái vỗ nhẹ trên vai và nhất là một cử chỉ tha thứ sẽ hkông bao giờ qua đi mà không để lại một ấn tượng khó quên trong tâm khảm con người. Đó là nét nỗi bật tren dung mạo của con người. Khi Chúa Giêsu hiện ra với hai người môn đệ đang trên đường đi về Em-Mau, Ngài vừa đi vừa tṛ chuyện với họ và nhất la diễn giải Kinh thánh cho họ, nhưng hai người môn đệ vẫn không nhận ra Ngài, măi cho tới khi ngồi vào bàn ăn, Ngài cử hành nghi thức bẻ bánh, mắt các ông mới mở ra để nhận ra Ngài. Bẻ bánh trao ban vốn là cử chỉ quen thuộc của Chúa Giêsu, cử chỉ ấy là nét đặc trưng trên dung mạo của Ngài. Ngày nay Giáo Hội lập lại cử chỉ ấy từng giây từng phút trên khắp thế giới, không chỉ qua cử hành Thánh Thể mà c̣n bằng vô số những nghĩa cử trong đời sống mỗi ngày của tất cả những ai mang danh hiệu Kitô. Chúa Giêsu được tiếp tục nhận diện qua những nghĩa cử ấy . Lạy Chúa, Chúa đă dạy chúng con người ta cứ giấu của bác ái và yêu thương để nhận ra chúng con là môn đệ của Chúa. Xin cho chúng con luôn được trở thành những dấu chỉ sống động của sự hiện diện của Chúa giữa mọi người.
DẤU CHỈ CỦA SỰ HIỆP NHẤT
heo báo Newyork Times, đă có sự tin tưỡng giữa các tù nhân Taliban bị giam giữ tại căn cứ Guantanamo và các sĩ săn sóc họ. Trong vài ngày nữa đây, điều khó tưởng tượng được sẽ xảy ra đó là cảnh tượng một trong các tù nhân sẽ ngồi uống trà với một trong những người đă từng bắt giữ anh. James Galagey, một bác sĩ nhăn khoa thuộc hải quân Hoa kỳ đang dự định giải phẫu mắt cho một tù nhân. Tù nhân này năm nay hai mươi mốt tuổi. anh đă bị trái banh bắn trúng vào đầu năm lên mười sáu tuổi, từ đó anh bị mù một mắt mà không bao giờ được chữa trị. Sau vài lần được nói chuyện với bác sĩ James Galagey, anh đă chấp thuận được giải phẫu. cuộc giải phẫu sẽ được diễn ra tại một bệnh viện dă chiến được dựng lên để đáp ứng nhu cầu của các tù nhân được đưa về từ Afghanistan. để biểu lộ sự tin tưởng của ḿnh, tù nhân đă mời viên bác sĩ uống trà với ḿnh sau cuộc giải phẫu. Bác sĩ Galagey nói như sau: " Anh ta muốn tôi ngồi xuống và uống trà với anh sau cuộc giải phẫu, và tôi đă đồng ư". Mời uống trà là một cử chỉ thân thiện và tôn trọng. Tuần trà thân hữu này sẽ diễn ra bên giường của bệnh nhân. Đây hẳn phải là một nghi thức đánh dấu t́nh trạng bớt căng thẳng giữa những quân nhân Mỹ và các tù binh Alqaeda. với cử chỉ này hai bên sẽ bắt đầu nh́n nhau bằng t́nh người chớ không bằng hận thù nữa. Các sĩ quan cũng như binh lính Mỹ mô tả thái độ của những tù binh là b́nh tĩnh và cộng tác. Trung tá Kerry Carryko, chỉ huy trưởng của trại tù hiện đang giam giữ một ttrăm năm mươi tù binh Alqaeda nói như sau:" Tôi nghĩ họ đă hiểu rằng họ sẽ được đối xử một cách nhân đạo. bị chuyễn đến đây là cả một vấn đề đối với họ, nhưng khi chúng tôi đă chứng minh cho thế giới thấy rằng chúng tôi đang đối xử với họ một cách nhân đạo, họ đă cảm thấy thoải mái hơn". Thời Chúa Giêsu có một bức tường ngăn cách rỏ rệt giữa giàu và nghèo, giữa biệt phái và thu thuế, giữa kẻ tự xưng là thánh thiện và người tội lỗi. Khi đến ngồi đồng bàn với những bị đẩy ra bên lề xă hội, Chúa Giêsu đă muốn xoá bỏ mọi ngăn cách giữa người với người. Trong bất cứ xă hội nào, ngồi đồng bàn cũng nói lên sự b́nh đẳng, t́nh thân hữu. Chúng ta vẫn thường nghe nói: bàn ăn là dấu chỉ của sự hiệp nhất. Chia sẻ với nhau một chén cơm, nhâm nhi với nhau một ly rượu hay như trường hợp hai kẻ cựu thù trên đây uống với nhau một tuần trà, đó là những cử chỉ rất người để xoá bỏ những ngăn cách của hận thù, nghi kỵ và thắt chặt t́nh người. Sáng một hồi chuông, tối một hồi chuông, tên cướp nghe măi cũng có lúc phải hồi tâm. Trái tim con người quả thực được tạo nên để cảm xúc. Không một nghĩa cử nào mà không có sức đánh động. Trừ một trái tim chai lỳ và sơ cứng , bao lâu c̣n rung lên những nhịp sống, con người khó có thể dửng dưng trước những cử chỉ đẹp của người đồng loại. Những ai sống theo thần khí Chúa đều cảm nghiệm được sức mạnh của sự thiện và những nghĩa cử của con người. trong thư gửi giáo đoàn Roma đoạn 12, thánh Phaolo đă khuyên chúng tanhư sau: "Hăy chúc lành cho những người bắt bớ anh em. Chúc lành chứ đừng nguyền rủa. vui với người vui, khóc với người khóc. phải đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những ǵ hèn mọn. anh em đừng cho ḿnh là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác. Hăy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. hăy làm tất cả những ǵ anh em có thể làm để được sống hoà thuận với mọi người". Lạy Chúa, xin đổ tràn Thần Khí yêu thương của Chúa trên chúng con để trong tất cả mọi sự, chúng con biết lấy t́nh thương mà đối xử với mọi người.
