|
Thiên ChỨC Linh mỤC theo NHĂN GIỚI CỦA Tân ƯỚc Lm. Raymond Brown, SS – Maranatha dịch
LTS: Linh mục Raymond Brown là một học giả Kinh Thánh nổi tiếng khắp thế giới. Ngài thuộc tu hội Xuân Bích, là giáo sư uy tín và thời danh được mời giảng dạy tại nhiều Đại Học Công giáo cũng như tại các Đại Chủng Viện Hoa Kỳ, trong đó có Chủng Viện - Đại Học St. Mary, Baltimore và Union Theological Seminary, New York. Cha Brown đă từng là thành viên của Hội Đồng Giáo Hoàng về Kinh Thánh, là chủ tịch Hiệp Hội Kinh Thánh Công Giáo (CBA), chủ tịch Hiệp Hội Văn Chương Kinh Thánh (SBL) và là chủ tịch Hội Nghiên Cứu Tân Ước (SNTS). Trước khi qua đời đột ngột vào năm 1998, Cha về hưu và giảng dạy tại chủng viện St. Patrick ở San Jose, California, nơi có một số chủng sinh Việt nam tu học. Những tác phẩm và bài giảng của Cha về thần học và Kinh Thánh vẫn c̣n được đánh giá rất cao trong giới học thuật, đặc biệt trong các Đại học và Chủng Viện của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ. Sau đây là bài giảng Cha đă tŕnh bày tại Chủng Viện St. Mary, Baltimore, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường. Trong bài chia sẻ, cha Brown đă tŕnh bày về Thiên chức linh mục theo cái nh́n của Tân Ước. Bản dịch sau đây lược bỏ một vài điểm liên quan về lễ kỷ niệm 50 năm này. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
CHỨC LINH MỤC THỨ NHẤT Khi nói về chức linh mục, ta phải nghĩ đến chức linh mục thứ nhất này trước hết. Nhưng thực tế th́ không phải vậy. Đây là chức linh mục mà thư gửi tín hữu Do thái đề cập đến. Đó là chức linh mục của Chúa Giêsu Kitô. Chức linh mục này có tính duy nhất, tối cao mà Chúa Giêsu không chia sẻ với bất cứ ai, đó là chức linh mục của Chúa Con. Tôi thường suy nghĩ v́ sao chức này không tác động nhiều hơn trong những tư duy của Giáo hội. Ta biết rằng tự khởi đầu, chức linh mục này không tác động mạnh, v́ Thư gửi tín hữu Do thái, lá thư xiển dương và viết rất hay về chức linh mục này, đă không nằm trong quy điển của các sách Tân ước đến cả trăm năm, nên thư đó đă không có tác dụng huấn giáo chính thức trong lịch sử Giáo hội thời sơ khai. Đặc biệt đối với Giáo Hội Tây phương, sau một thời gian khá dài, thư Do thái mới được đưa vào quy điển. Tác giả lá thư gửi tín hữu Do Thái này (chắc chắn không phải là thánh Phaolô), có lẽ là nhà thần học quân b́nh và nghiêm túc nhất trong các sách của Tân Ước khi nhận thức về Chúa Giêsu: Giêsu vừa là Thiên Chúa, vừa là con người; tuy gọi Ngài là Thiên Chúa, nhưng vẫn nhấn mạnh Ngài (Chúa Giêsu) hoàn toàn giống chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Đây là một sự kết hợp hiếm hoi lạ lùng mà Giáo hội vẫn phải cố gắng giải thích. Tác giả thư gửi tín hữu Do thái cũng hiểu được tính độc đáo duy nhất chức linh mục của Chúa Kitô; v́ đă khăng khăng cho rằng tuy trước kia có nhiều tư tế, nhưng Đức Kitô là vị tư tế duy nhất, và là thượng tế của Giao Ước Mới. Qua việc hiến tế duy nhất, Chúa Kitô đă vĩnh viễn làm cho những người được thánh hiến nên hoàn hảo (10:14). Chúa Kitô cũng là hy lễ duy nhất, và là Đấng trung gian duy nhất (9:15). Các Giáo hội chị em bên phương Tây thường lên