SỐNG VÀ YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG
háng 4/1940, quân đội Đức quốc xă xâm chiếm Đan mạch, người ta không thấy có bất cứ sự kháng cự quân sự nào về phía Đan mạch bởi v́ Đan mạch biết rằng có chống cự cũng vô ích. một chính phủ bù nh́n được dựng lên và người dân Đan mạch phải làm những biểu hiện cụ thể cần thiết để sống c̣n. Nhưng năm 1943, Đức Quốc Xă quyết định cho Đan mạch cùng một chủ trương độc ác như tại những nước bị chiếm đóng khác ở Âu châu. Một cách cụ thể, họ cũng muốn người dân Đan mạch tích cực cộng tác trong việc truy lùng và quét sạch người Do Thái ra khỏi xă hội, nhưng một số sĩ quan Đức c̣n có lương tâm đă tiết lộ cho quân kháng chiến Đan mạch chương tŕnh độc ác của Đức quốc xă. Những con đường trốn thoát đă mau chóng được thiết lập, những người hoàn toàn xa lạ đă tiến đến gặp người Do thái ngoài đường phố và trao cho họ ch́a khoá nhà của ḿnh để họ có thể lẩn trốn, những nhân viên hoả xa và các thuyền trưởng cũng tham gia vào kế hoạch cứu thoát người Do thái. Chỉ trong vài tuần lễ đă có it nhất bảy ngàn người Do thái đă trốn thoát khỏi Đan mạch để qua Thuỵ điển v́ nước này chưa bị Đức quốc xă xâm chiếm. Một số người Do Thái c̣n cho biết tàu của họ bị những chiếc tàu tuần duyên của hải quân Đức quốc xă kiễm soát các sĩ quan Đức đă để cho họ trốn thoát. Đối với nhiều người Dan mạch, kế hoạch giúp người Do thái trốn thoát có thể đồng nghĩa với tử h́nh hay trại tập trung. Nhưng đứng trước nhu cầu sinh tử của người Do thái, cả dân tộc Dan mạch và nhiều người Đức đă từ bỏ thái độ thhù nghịch oán hờn để sẳn sàng hy sinh tất cả v́ một nghĩa cử yêu thương cao cả. Thái độ của người Đan mạch và một số người Đức tại Đan mạch đối với người Do thái trên đây gợi lại cho chúng ta gương của thánh Maxiliano Kolbe, người đă hy sinh mạng sống của ḿnh để cứu một người bạn tù trong thời Đức quốc xă. Chết thay cho một người bạn tù, thánh Maxiliano Kolbe đă sống cho đến cùng lời dạy của Chúa Giêsu:" Không có t́nh yêu nào cao cả hơn tùnh yêu của người thế mạng v́ người ḿnh yêu ". Chúa Giêsu đă sống cho đến cùng, yêu thương cho đến cùng cho nên Ngài đ̣i hỏi các môn đệ của Ngài cũng phải có thái độ tan65 căn. cầm cày mà ngó lại dằng sau th́ không xứng đáng làm môn đệ Ngài. Ai không từ bỏ tất` cả mọi sự, kể cả cha mẹ, vợ con, anh em không đáng làm môn đệ của Ngài. Quả thực, trong cuộc sống cũng như giáo huấn của Ngài, Chúa Giêsu không cấhp nhận thái độ nước đôi hay thoả hiệp. Thoả hiệp nào cũng là một tính toán và trong tính toán luôn có hơn thiệt, khi cái lợi trước mắt là một mất mát lâu dài, có khi được của cải vật chất mà mất những giá trị đạo đức, có khi được một cút lợi lộc mà hư thiệt bản thân. Chúa Giêsu đă chẵng cảnh cáo: " Được cả thế gian mà mất chính bản thân th́ được ích ǵ". Con người chỉ t́m lại được bản thân bằng sự hiến thân vô vị lợi mà thôi. Chân lư về con người này như được cộng dồng chung Vaticano II nhắc nhở trong hiến Vui mừng và hy vọng cũng cầcn được chúng ta đem ra tâm niệm và thực hành mỗi ngày. Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết sống quảng đại, biết cho đi mà không tính toán. Xin cho chúng con không chờ đợi một phần thưởng nào khác hơn là biết rằng chúng con đang thực thhi thánh ư Chúa.