án Giáo hội Công Giáo La mă đă quên điều hệ trọng này, đă quên đi hiến tế duy nhất v́ có quá nhiều thánh lễ, quên đi Đấng trung gian duy nhất v́ có các thánh và các linh mục. Tuy việc trả lời cho việc lên án này không khó khăn ǵ, nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng nó cũng có giá trị nhất định. Đặc biệt giới tu sĩ có chức chúng ta không phải lúc nào cũng đặt ưu tiên số một cho chức linh mục của Chúa Kitô. Xin kể một câu chuyện minh họa, tôi nhớ một mục sư giáo trưởng của Giáo Hội Luther ở Hoa Kỳ nói với tôi thế này, “Nhiều tín hữu Công giáo La mă thường đặt câu hỏi: ‘Ai đứng đầu Giáo Hội của ông?’ Tôi trả lời rằng, ‘Người đứng đầu Giáo Hội của tôi cũng là người đứng đầu Giáo Hội của quư vị, đó là Chúa Giêsu Kitô.’” Ông mục sư đó có lư, nhưng tiếc thay chúng ta thường quên điều này. Đặc biệt khi chúng ta không thấy rơ ràng việc vâng lời Chúa Kitô phải vượt trên tất cả sự vâng lời dành cho con người trần thế. Thế nên, điều đầu tiên tôi muốn đề cập, phát xuất từ chức linh mục của Chúa Kitô và khi nh́n đến tương lai của chức linh mục trong Giáo Hội, xin lưu ư người Công giáo nói chung, và các linh mục có chức nói riêng, là làm thế nào để chúng ta đặt việc vâng phục Chúa Giêsu Kitô trong mối tương quan với việc vâng phục quyền bính trong Giáo hội. Đây sẽ là một vấn đề gay go thử thách. Đôi khi chúng ta nghe nói, “Phải tuyệt đối vâng lời các đấng bậc trong Giáo Hội.” Nhưng thử hỏi, là người Kitô hữu có ư thức, có thực sự ta phải mù quáng vâng lời? Theo như sự phán đoán của tôi, tự do mà Chúa Kitô công bố không đồng nghĩa với việc vâng lời mù quáng. Là người có lư trí suy nghĩ, không ai có quyền ngăn cấm chúng ta suy tư. Chúng ta cũng nghe nói rằng các bề trên trong đạo là người thay mặt Thiên Chúa để làm việc ở trần gian này, hàm ư là họ chính là máng dẫn ơn của Thánh Thần Chúa, và Chúa hoạt động đặc biệt qua họ để ban ơn cho người khác. Tôi không thắc mắc chi điều này, nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta vâng lời con người trần tục như vâng lời Thiên Chúa. Chính v́ Chúa Thánh Thần hoạt động trong và qua con người trần gian, nên chúng ta đừng tưởng sự thật không bị bóp méo, khi người khác bảo ta phải nghe theo tất cả những ǵ bề trên chỉ dạy. Ai cũng biết là các linh mục cũng có sai lầm; các linh mục cũng biết giám mục của họ cũng bị sai lầm; các giám mục th́ biết Rôma cũng sai lầm, và vâng lời một cách mù quáng th́ chẳng giúp giải quyết ǵ cho một chuỗi sai lầm triền miên như thế. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể v́ lư do nói trên để bày những tṛ bất kính với quyền bính của Giáo hội, là điều mà chúng ta cũng đă thấy xảy ra. Trước các phát biểu của đấng bậc, có một số người vội vàng phản ứng bằng cách gửi điện tín, và cho in những lời chống đối trên báo chí, quên đi những chỉ dẫn của Kinh Thánh là phải gặp gỡ người bất đồng với ta trước, rồi cố giải quyết trong nhóm nhỏ, trước khi lên tiếng kêu gọi toàn thể Giáo Hội (Mt 18:15-17). Chúng ta không được phép phá bỏ ḷng trung thành đă làm cho Giáo Hội vững mạnh, đó là thứ quyền bính nối kết chúng ta với nhau cho dù có những điểm khác biệt. Chúng ta không thể lấy cớ vâng lời Chúa Kitô để làm bất kỳ điều ǵ ta muốn trong Giáo Hội. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để cho hai kiểu vâng lời này hoà hợp với nhau? Vấn đề có lẽ đă có từ lâu, nhưng đến bây giờ th́ cấp bách hơn. Làm thế nào để Chúa Kitô vẫn là trên hết nhưng vẫn trung thành và vâng phục người trên chúng ta trong Chúa (1Tx 5:12); đó là các giám mục, và đặc biệt là giám mục Rôma? Cũng như các đấng bậc này, tuy được toàn Giáo Hội, gồm tất cả mọi người, trao quyền ủy thác để hành xử quyền bính mà Chúa Kitô ban cho Giáo Hội, cũng phải luôn nhắc nhở chính ḿnh về các giới hạn khi hành xử quyền hạn? Điều này đă được minh hoạ bằng một h́nh ảnh nổi bật trong Giáo hội sơ khai. Thánh Phê-rô, người lănh đạo Nhóm Mười Hai, đă được Chúa Giêsu nhắc nhở, “Hăy chăm sóc chiên của Thầy, chăn dắt chiên con của Thầy.” (Ga 21, 16). Ngay lúc được Chúa trao quyền chăm sóc mục vụ, Phê-rô cũng được nhắc nhớ rằng đừng nghĩ đây đoàn chiên là của ḿnh. Đoàn chiên là đoàn chiên của Chúa Giêsu, và chỉ thuộc về Chúa mà thôi. Chỉ có Chúa mới có quyền nói, “Chiên của Ta.” Tóm lại, Vatican II đă mở cho tất cả chúng ta, nam cũng như nữ, một ư thức trách nhiệm to lớn v́ chúng ta là con người biết suy nghĩ trong Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô. Tôi cố gắng tập trung vào những vấn đề sẽ nảy sinh của chức linh mục, từ việc nhận thức chức linh mục độc nhất của Chúa Giêsu, do chức vụ này mà Chúa là đầu của Giáo hội và là đấng trung gian duy nhất.
CHỨC LINH MỤC THỨ HAI Chức linh mục thứ hai là chức linh mục của mọi tín hữu. Trong Tân Ước, chức này c̣n nổi bật hơn cả chức linh mục độc nhất của Chúa Giêsu (xin lưu ư cách dùng từ, đây không phải là chức “linh mục của giáo dân,” mà là của mọi tín hữu, của cả giáo sĩ, tu sĩ lẫn giáo dân.) Chúng ta nghe trong thư thứ Nhất của Thánh Phê-rô, đoạn 2 câu 9 “Anh em là giống ṇi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa,” được chính Thiên Chúa tuyển chọn để biểu lộ kỳ công của Ngài. Tôi tin chắc rằng khi người ta dùng từ “linh mục” nói với các Kitô hữu của thế kỷ thứ nhất, th́ người ta hiểu là nói về chức linh mục của mọi Kitô hữu, của cả nam lẫn nữ tín hữu. Đó là chức linh mục mà theo thư thứ I của Phêrô câu 2 đoạn 5 có nói tới, được biểu hiện trong việc “dâng những tế lễ thiêng liêng đẹp ḷng Chúa;” đó là chức linh mục dâng hiến cuộc sống thánh thiện bằng các việc chúng ta làm. Vào thời các sách Tân Ước, dường như có sự nhấn mạnh đến việc dâng cuộc sống ḿnh là lễ hy sinh cho những người chưa hề nghe đến Chúa Kitô, ngơ hầu khi thấy sự hy sinh tận tụy của Kitô hữu, dân ngoại có được đức tin. Câu 12 của thư thứ nhất Phêrô đoạn 2 c̣n nói tiếp rằng người Kitô hữu sống giữa người ngoại đạo, phải sống thế nào để dân ngoại thấy được việc lành của ḿnh mà ngợi khen tôn vinh Thiên Chúa. Sách Khải Huyền (5:9-10) nói về Chúa Kitô là con chiên: “Ngài đă chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi bộ tộc và ngôn ngữ, sắc dân và quốc gia, làm cho họ thành một vương quốc và những tư tế dâng lên Thiên Chúa.” Và chính thánh Phaolô, khi viết cho tín hữu Rôma (15:16), đă nói về “ân sủng Thiên