ÁNH SÁNG HY VỌNG
ột chuyên gia tâm lư trị liệu kể lại một kinh nghiệm như sau: Một thanh niên bị ung thư xương đến xin tôi cố vấn. Một chân của anh đă bị cưa tới háng. Anh xem nỗi bất hạnh này như một nỗi bất công đối với anh, Cho nên anh căm thù tất cả mọi người khoẻ mạnh. bằng tâm lư trị liệu và cụ thể, bằng các h́nh vẽ, tôi cố gắng giúp anh vượt qua sự căm hận ấy. chỉ sau hai năm trị liệu, anh mới ra khỏi chính ḿnh để t́m đến với người khác. Anh bắt đầu đi thăm viếng những người tàn tật có khi phải chịu những mất mát lớn lao hơn và kể lại cho tôi nghe những câu chuyện vô cùng lư thú. Ngày nọ, anh đến thăm một thiếu nữ cùgn tuổi với anh. Hôm đó là một ngày hè nóng, v́ mặc quần ngắn cho nên anh để lộ chiếc chân giả khi bước vào nhà thương. người thiếu nữ vừa mới bị giải phẫu ngực. sự mất mát làm cho cô thất vọng đến nỗi cô không muốn nh́n tới người thanh niên. Có lẽ, để làm cho cô khuây khoả, các y tá đă mở nhạc thật lớn. Dù vậy, người thiếu nữ vẫn không để ư tới bất cứ người nào. Không biết làm cáh nào khác hơn, người thanh niên liền tháo chiếc chân giả của anh rqa và bắt đầu nhảy múa theo điệu nhạc. Cử chỉ lạ thường của người thanh niên tạo được sự chú ư của cô gái. Cô nh́n anh và bật cười thành tiếng. Cô nói: - Nè ông bạn, nếu ông nhảy múa được th́ tôi cũng có thể hát. Một năm sau, chúng tôi ngồi lại với nhau để nh́n lại kết quả công việc. Người thanh niên nói về những ǵ là có ư nghĩa nhất đối với anh và tôi cũng chia sẻ những ǵ mà tôi cho là có ư nghĩa nhất trong quá tŕnh làm việc. Trong khi nh́n lại diễn tiến của công việc trong hai năm qua, tôi mở hồ sơ của anh ra và thấy có nhiều tấm h́nh được anh vẽ trước đó, tôi trao cho anh, anh xem qua rồi cầm lên một bức h́nh, trong bức h́nh này, theo đề nghị của tôi anh đă vẽ điều mà anh cho là tượng trưng cho thân thễ của anh. Đó là bức h́nh của một chiếc b́nh vỡ có một đường nứt chạy xuyên qua. đường nứt này được anh dùng một cây bút ch́ đen để tô đậm nét. Lúc đó tôi nhận thấy anh đă trúc bỏ những cơn giận dữ của anh, hẳn anh đă phải đau khổ nhiều bởi chiếc b́nh là thân thể của anh dường như sẽ không bao giờ có thể hoạt động b́nh thường được nữa. chiếc b́nh vở th́ làm sao có thể giữ nước. thế nhưng, giờ đây sau nhiều nam, nh́n lại bức h́nh, anh thốt lên: - Tôi chưa vẽ xong tấm h́nh. Tôi trao cho anh hộp bút ch́ và nói: - Thế th́ tại sao anh không vẽ cho xong? Anh liền cầm lấy cây bút ch́ màu vàng rồi bắt đầu tô đậm lên chỗ nứt trên chiếc b́nh. Anh giải thích như sau: - Chính tại chỗ nứt rạn này mà ánh sáng mới chiếu xuyên qua. Thay cho chỗ nứt rạn ấy là một luồn ánh sáng. Ánh sáng đă chiếu qua chỗ nứt rạn trên thân thể anh. Chúng ta có thể lớn mạnh trong những chỗ đổ vỡ. Đó là bài học mà chuyên viên tâm lư trị liệu trong câu chuyện trên đây muốn chia sẻ cho chúng ta. Không có nỗi bất hạnh nào trong cuộc sống có thể giam hăm chúng ta lại, chính chúng ta mới là người tự giam hăm chính ḿnh trong vỏ ốc thất vọng của chúng ta. Niềm tin Kitô giáo luôn mang lại cho chúng ta ánh sáng của hy vọng. niềm tin này nói với chúng ta rằng mỗi người là một ngôi vị độc nhất vô nhị, và vậy có một chỗ đứng và một vai tṛ cá biệt trong thế giới này. Nếu chúng ta ư thức được chỗ đứng ấy, và nếu chúng ta biết tận dụng khả năng của chúng ta, chúng ta sẽ góp phần làm cho thế giới này thành một nơi đáng sống hơn, và như vậy, cuộc sống của chúng ta mới có ư nghĩa. Thay v́ ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối, hăy đốt lên một ngọn nến; thay v́ ngồi đó mà than khóc những nỗi bất hạnh của cuộc đời, hăy ra khỏi bản thân và làm bất cứ một điều ǵ đó hữu ích cho người khác. Phải chăng đó không là bí quyết để chúng ta t́m được niềm vui và ư nghĩa cho cuộc sống? Lạy Chúa, dù chỉ là một nén bạc nhỏ, nhưng xin cho chúng con cũng được đón nhận như một nén bạc đặc biệt Chúa đă trao gửi riêng cho mỗi người chúng con và ra sức làm cho nén bạc ấy sinh lợi.
NHỮNG ÁNH SAO ĐÊM Tối hôm ấy, một chiếc phi cơ cất cánh lên đường băng qua biển Đại Tây Dương, đang lúc hành khách đang dùng bữa tối và nghe nhạc êm dịu th́ bỗng dưng hệ thống truyền thông bị trục trặc, kim chỉ nam ngừng di động và không c̣n biết phải làm thế nào để t́m ra hướng bay được. Kỹ sư phi công đă t́m mọi cách sữa chữa nhưng vô hiệu. Làm sao có thể tiếp tục bay an toàn qua biển cả giữa đêm tối mà không có mốc điểm chỉ dẫn được? Lập tức các chiêu đăi viên được lệnh đi t́m xem trong số khách hàng trên máy bay có ai là kỹ sư điện tử chăng. Sau một lúc xớn xác lo lắng, cuối cùng một hành khách đứng dậy tiến vào buồng láy của phi công. Người phi công hỏi: - Bà có phải là kỹ sư điện tử không? Người phụ nữ đáp: - Không, tôi không phải là kỹ sư và tôi cũng chẳng biết ǵ về điện tử cả. Phi công bực ḿnh la lên: - Nếu bà không phải là kỹ sư và cũng không biết ǵ về điện tử th́ bà vào đây làm ǵ? Người phụ nữ vẫn b́nh thản không chút phật ḷng. Bà nói thêm: - Xin ông cho tôi biết vấn đề