Chúa ban cho để làm người phục vụ (minister) Đức Kitô giữa dân ngoại, lo việc tế tự (priestly) rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.” Ở đây không hề nhắc đến Bí tích Thánh Thể hay chức linh mục liên quan đến bí tích ấy; đúng hơn, thánh Phaolô nói về cuộc đời làm chứng của ḿnh bằng việc loan truyền Tin Mừng cho dân ngoại, đó là cách sống đời linh mục tận hiến thiêng liêng mà mọi Kitô hữu được mời gọi. Một lần nữa, tôi nghĩ đến chức linh mục của mọi tín hữu sẽ là vấn đề trở thành một thách đố cho Giáo Hội thời nay. Đặc biệt trong ṿng 20 năm tới, các linh mục được truyền chức sẽ đặc biệt trăn trở khi phải đối đầu trực tiếp với những ư nghĩa hàm ẩn của chức linh mục của mọi tín hữu. Vatican II đă nêu vấn đề, nhưng vào lúc bấy giờ, người ta chỉ thấy vai tṛ của tín hữu với Bí tích Thánh Thể. Nhưng Thánh Thể không phải là trọng tâm của chức linh mục của mọi tín hữu, mặc dù nó có bao hàm điều đó. Trọng tâm của chức linh mục của mọi tín hữu mà mọi người chúng ta được thông phần, đó là dâng hiến trọn cuộc sống ḿnh, không chỉ ở trong bí tích Thánh Thể, nhưng trong mọi sự mọi điều chúng ta làm. Từ lúc được chịu phép rửa và được tháp nhập vào Chúa Kitô, cuộc đời chúng ta đă trở nên một với của lễ tư tế dâng hiến lên Thiên Chúa. Đó có lẽ là nội dung của phép rửa trong Chúa Kitô được đề cập đến trong thư thứ nhất của thánh Phê-rô về hàng tư tế thánh, một giống dân thánh, và của Thiên Chúa. Về mặt lư thuyết, chúng ta luôn nhận biết rằng: có chức vụ linh mục phổ quát này; nhưng theo tôi nhớ là đă được nghe trong những suy tư thần học trước đây, th́ ta luôn được nhắc nhở: “Phải biết rằng có một sự khác biệt siêu h́nh giữa chức linh mục thừa tác của các cha và chức linh mục phổ quát của các tín hữu, một sự khác biệt không chỉ về mức độ, mà c̣n về bản chất.” Tại sao ta không nhấn mạnh ngược lại: thay lời nhắc nhở lưu ư tiêu cực bằng một khuyến khích tích cực? Có phải chúng ta sợ rằng nếu không nhấn mạnh như thế th́ sự phân biệt sẽ mất mát hay bị lu mờ đi? Có phải vấn đề hệ trọng hơn mà ta cần đối phó là việc đa số người Công giáo không hề nghĩ đến chức linh mục của các tín hữu và không thể chấp nhận điều này? Trong Giáo hội chúng ta, phụng vụ thánh và cung cách sống đă phân biệt rơ ràng người chịu chức linh mục với toàn dân Thiên Chúa. (Các bạn có nhớ vào cái thời mà giáo dân có gia đ́nh được vào trong sổ bộ các thánh với ghi chú “không đồng trinh cũng chẳng tử đạo” không?) Chúng ta không thấy cần thiết phải nhắc nhở nhau rằng: chức linh mục làm cho ta nên thánh chính là chức linh mục mà mọi người trong chúng ta đều được thông phần? Có người cho rằng rất có thể v́ thiếu linh mục nên ta sẽ nhận thức được vấn đề rơ ràng hơn, tức là có thêm người tín hữu phục vụ Giáo hội, và có thêm người thực hành thiên chức linh mục phổ quát của ḿnh bằng cuộc sống tận hiến. Tôi th́ không chắc chắn lắm về vấn đề này; v́ sẽ có một thách đố cho các linh mục đă được thụ phong, nhiều anh em trong số này không quen với lối suy nghĩ chấp nhận giáo dân nam nữ b́nh đẳng cùng làm việc, và thỉnh thoảng phải nhận sự hướng dẫn của những giáo dân này khi thi hành sứ vụ linh mục