khó khăn của ông lúc này là ǵ và biết đâu tôi có thể giúp ông được. Người phi công tức giận quát lớn tiếng: - Nếu bà không biết ǵ về điện tử, xin bà hăy ra khỏi đây ngay, bà không thể làm ǵ giúp tôi được. Một lần nữa với giọng b́nh tĩnh và rất lịch sự, người phụ nữ lập lại: - Xin cho tôi biết ông cần ǵ, tôi hy vọng có thể giúp ông được? Người phi công vùng vằng nói: - Bà không thấy đó ư? Hệ thống truyền thông không làm việc, tôi không biết chúng ta đang ở đâu và đang bị thất lạc trên biển cả mênh mông nào. Người phụ nữ thản nhiên tiếp: - Nếu vậy th́ tôi có thể giúp ông được. Tôi biết có một thứ dụng cụ không bao giờ ngưng làm việc, trong quá khứ nó đă không hề sai lầm và cũng sẽ luôn chính xác măi trong tương lai nữa. Người phi công ngạc nhiên hỏi thêm: - Bà muốn nói điều ǵ? - Tôi muốn nói tới dụng cụ trên bầu trời, đó là những v́ sao. Thật vậy, hăy nh́n xem ngôi sao kia, nó sẽ chỉ hướng cho ông. Ông hăy cho tôi xem bản đồ của phi lộ trên biển cả và đích điểm chúng ta phải tới. Người phi công càng ngạc nhiên hơn nữa khi khám phá ra rằng người phụ nữ tầm thường trước mặt ông lại chính là một nhà thiên văn đă quá quen thuộc với những v́ sao trên bầu trời mênh mông. Bà ngồi xuống bên cạnh người phi công với tấm bản đồ mở rộng trên đầu gối và mắt bà chăm chú nh́n lên bầu trời đầy sao sáng. Với tất cả sự khôn ngoan và lăo luyện của người đă từng kinh nghiệm, bà hướng dẫn phi công cầm vững tay lái. B́nh minh vừa ló dạng, máy bay đă đáp xuống đích diểm được an toàn. Câu chuyện trên đây cũng gợi lên trong tâm trí chúng ta biến cố kinh hoàng của ngày 11/ 9/ 2001. Ngày đó đánh dấu sự gịn mỏng của nền văn minh dựa trên khoa học, những phát triển phi thường của điện tử hoặc của trí thông minh loài người. Tất cả những tiến bộ đó hẳn không đủ và cũng không thể giải đáp được hết mọi vấn đề của đời sống con người. Đời sống con người từ lúc chào đời cho tới khi nhắm mắt ĺa trần cũng giống như chuyến bay trên biển cả mênh mông và trong đêm tối mù mịt, nhưng chúng ta cũng không cần phải sợ hăi bị lạc đường v́ luôn được những ngôi sao sáng của đức tin, niềm hy vọng cậy trông và ḷng yêu mến dẫn đường cho để tiến bước an toàn tới đích điểm sau cùng là Nước Trời. Nền văn minh của khoa học và những phát triển tinh vi của điện tử không đủ để đảm bảo sự an b́nh của đời sống con người và cũng không thể nào nắm vững vận mệnh cứu độ của con người được. Chúng ta cũng cần đến những người của Chúa, những dụng cụ Chúa dùng để vạch đường như kim chỉ nam nhắm thẳng tới những giá trị bất diệt. Để có thể vững vàng tiến bước, nhiều lúc chúng ta cũng phải dừng lại và ngửng cao đầu lên nh́n ngắm những v́ sao trên trời mà đào sâu những chân lư vô h́nh, tức là cần phải biết cầu nguyện. Bao lâu chúng ta c̣n biết ngước mắt nh́n lên trời, nh́n thẳng tới Chúa với tâm t́nh con thảo cầu nguyện, bấy lâu chúng ta sẽ không phải lạc đường sai lối, nhưng sẽ luôn t́m thấy những người vạch đường chỉ lối cho, để tới đích trong an b́nh chắc chắn. Lạy Chúa Giêsu, như tông đồ Phêrô xưa, chúng con sẽ thưa với Chúa: "Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ theo ai. Chỉ nơi Thầy mới có sự ban sự sống đời đời mà thôi". Xin t́nh yêu và lời Chúa luôn là ánh sáng soi đường con đi trong tăm tối của cuộc đời, là như những v́ sao sáng giúp con t́m lại được hướng đi cả những khi đêm tối xem như dải đất vô tận.
ĐIỀU CĂN BẢN CỦA CẦU NGUYỆN
rong sách truyện cổ tích người Do Thái kể rằng: Dưới thời rabbi Ben Sen Tốp, mỗi lần dân chúng gặp thiên tai, hoạn nạn, thầy rabbi thường vào nơi thánh địa trong khu rừng vắng đốt lửa và sốt sắng cầu nguyện và đều được Chúa cho tai qua nạn khỏi. Nhiều năm trôi qua, đến thờ rabbi Na chit men trít, tai ương hoạn nạn lại ào tới dân chúng. Rabbi cũng vào rừng và cầu khẩn: "Lạy Giavê là Thiên Chúa cao cả, là vua trời đất. Con không biết phải đốt lửa thánh thế nào, nhưng c̣n nhớ nơi Thánh này trong rừng này và lời kinh đặc biệt này dâng lên Chúa đây". thầy đọc kinh tại nơi Thánh trong rừng, rồi trở về và tai ương hoạn nạn cũng qua đi. Đến thời rabbi Mô Sê Pơ Lếch dân chúng bị thù địch đe doạ gây chiến. Thầy rabbi cũng vào rừng và cầu nguyện: "Lạy Giavê là Thiên Chúa cao cả. Con vẫn c̣n nhớ nơi Thánh trong rừng này, nhưng con lại không biết đốt lửa Thánh và cũng không c̣n thuộc lời kinh đặc biệt để dâng lên Chúa nữa. Con chỉ biết tha thiết cầu xin Chúa đoái mắt nhân từ nh́n đến dân Chúa và giải thoát chúng con khỏi tay thù địch". Cầu nguyện xong, thầyêu rabbi trở về và dân chúng được giải thoát khỏi tay thù địch. Sau cùng, đến thời rabbi Jin Jin, nạn dịch lại lan tràn tới đe doạ mạng sống của dân chúng. Thầy rabbi đành phải ngồi ở nhà và thầm thĩ cầu khẩn cùng Chúa trong thâm tâm: " Lạy Giavê là Thiên Chúa độc nhất. Rất tiếc là con không c̣n biết đường để tới nơi Thánh trong rừng sâu nữa, con không biết cách đốt lửa và hơn nữa con cũng không c̣n nhớ lời kinh đặc biệt để dâng lên Chúa nữa. Tuy nhiên con chỉ biết kêu cầu Chúa ghé mắt nhân từ xót thương dân Chúa và cứu thoát chúng con khỏi tử thần đang muốn sát hại mạng sống của dân Chúa". Một lần nữa thiên Chúa nhân từ lắng nghe lời cầu nguyện của rabbi và cứu chữa dân Ngài. V́ đâu tất cả các thầy rabbi trên đây điều được Thiên Chúa đoái thương nhận lời cầu nguyện của họ? Phải chăng v́ nơi Thánh họ đến cầu nguyện hoặc biết cách đốt lên ngọn lửa Thánh, hay là v́ đă đọc đúng công thức của lời nguyện? Hẳn không phải thế! Căn bản của cầu nguyện chính là ḷng tin tưởng vào quyền phép của Chúa, là cậy trông nơi t́nh thương vô biên của Ngài, là Cha nhân từ luôn yêu thương chăm sóc con cái Ngài và ḷng bác ái đối với tha nhân. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu quả quyết với dân chúng rằng: "Khi cầu nguyện, chớ ham dài lời, v́ nghĩ rằng phải nói nhiều mới được việc, bởi v́ trước khi các ngươi cầu nguyện, Thiên CHúa đă hiểu rơ các ngươi cần ǵ rồi". Về nơi cầu nguyện, Chúa Giêsu dạy chúng ta tránh những h́nh thức phô trương tại những nơi công cộng để người khác chú ư tới. Trái lại, Ngài nêu bật tầm quan trọng nội tâm của mỗi người như đền thờ Chúa ngự trị, Ngài nói: "C̣n ngươi lúc cầu nguyện cứ vào pḥng đóng cửa lại, kín đáo cầu xin cùng Cha ngươi, Ngài thấu trước nơi bí ẩn sẽ ban thưởng cho ngươi". Trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng tổ phụ Giacóp, Chúa Giêsu c̣n tỏ lộ cho bà ư nghĩa sâu xa của việc tôn thờ Chúa, không phải bằng những h́nh thức bên ngoài nhưng là bằng tinh thần và chân lư. Ngài nói với bà: "Hăy tin Ta, đă đến lúc các ngươi không cần thờ Chúa Cha trên núi này hoặc ở Giêrusalem nữa. Các ngươi thờ lạy điều các ngươi không hiểu. C̣n Ta kính thờ điều Ta biết rơ nhưng thời giờ sắp tới, lại đă đến lúc các kẻ thành tâm sùng kính phải thờ phượng Cha bằng tinh thần và chân lư, v́ Cha muốn cho người ta thờ kính Ngài như vậy". Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng nên ai sùng bái Ngài cũng phải lấy tinh thần và chân lư mà thờ kính Ngài. Lạy Chúa là Thiên Chúa cao cả, Chúa thống trị khắp mọi nơi, thông biết mọi sự. Toàn thể địa cầu không thể chứa nổi Chúa, nhưng Chúa lại ưa thích ngự trị trong tâm hồn mỗi người chúng con để gặp gỡ mỗi người cách thân mật, thân t́nh như bạn hữu. Thế mà biết bao lần con vẫn hững hờ không biết đón tiếp và hầu chuyện với Chúa đang hiện diện trong con. Lạy Chúa, xin thêm ḷng tin cho con. Xin giúp con biết trở về nội tâm con để gặp gỡ Chúa đang đợi chờ và luôn sẵn sàng lắng nghe con cầu xin.
Ư NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA THỜI GIỜ
ó con cá thu bị cơn sóng lớn hắt lên băi biển. Nó nằm sơng sượt trên băi cát, vẫy đuôi cựa quậy để trở về mặt nước nhưng vô hiệu. Thất vọng, nó chỉ c̣n biết van xin cầu cứu có ai động ḷng thương giúp nó. Một người giàu có đi ngang qua trên băi cát, cá hổn hển kêu xin: - Ông ơi, ông làm ơn giúp tôi với. Người giàu có đáp: - Rất tiếc, tôi không thể giúp cá được. Tôi phải đi ngay v́ đă trễ giờ rồi. Xin cá thông cảm đợi ai khác tới sau sẽ giúp cho. - Cá tiếp tục vẫy đuôi dưới băi cát, gặp lúc một khách du lịch đi ngang qua và cá lên tiếng kêu xin. Khách du lịch trả lời: - Tôi cũng muốn giúp cá lắm nhưng không biết phải làm ǵ đây. Tôi không có ǵ để đưa cá trở lại biển cả được. Tôi đi du lịch không đem theo dụng cụ nào hết. Cá khẩn khoản xin: - Ông ơi, ông không cần dụng cụ nào cả, ông có thể cầm tay nắm lấy tôi và ném tôi vào biển cả là cứu sống tôi được rồi. Khách du lịch nh́n cá lưỡng lự định giơ tay giúp đỡ nhưng rồi lại thôi. Ông nói: - Tôi cũng có thể giúp cá được, nhưng tốt hơn cá hăy tự giúp ḿnh đi, muốn là được mà. Khách du lịch rút máy chụp h́nh con cá quằn quại trên băi cát rồi bỏ đi. Kế đó, một phụ nữ tay xách cặp đi ngang qua và cá lại van lơn cầu cứu: - Xin cứu tôi với, tôi sắp chết rồi, tôi không thể sống ngoài nước lâu hơn được nữa. Người phụ nữ dừng chân, quan sát, lắng nghe cá rồi nói: - Trước khi cứu giúp cá, tôi cần biết lư lịch của cá đă. Cá thều thào thuật lại mọi sự với hơi thở c̣n lại. Nhưng người phụ nữ vẫn chưa hài ḷng, bà c̣n đ̣i được biết thêm v́ lư do nào mà cá phải trôi giạt vào bờ và cá phải cam kết không được trở lên bờ nữa. Tuy nhiên, nói xong th́ con cá cũng tắt ngủm luôn. Người phụ nữ lắc đầu quay nh́n con cá chết rồi bỏ đi. Bà nhún vai thầm th́: "Đời là thế, cũng tại lỗi của cá chứ đâu tại lỗi của ai hơn". Mặt biển vẫn phẳng lặng hồi lâu. Cuối cùng, một cơn sóng lớn nổi lên tạt vào bờ cuốn theo xác con cá chết đem nó chôn vùi trong ḷng biển. Ư nghĩa câu chuyện ngụ ngôn trên đây thật dễ hiểu. con cá cần nước để sống. Con người cũng cần hít` thở dưỡng khí để sống. Trong các nhân tố cuộc song, Thiên Chúa ban cho chúng ta có thoời giờ và dưỡng khí. thời giờ dể sống và dưỡng khí để thở. Thế nhưng, biết bao nhiêu người hàng ngày chạy bán sống bán chết và nổi điên v́ có cảm tưởng là thiếu thời giờ. Một trong những nét đặc thù của con