của ḿnh trong Giáo hội của Chúa Giêsu Kitô. Chủng viện mang tên Mẹ Maria đây, nhờ ơn Chúa đă mang tên của một linh mục vĩ đại nhất, đó chính là Đức Mẹ Maria. Tôi nhớ dạo đi tu, mặc dù rất tôn kính Đức Mẹ, chúng tôi được nhắc nhở cẩn thận khi gọi Đức Mẹ là linh mục, v́ lúc bấy giờ chữ linh mục chỉ dành cho linh mục được quyền dâng Thánh Lễ, ban phép Thánh Thể và phải tránh cách gọi này v́ Đức Mẹ không dâng Thánh Lễ. Tôi đồng ư rằng một số ảnh đạo có vẽ h́nh Đức Mẹ mặc áo lễ linh mục th́ phải tránh v́ phản ánh một lối suy nghĩ thần học kém cỏi. Cũng có một số nhà giảng thuyết Công Giáo mô tả việc Mẹ đứng trước thánh giá nh́n lên Chúa Giêsu và nói, “Đây là ḿnh Ta,” đa số đều cho rằng đây là là một cách nói quá (tôi cũng đồng ư như thế). Nhưng khi tin rằng Đức Mẹ Maria là linh mục th́ có cơ sở Kinh Thánh hẳn hoi: v́ mỗi một tín hữu đều là linh mục, và Mẹ là tín hữu đầu tiên. Theo tŕnh thuật của thánh Luca, Mẹ là người đầu tiên đă nói lên lời hiến thánh của chức linh mục căn bản: “Xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Câu này phản ảnh bản chất cao quư thiên chức linh mục của mọi tín hữu. Và trong hệ thống giá trị lạ lùng của Nước Thiên Chúa, theo đức tin Công Giáo của chúng ta, khi được đánh giá, th́ người đứng đầu không phải là Nhóm Mười Hai, không phải là một tông đồ, chẳng phải là một giáo hoàng, cũng không ai trong số những người có chức vị, mà cũng chẳng phải linh mục có chức, nhưng lại là một phụ nữ. Người phụ nữ này không đứng đầu v́ đă cưu mang hay nuôi dưỡng Con Thiên Chúa – như lời ca tụng của một phụ nữ khác trong đám đông đă ca ngợi Mẹ. Chúa Giêsu biết vị trí của Mẹ hơn là người phụ nữ trong đám đông kia, và Ngài đă chúc phúc Mẹ chỉ v́ Mẹ đă nghe và giữ Lời Thiên Chúa (Lc 11:27-28). Nếu chúng ta chưa thực sự nhận thức được việc nghe và sống Lời Thiên Chúa chính là nguồn gốc đích thật của sự thánh thiện trong Giáo Hội, là tiêu chuẩn xếp hạng vị trí vinh dự, và chưa thật sự nhập tâm được điều này, th́ chúng ta sẽ không hiểu được điều mà Tân Ước dạy chúng ta về thiên chức linh mục. Đó là thách đố mà Giáo hội sẽ phải đương đầu trong tương lai khi mà các tín hữu nam nữ, nghe Vatican II ca tụng giá trị của họ, đặt câu hỏi làm thế nào để họ đem giá trị đó phục vụ Chúa Kitô.
CHỨC LINH MỤC THỨ BA Kinh Thánh cũng đề cập đến một chức linh mục có truyền chức, chức linh mục trên bàn thờ để dâng hy lễ. Tuy vậy, chức linh mục tế tự như thế chưa bao giờ được coi là một thể chế của Kitô Giáo trong Tân Ước; đúng hơn, chúng ta chỉ biết có chức tư tế Lêvi của I-xra-en, gồm thượng tế, tư tế và Lêvi theo Cựu Ước. Toàn dân I-xra-en đă được nghe, cũng như sau này các Kitô hữu được nghe, “Các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế và một dân thánh.” (Xh 19:6). Song song với chức tư tế của toàn dân I-xra-en cũng có một tầng lớp tư tế được đặc biệt hiến thánh để thi hành các việc thánh, một trong các việc đó là thay mặt dân chúng dâng hy lễ. Chúng ta không thấy có một sự phát triển tương đương như thế cho Kitô Giáo theo Tân Ước, v́ không có người nào trong Giáo Hội được gọi là linh mục khi nói về Thánh Thể. Tuy nhiên, việc Kitô giáo lấy biểu tượng chức tư tế Lêvi có thấy trong Thư Thứ nhất của Clement, viết từ Giáo hội Rôma vào cuối thế kỷ thứ nhất. Thư Clement này đồng thời với những sách cuối cùng của Tân Ước. Trong chương 40, Clement có viết, “Ngài (Thiên Chúa) ra lệnh rằng các hiến tế và phụng vụ phải được dâng hiến vào thời biểu và giờ giấc nhất định. Thiên Chúa hơn nữa đă quy định, do ư muốn tối cao của Người, nơi chốn và thừa tác Người chọn để làm việc này…Có những lễ nghi đặc biệt dành cho thượng tế; các linh mục th́ có vai tṛ đặc biệt; và các Lêvi th́ có những công việc thích hợp. Về phía giáo dân th́ có những luật lệ ràng buộc riêng cho giới giáo dân.” Trong lịch sử của Giáo Hội lúc đó, ta chưa thể coi biểu tượng ba tầng của Clement tương đương với kiểu mẫu ba tầng đang h́nh thành của Kitô giáo: Giám mục, Linh mục và Phó tế. Những nghiên cứu gần đây về việc phụng tự trong Kitô giáo cho thấy đến cuối thế kỷ thứ II th́ từ “linh mục” mới bắt đầu được sử dụng theo nghĩa đặc biệt, tức là dành cho các thừa tác viên dâng Hy Lễ Tạ Ơn của Kitô giáo. Và ngay cả trong ngôn ngữ Kitô giáo, chức linh mục có liên hệ đến Thánh Thể không thay thế cho chức linh mục của mọi tín hữu. Chỉ đến thế kỷ thứ III và IV, khi đề cập đến từ “linh mục,” người ta mới bắt đầu được dùng để nói về thừa tác viên được truyền chức để dâng Hy Lễ Thánh Thể. Tuy nhiên, như chúng ta biết, ư tưởng này dần dần thành ư tưởng chủ đạo trong Giáo Hội. Ngày nay, mỗi lần nói đến linh mục, ngoại trừ được giải thích thật cẩn thận, th́ không ai nghĩ đó là chức linh mục của Chúa Giêsu, và cũng chẳng ai nghĩ về chức linh mục của tất cả các tín hữu. Nhận định về sự phát triển này, một số Giáo Hội chị em ở phương Tây lên án và cho rằng chúng ta làm sai lạc Tân Ước, chúng ta đă vạch ra chức linh mục đă không hề có trong Tân Ước, và đặt câu hỏi về tính khôn ngoan của việc áp dụng ứng nhập Cựu Ước. Cá nhân tôi không nghĩ ta có thể giải thích sự thinh lặng của Tân Ước cách nào tốt hơn là nh́n nhận các Kitô hữu đầu tiên chưa phát triển một khái niệm riêng về chức linh mục tế tự: nhưng tôi cũng không đồng ư cho rằng sự phát triển hậu Tân Ước là một sự bóp méo sự thật. Người Công giáo chúng ta nên nghĩ về chức linh mục thừa tác như là một phần di sản của I-xra-en mà Thiên Chúa đă ban cho, và đă mang lại sự phong phú và huyền nhiệm của toàn bộ công việc tế tự thờ phượng của Cựu Ước cho cuộc sống Kitô hữu. Chúng ta cố gắng duy tŕ, bên cạnh tính độc đáo duy nhất của hiến tế và chức linh mục của Chúa Giêsu, ư thức phụng tự Lêvi có tính thánh thiêng của một sứ vụ tế tự đặc biệt nhằm giúp con người tiếp xúc với những h́nh thức thờ phượng bày tỏ sự hiện diện của Thiên Chúa. Có phát triển theo chiều hướng này th́ người ta mới mong chờ nơi người linh mục sự thánh thiện đặc biệt, thậm chí một kiểu sống khác biệt. Nhưng điều được xem là sức mạnh của Công Giáo cũng có thể là vấn đề. Làm thế nào chúng ta có thể kết hợp chức linh mục đặc biệt này với chức linh mục của mọi tín hữu? Làm sao ta có thể kết hợp sự kỳ vọng của ta về các linh mục, với ư thức họ cũng là con người cũng như ư thức sự đ̣i hỏi gắt gao phải nên thánh của mọi Kitô hữu? Có một