người trong xă hội hưởng thụ ngày nay là chạy, Chạy lui chạy tới, bon chôn hớt hải. Xe chạy, thành phố chạy, tất cả đều chạy để khỏi mất thời giờ, để tranh thủ gấp rút và để được lợi giờ. Chúng ta chào nhau vội vă v́ không có thời giờ. Chúng ta không thể suy nghĩ hay quyết định, hoặc đọc sách hay cầu nguyện, v́ thiếu thời giờ. Thậm chí ăn không ngon, ngủ không thẳng giấc cũng v́ thiếu thời giờ. Biết bao lần chúng ta c̣n vịn cớ là không có thời giờ để từ chối thực thi một công việc tốt lành, một hành động bác ái, một sự quan tâm tới nhu cầu sống c̣n của những nhười ở ngay bên cạnh chúng ta. Phải chăng thực sự là thời giờ quá ít ỏi, quá ngắn ngủi hay bởi chúng ta đang lầm lẫn điều ǵ đó, hoặc là v́ bậc thang giá trị của chúng đang bị đả lộn và xáo trộn? Phải chăng sở dĩ diều đó đă và đang xảy ra là v́ chúng ta đă bỏ quên một điều rất quan trọng? Như Chúa Giêsu đă nói với bà Macta ngày xưa khi Ngài đến thăm hai chị em bà. Vào dịp đó, bà Macta lăng xăng sửa soạn nấu nướng dọn bữa ăn cho Chúa, trong khi cô em là Maria ngồi yên lặng dưới chân Chúa lắng nghe Ngài nói và nh́n ngăắmChúa ới tất cả yêu thương và tŕu mến. Lúc đó bà Macta đă dám trách Chúa sao không bảo em bà phụ giúp bà một tay. Chúa Giêsu đă trả lời bà: "Chỉ có một điều cần thiết mà thôi mà em con đă biết chọn trước rồi, đó là biết dùng thời gị để lắng nghe với tất cả tâm hồn và biết yêu thương". Lạy Thiên Chúa là nguồn t́nh yêu, thời giờ là của Chúa, đối với Chúa chỉ có hiện tại v́ Chúa là đấng hằng hữu. Xin giúp con hiểu rỏ ư nghĩa và giá trị của thời gíơ sống trọn vẹn mỗi giây phút hiện tại v́ t́nh yêu, với t́nh yêu và cho t́nh yêu mà thôi, t́nh yêu Chúa và t́nh yêu tha nhân. Ước chi t́nh yêu trở nên như dưỡng khí con thở từng giây phút và thời giờ của cuộc sống con cũng chỉ là để yêu thương mà thôi. MẦU NHIỆM CỦA ĐAU KHỔ é
rong tác phẫm có tựa đề Đêm, tác giả Eliwisel, người sống sót từ các trại tập trung Đức quốc xă trở về và sau được giải Nobel hoà b́nh đă kể lại một cuộc hành quyết như sau: Những người linh Đức quốc xă xem ra có vẻ lo lắng và bị xáo trộn hơn mọi khi. Treo cổ một thiếu niên trước mặt hàng ngàn người không phải là chuyện cơm bữa. Người đứng đầu trại đọc bản án. Tất cả mọi con mắt đều hướng về cậu bé. Người cậu bé tái xanh nhưng nó mím môi để giữ b́nh tĩnh, giàn treo đang phủ bóng lên cậu bé. Lần này, người đứng đầu trại khước từ vai tṛ lư h́nh, ba người lính Đức quốc xă thế chổ ông, ba nạn nhân cùng leo lên ba chiếc ghế, ba cái cổ cùng được đưa vào cái dây tḥng lọng. Hai người lớn hô: "Tự do muôn năm", nhưng người thiếu niên giữ thinh lặng. Đàng sau tôi có ngựi hỏi:"Chúa đang ở đâu? Người đang ở đâu?" khi người trưỏng ttrại ra hiệu, cả ba cái ghế cùng bị xô ra một bên. Cả trại ch́m ngập trong thinh lặng. Ở chân trời, Thái dương đang từ từ lặn. Người trưởng trại la lớn: " Bỏ mũ ra!" Giọng của ông khàn. Tất cả chúng tôi đều khóc. Rồi ông ra lệnh: "Đội mũ lên!" Và cuộc diễn hành về trại bắt đầu. Hai người lớn không c̣n sống nữa, những cái lưỡi của họ thè ra, tím lịm và sưng lên; nhưng chiếc dây thừng thứ ba c̣n động đậy, v́ quá nhẹ cân cho nên cậu bé vẫn c̣n sống. Trong hơn một tiếng rưởi đồng hồ, em vẫn c̣n treo lơ lững ở đó, chiến đấu giữa cái chết và sự sống. Chết từ từ dưới cái nh́n của chúng tôi. Và chúng tôi phải nh́n thẳng vào mặt em, lưởi em vẫn c̣n đỏ nhưng mắt em đă mất thần. sau lưng tôi, tôi vẫn c̣n nghe cái giọng lúc năy hỏi: "Bây giờ, Chúa đang ở đâu?". Và tôi nghe có một tiếng noói trong tôi trả lời cho ông:"Chúa ở đâu ư? Ngài đang ở đây này. Ngài đang bị treo trong cái dây tḥng lọng kia ḱa!". Có hai người cùng bị treo trên thập giá với Chúa Giêsu. Một người đă nhận ra Ngài như Đấng cứu độ và được ơn tha thứ. Một người lại nguyền rủa và khước từ sám hối. Trước đau khổ của cuộc sống, có người tin tưởng và phó thác, có người nổi loạn và phạm thượng. Đau khổ là thước đo nhân cách và ḷng tin của con người. Đau khổ là trường đào luyện và thanh tẩy con người. Giữa đau khổ, Chúa Giêsu đă cho chúng ta thấy được thái độ đúng đắn của con người. Ngài luôn thưa xin vâng với thánh ư Chúa Cha. Trước đau khổ của người khác, Ngài cảm thông tới độ dồng hoá với tất cả những ai đang đau khổ. Ngài là Thiên Chúa có mặt trong từng nổi đau của con người. Ngài là Thiên Chúa đang bị bách hại. Ngài là Thiên Chúa đang bị ruồng rẫy khước từ trong tất cả những người bị bỏ rơi và đẩy ra bên lề xă hội. Mùa chay , sống mầu nhiệm khổ nạn của Chúa Giêsu, chúng ta không dửng dưng trước nỗi khổ đau của người đồng loại. Khổ đau dường như là nơi ưu việt để Thiên Chúa của t́nh yêu tỏ ḿnh. Chính qua và trong những người đang đau khổ mà Ngài mời gọi chúng ta nhận ra Ngài. Lạy chúa, trong thân phận con người, chúng con không thể thoát khỏi khổ đau, Chúa đă nên giống chúng con trong mọi sự. Chúa đă trải qua đau khổ. Giữa những khổ đau, xin cho chúng con luôn cảm nhận được sự hiện diện của Chúa mọi nơi, mọi lúc.