câu trả lời, nhưng chưa bao giờ được hoàn toàn công nhận ngay cả trong quá khứ, đó là lấy vương quyền linh mục của Chúa Kitô gán cho linh mục thừa tác, qua đó tạo ra được lớp “linh mục-hoàng tử.” (prince-priest). Và bởi v́ ta kỳ vọng đặc biệt nơi các linh mục có chức, nên họ cũng được có đặc quyền và được đối xử đặc biệt. Nhưng toàn bộ đặc tính của Giáo Hội từ sau Vatican II là chống đặc quyền, nên quan niệm “linh mục-hoàng tử” bị loại bỏ. Nhưng nếu thay vào đó bằng quan niệm “linh mục-bồ bịch” (pal-priest) th́ tôi thấy cũng không ổn. Chữ này được du nhập phát sinh từ cảm nhận trong cộng đoàn tín hữu: nếu mọi người đều là linh mục, th́ tại sao lại mong muốn vị linh mục thừa tác thánh thiện đặc biệt hơn, hay phải sống khác mọi người? Rồi nếu mà các linh mục thừa tác chẳng có ǵ đặc biệt, th́ đâu cần có họ làm ǵ? Làm thế nào để các linh mục được truyền chức như chúng tôi nhận thức được tuy khác biệt, nhưng chúng tôi cũng không hay ho tốt đẹp ǵ hơn hoặc chẳng xứng đáng được hưởng các đặc quyền? Đây có lẽ là vấn đề khó khăn nhất mà chức linh mục tế tự ngày hôm nay phải đối diện. Để trả lời cho câu hỏi này, khi nh́n về tương lai, tôi đề nghị chúng ta quay về tác động của hai chức linh mục kia. Chúng ta thường có khuynh hướng du nhập vào chức linh mục thừa tác cái nh́n sai lạc của hai chức linh mục kia, tức là tạo ra một tầng lớp “linh mục-hoàng tử,” bắt chước chức tối cao của Chúa Kitô là thượng tế, hoặc trái lại, tạo ra một tầng lớp “linh mục-bồ bịch” bắt chước chức linh mục phổ quát của mọi tín hữu. Đề nghị chúng ta nh́n vào các mặt khác của hai chức linh mục kia nhằm giúp ta thấy rơ sự khác biệt đích thực của chức linh mục thừa tác. Mặc dù thư Do thái nhấn mạnh đến tính tối cao độc nhất của Chúa Kitô thượng tế, thư cũng nhấn mạnh rằng Ngài đă không tự nâng ḿnh lên, nhưng được Thiên Chúa chỉ định (5:5); và mặc dù Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài đă học tập vâng phục qua đau khổ (5:8). Khi mang thân xác loài người, Ngài đă phải cầu nguyện và đổ nước mắt (5:7) và đồng cảm được với con người yếu đuối v́ “Ngài cũng bị thử thách như chúng ta, nhưng không phạm tội” (4:15). Người linh mục thừa tác học nơi Chúa Kitô thượng tế không phải để được hưởng quyền lực hay vinh quang, nhưng học cảm thông và đau khổ và vâng phục như Chúa. Hiến tế vĩnh cửu của Chúa Giêsu mang ư nghĩa v́ trong cuộc sống trần gian, Ngài đă hiểu thế nào là hy sinh chính thân ḿnh. Tương tự như thế, vai tṛ của người linh mục thừa tác trong hiến tế của Thánh Lễ, làm hiện diện lại hy tế của Chúa Kitô, thật sự có ư nghĩa nếu người linh mục đó học cách hy sinh chính bản thân ḿnh. Chức linh mục đó khác biệt không phải v́ đ̣i hỏi những đặc quyền nhưng bởi v́ giúp nêu gương công khai những đức tính cao cả mà v́ đó, Chúa Kitô đă được chọn làm thượng tế, nói theo ngôn từ của thư Do thái (5:5). V́ mọi tín hữu đều có thiên chức linh mục, người linh mục thừa tác cũng không nên kết luận rằng đừng có ai mong đợi nơi tôi một cách sống đặc biệt nào. Trái lại, chỉ nên kết luận rằng đ̣i hỏi căn bản của ḿnh, là sống châm ngôn, “Xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần.” Đặc