TỰ DO VÀ HY VỌNG?
rong thời thế chiến, các máy bay địch thường bay là là trên các thành phố của Anh quốc và thả bom tàn phá những nhà máy. điều này là một nguy hiễm lớn cho những người c̣n ở lai thành phố và cách riêng cho các trẻ em. V́ lư do an toàn, các trẻ em đuocụư sơ tán tới nơi an toàn hơn tại những vùng thôn quê, trong số đó có năm trẻ em được di tản tới một nông trại cách xax thành phố khoảng một trăm cây số. Chẳng mấy chốc năm em ở thành phố đă dược các em của miền quê dạy cho biết tên của từng con vật và từng loại cây, từng thứ hoa mọc lên ở ven đường. Một ngày nọ, có một con chim héc, thuộc loại chim có tiếng hót hay, mệt lử, sa cánh vào một chuồng gà rộng lớn. Bọn trẻ bắt được con chim và làm cho nó một cái lồng từ một cái hộp gỗ đung85 táo củ kỹ. Các em tỏ ra rất quan tâm đến con chim héc và rất an cần săn sóc nó từ thức ăn cho tới nước uống. Mấy hôm sau, chim b́nh phục , bay nhảy trong chuồng. Tuy nhiên, con chim héc vẫn không cho bọn trẻ nghe giọng hót hay của nó mặc dù các em vẫn hàng ngày cung cấp hạt giống và đậu phụng làm lương thực và thay nước sạch cho nó uống. Sau một tuần, các em quyết định dọn sạch chuồng cho nó. Trong lúc làm vệ sinh chuồng, một em vô t́nh không đóng kỷ cái cửa sổ bé nhỏ , thế là con chim héc lợi dụng cơ hội tốt nhanh nhu chớp chạy vụt ra ngoài. Nó bay một ṿng trong chuồng gà rồi bay ngang qua cửa sổ lớn và chẳng mấy chốc đă đậu trên ngọn cây cao nhất của bờ giậu. trước sự ngạc nhiên của năm đứa trẻ, con chim héc bắt đầu hót những giọng diệu dàng và thanh thot nhất mà bọn trẻ chưa hề được nghe. Sau cùng các em đă hiểu. Con chim ở trong cái lồng do tay người ta làm nên thường không hót bởi v́ hy vọng được tự do kể như đă mất rồi, v́ là một kẻ bị giam cầm. Nhưng giờ đây được đậu trên cành cây cao, tức là tự do đă được hoàn trả lại cho nó. Tiếng hót của nó như muốn nói với mọi người rằng nó được tự do, nó thật hạnh phúc, nó có niềm hy vọng. Không những chỉ con người mà thôi, nhưng cả đến loài vật cũng chẳng thích bị tù tội. Thời giờ phải sống trong tù quả là những giờ khắc bất tận và buồn thảm. Những chuỗi ngày trong tù là những chuỗi ngày tăm tối. Những đêm dài trong tù là những đêm dài bất tận đầy thất vọng. Thế nhưng, ngoài cái tù giam hăm thân xác c̣n có loại nhà tù vô h́nh nặng nề hơn nhiều, bởi v́ không nhưng người cướp mất sự sống khỏi thân xác chúng ta, nhưng c̣n cầm nhốt tâm hồn, tinh thần, cá tính và trí thông minh của chúng ta trong cái cũi nhỏ hẹp và biến chúng ta thành vô dụng nữa. Những loại nhà tù vô h́nh đó chặt đứt sự nồng nhiệt của t́nh yêu thương và bẻ găy đôi cánh của cuộc sống. Đó là những nhà tù không có song sắt và không có cánh cửa bị khoá chặt, nhưng được xây bằng thái độ sống thiếu hiễu biết, ngăn cản không để cho chúng ta nh́n thấy tương lai và ánh sáng của trời cao. Mỗi người chúng ta rất dễ có thể là tù nhân của chính những bản năng của ḿnh, của vật chất mờ đục nhưng lại có sức quyến rũ mănh liệt, là tù nhân của những ảo tưởng mà chúgn ta nhọc công theo đuổi. V́ thế, bao lâu chúng ta c̣n để cho ḿnh bị mê hoặc bởi chán chường thất vọng, c̣n chạy theo ảo vọng và chưa biết quyết định đoổi hướng đi cuộc sống hàng ngày, c̣n chưa biết tự giải thoát nó khỏi nhữgn ràng buộc vô ích và nặng nề của cái tầm thường xoàng xĩnh, bấy lâu chúng ta cũng sẽ măi măi là những tù nhân bị giam cầm khốn khổ. Trong căn ngục đó, chúng ta sẽ không thể nào nghe được tiếng nói của trời cao và cũng không thể nào hát lên những nốt nhạc hay nhất của bài ca hy vọng nữa. Bị giam cầm trong những bức tường ấy, chúng ta có cảm tưởng là được yên hàn nhưng thực ra cuộc sống con người kể như đă bị chấm dứt. Khi giờ chết đến, chúng ta sẽ càng cảm thấy ngậm ngùi thất vọng hơn nữa v́ chỉ c̣n thấy hai bàn taty trắng, và v́ đă đánh mất đi tất cả vận mệnh cuộc sống bất tử của ḿnh. Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Chúa đă tạo dựng chúng con theo những h́nh ảnh của CHúa với trí thông minh và quyền tự do. Xin giúp chúng con đừng bao giờ lạm dụng quyền tự do để rôi bị rơi vào cảnh nô lệ của chính con người chúng con, bị nhốt chặt trong t́nh trạng thê thảm đó. Xin Chúa giải thoát chúng con để được bay bổng như con chim thoát khỏi lưới giăng và cạm bẫy cửa thù địch và để chúng con được măi măi hát lên những tiếng hát êm dịu, thanh thoát nhất của t́nh thương vô biên Chúa. NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG E
ột nhà tu hành nổi tiếng là người khôn ngoan thánh thiện lên đường hành hương. Cuộc hành hưong dài với nhiều khó khăn, phải băng qua , vượt đồi núi, v́ thế chẳng bao lâu đă bị lạc giữa khu rừng rậm, không c̣n biết lối ra nữa. Vị tu hành t́m mỏi lối đi nhưng xem ra mỗi lúc một đi sâu hơn vào trong bóng tối. Ít lâu sau, vị tu hành gặp một đoàn hành hương khác cũng bị lạc giữa khu rừng dày đặc. Họ đang ṃ mẫm t́m lối thoát. Vùa gặp vị tu hành, họ vui mừng sung sướng nói với nhau: - Chắc vị tu hành thánh thiện này sẽ cứu chúng ta và chỉ đường giúp chúng ta ra khỏi khu rừng đêm tối này. V́ thế họ thưa với vị tu hành: - Lạy người của Thiên Chúa, xin chỉ đường cho chúng tôi với. CHúng toi bị lạc, xin cứu chúng tôi với trước khi bị thú rừng ăn thịt mất. _Nhà tu hành trả lời: Rất tiếc là tôi không thể chỉ đường cho các anh được, bởi v́ chính tôi cũng bị lạc đường và cũng đang ṃ mẫm t́m kiếm lối thoát. Tôi chỉ có thể chỉ cho các anh con đường ṃn đă đi qua và dường như dẩn sâu hơn vào khu rừng này. Vậy chúng ta hăy cùng nhau tiến bước, v́ chúng ta cũng đang t́m kiếm một con đường chung, con dẫn tới tự do và cứu thoát. Ai trong chúng ta có thể quả quyết rằng ḿnh đang đi đúng đường, dám tự hào ḿnh biết rỏ đâu là chính lộ và không cần tới sự chỉ dẫn của người khác. Người tự phụ như vậy thật là khờ dại và mù quáng biết bao. Kinh nghiệm bản thân mỗi người đều cho thấy rằng có khi chúng ta cũng không biết rằng ḿnh đang đi đâu và phải tiến về đâu nữa. Chúng ta được chỉ ddẫn cần có người khôn ngoan đă đi trườc dẫn đường chỉ lối cho. Chúng ta cần chung bước t́m kiếm sự thật và đường ngay nẻo chính. Bao lâu c̣n sống trên thế trần, chúng ta đều là những người lữ hành trên đường t́m kiếm sự sống, tự do ở thế gian, nhiều khi lại cần nhiều cố gắng và ḷng khiêm tốn và nh́n nhận ḿnh đang bị lạc đường và khám phá ra con đường sai lầm của ḿnh đi nữa. Tất cả mọi người trên con đường lữ hành, từ những vị lănh đạo khôn ngoan cho tới những người tầm thường, những người ít thông minh, thiếu kiến thức đếu là những người đi t́m chân lư và chúng ta đều cùng đồng hành t́m kiếm chính lộ. Không ai có thể tự hào và có thể giải đáp được tất cả bọi bí nhiệm của cuộc sống, nhưng nếu chúng ta biết cùng nhau tiến bước tím kiếm chân lư, chúng ta có thể giúp nhau nhận định những khác biệt giữa sự thật và điều giả dối, biết phân biệt đâu là điều phải và đâu là điều trái. Cũng vậy, trên con đường đến với Chúa, không ai dám tự hào là có thể đi một ḿnh được, bất cần người khác. Nhưng chúng phải cùng nhau tiến bước dưới sự chỉ dẫn của vị lănh đạo khôn ngoan, giàu kinh nghiệm. Vị lănh đạo khôn ngoan đó là ai, nếu không phải là Chúa Giêsu, là vị thầy khôn ngoan duy nhất. Chỉ có Chúa Giêsu mới dám quả quyết rằng:"Ta là đường, là sự thật và là sự sống. Ai theo ta sẽ không đi trong tăm tối, nhưng sẽ được ánh sáng chân lư soi sáng. Ai tin Ta sẽ không phải chết, nhưng sẽ sống đời đời". Qua mầu nhiệm nhập thể, Con Thiên Chúa cao cả vô cùng đă tự nguyện mặc lấy thân xác con người, sống giữa loài người, chia sẻ thân phận loài người, ngoại trừ tội lỗi để cung đồng hành với con người trên con đường lữ hành về quê trời. Ngài dùng ngôn ngữ con người để nói với loá người, để tỏ lộ cho con người những điều bí nhiệm và dẫn đường chỉ lối cho chúng ta noi theo. Khi hoàn tất sứ mệnh, Ngài trở về với thiên Chúa Cha là Đấng đă sai Ngài, nhưng Ngài không bỏ chúng ta lạc lỏng trong đêm tối, Ngài tiếp tục dẫn đường chỉ lối qua trung gian những người được Ngài tuyển chọn để tiếp nối công việc của Ngài, và c̣n hứa ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Lạy Chúa Giêsu, con tin thật Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Chúa quá rỏ sự yếu hèn và khờ dại của chúng con nên đă muốn ở lại với chúng con luôn măi trong Giáo hội và trong lịch sử loài người. Con tin Chúa hiện diện trong các bí tích để ban ơn Thánh và sự sống đời đời cho chúng con. Con tin Chúa hiện diện trong kinh thánh để tiếp tục dẫn đường chỉ lối, soi sáng từng bước đi trên con đường lữ hành trần thế của chúng con. Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa và xin Chúa đừng để con bao giờ phải xa ĺa Chúa v́ tính kêu ngạo tự phụ của con.
|