quyền cao ngạo hủy hoại cái mà chức linh mục thừa tác và phổ quát cùng san sẻ. Khi Kitô hữu nghĩ về linh mục thừa tác, họ nghĩ ngay đến Bữa Tiệc Ly, v́ ở đó, họ liên tưởng đến công việc của sứ vụ linh mục như theo lời kể của thánh Luca và Phaolô, rằng trong bữa tiệc Tạ Ơn Chúa Giêsu nói, “Hăy làm việc này để nhớ đến Thầy.” Người ta thường quên trong tŕnh thuật của thánh Gioan, không hề có Thánh Thể, nhưng thay vào đó là việc rửa chân cho các tông đồ. Tôi không muốn suy đoán tác giả Tin Mừng Thứ Tư nghĩ ǵ, nhưng trộm nghĩ việc tường thuật câu chuyện rửa chân có ư chấn chỉnh điều ǵ đó. Nếu vào thời thánh Gioan viết Tin Mừng mà đă có một ḷng tôn sùng Thánh Thể sâu xa, th́ rất có thể đă có đặc quyền nào đó gắn liền với việc này. Nếu có nhiều người muốn cử hành Thánh Thể, th́ sẽ không có nhiều người muốn rửa chân cho nhau. Mà nếu không có tinh thần phục vụ này, nếu chức linh mục chỉ tập trung quanh bí tích Thánh Thể, th́ chúng ta đă hiểu sai điều mà Tân Ước muốn dạy chúng ta về thiên chức linh mục. May thay, khi chúng ta bắt chước lời thánh Luca và Phaolô trong bữa Tiệc Ly, “Hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy” th́ cũng có tác giả Gioan (13:14-15) lập lại lệnh truyền Tiệc Ly của Chúa Giêsu, “Nếu thầy đă rửa chân cho anh em, anh em cũng phải rửa chân cho nhau…Hăy làm như thầy đă làm cho anh em.” Cả hai đều là lệnh truyền của Thầy, và chức linh mục thừa tác sẽ không đầy đủ nếu không chú ư đến cả hai mặt trên. Trong khi Giáo hội phải đối diện với vấn đề liên hệ nối kết giữa ba chức linh mục này, th́ trong ṿng 20 năm tới, tôi tiên đoán sẽ có một nỗ lực để t́m hiểu vai tṛ của chức linh mục thừa tác, cho người đă làm linh mục hay người đang tu học để chịu chức. Tuy nhiên, chúng ta lạc quan đối diện với vấn đề, v́ theo cách hiểu Kinh Thánh của ḿnh, tôi vẫn loan truyền bản chất thực của chức linh mục đă được giảng tại đây suốt 50 năm qua. Và nếu chúng ta nghe theo sứ điệp này, chúng ta bước vào thiên niên kỷ thứ ba phong phú hơn nhờ hiểu biết đúng đắn về ba chức linh mục. Mà đứng hàng đầu phải là chức linh mục của chính Chúa Giêsu Kitô và v́ ư thức cảm nhận được ư nghĩa tinh tế hơn, chúng ta phải vâng phục Ngài tuyệt đối. Là một bộ phận trong đại gia đ́nh Công Giáo, chúng ta bước vào thiên niên kỷ mới với một ư thức sâu sắc hơn bao giờ về giá trị thiên chức linh mục vương giả - một dân tộc thánh của mọi tín hữu – linh mục và thánh thiện với cuộc sống dâng lên Thiên Chúa và chỉ mang giá trị khi phục vụ Giáo hội. Dân tộc này cũng ư thức rằng để Giáo Hội hoạt động đuợc, cũng cần đến chức vụ thừa tác của giám mục, linh mục và phó tế, nhưng chức đó không làm cho các thừa tác viên này được đánh giá cao hơn trước mặt Chúa, v́ họ cũng đă có chức linh mục phổ quát khi nhận bí tích thánh tẩy. Tuy nhiên, vẫn có những người Công giáo hănh diện gọi các thừa tác là “linh mục,” v́ vai tṛ của các “linh mục” trong Hy Lễ Tạ Ơn nổi bật qua gương sáng của cuộc sống hy sinh, và bởi v́ các “linh mục” tự nguyện vâng phục tuân theo Thánh Ư Chúa, và qua đó, các “linh mục” giới thiệu một gương mẫu cho hàng linh mục phổ quát mà tất cả chúng ta cùng thông phần .
|