DA VINCI CODE

VÀ NHỮNG TIẾNG NÓI TỪ VATICAN

 ?¶?

Trần Duy Nhiên tổng hợp

 

Ngày 16-3-2005, trong một cuộc phỏng vấn của tờ nhật báo “Il Giornale” tại Milan, Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Tổng Giám mục Genoa, nhấn mạnh rằng cuốn tiểu thuyết của Dan Brown, The Da Vinci Code, nhằm gạt bỏ Giáo Hội và lịch sử Giáo Hội bằng cách tung ra những điều bẩn thỉu phi lư.

Trước đó, chưa bao giờ một giới chức Công Giáo ở phẩm trật của ngài đă lên tiếng về cuốn sách nói trên. Có lẽ thấy rằng cuốn sách đó - một cuốn tiểu thuyết giải trí thuần túy, gây ṭ ṃ để câu khách - nêu những giả thuyết ‘buồn cuời’ quá về Chúa Kitô và về Giáo Hội, nên Ṭa Thánh không muốn trở thành ‘buồn cười’ khi phải nói đi nói lại về cuốn sách ấy (và lại gián tiếp gây thêm ṭ ṃ, nghĩa là quảng cáo để tác giả và nhà xuất bản kiếm thêm lợi nhuận trên cuốn sách đó!) Tuy nhiên, quá nhiều người, kể cả một số tín hữu Công Giáo, bị tung hỏa mù; cho nên, ngoài việc mua sách để đóng góp thêm cho túi tiền của nhà xuất bản và tác giả, họ c̣n bị chới với trước những luận điệu ‘nói láo như thật.’ Trước thực tế đó, Đức Hồng Y buộc phải lên tiếng cảnh báo.

Ngài nói: “Ta có thể thấy cuốn sách này có mặt khắp nơi, và nguy cơ là có nhiều người đọc sách đó rồi nghĩ rằng những chuyện ‘cổ tích’ đó là chuyện thật. Tôi nghĩ rằng chúng ta có bổn phận phải làm rơ vấn đề để lột mặt nạ những lời dối trá bần tiện đó!”

Dan Brown bảo rằng Holy Graal không phải là cái Chén Thánh được Chúa Kitô dùng trong bữa Tiệc Ly, nghĩa là trong bữa ăn cuối cùng Ngài dùng với các tông đồ, nhưng đấy là ḍng dơi con cháu của bản thân Ngài. Đối với Đức Hồng Y Bertone, ư tưởng này không ǵ khác hơn là một ‘suy nghĩ đồi bại’ (perversion): Giống như thể ta trở lại với những bài đả kích Giáo Hội và hàng giáo phẩm vào thập niên 1800.

Sở dĩ có cuộc phỏng vấn này, ấy là v́ ngày hôm trước, 15-3-2005, ngài đă lên tiếng trên Radio Vatican để mạnh mẽ phê phán cuốn tiểu thuyết ấy. Tuy lời phát biểu của Đức Hồng Y không được xem như là tiếng nói chính thức của Ṭa Thánh, nhưng thế giá và uy tín của ngài đủ đảm bảo cho chúng ta xem những nhận định hôm ấy phản ảnh lập trường của Giáo Hội. Quả thật, trước khi được bổ nhiệm Tổng Giám Mục Genoa, ĐHY Bertone từng là thư kư - nghĩa là nhân vật số hai - tại Thánh Bộ Giáo Lư Đức Tin, cạnh vị chủ tịch là ĐHY Joseph Ratzinger, va hiện nay là Giáo Hoàng Bênêđitô XVI. Ngài cũng đă từng được xem là một trong các hồng y có khả năng kế vị Đức Gioan Phaolô II.

Ngài nhận định rằng:

Lời dụ dỗ quan trọng hay tệ hại nhất, ấy là gợi ư rằng người ta không thể làm một người của thời đại nếu chưa đọc cuốn ‘Da Vinci Code.’ Từ đó, cái khẩu hiệu được tung ra trong các trường học, ấy là cần phải đọc cuốn sách này mới hiểu được lịch sử và thấy rơ mọi tṛ đánh tráo mà Giáo Hội đă thực hiện trong quá tŕnh lịch sử. Đây quả là một sự kiện đau đớn và tàn bạo. Chúng tôi nhận thức được tốc độ mà sách ấy được phổ biến trong các trường học và v́ thế chúng tôi đă đề ra một cách thức suy nghĩ và đối diện công khai và dứt khoát với hiện tượng này.”

Đức Hồng Y thẳng thắn nói rằng trong cuốn sách đó có nhiều ‘sai lạc.’ Ngài giải thích như sau: Cuốn sách khẳng định cái gọi là ‘xóa bỏ’ h́nh ảnh người nữ trong các tường thuật Phúc Âm và trong đời sống Giáo Hội. Không có ǵ sai cho bằng! ... Ta biết rằng trong Phúc Âm th́ Đức Mẹ, gương mặt Người Nữ tiêu biểu, có một chỗ đứng trỗi vượt. Đức Mẹ, Mẹ Chúa Giêsu, cùng với nhóm người nữ trong các tường thuật Tân Ước, nghĩa là trong các sách Phúc Âm, có một đời sống thiêng liêng tương đương với Nhóm Mười Hai Tông Đồ. Ta cũng thấy nhắc đến các nữ trợ tá (mà tiếng Việt ngày nay dịch là ‘phó tế’) trong Giáo Hội tiên khởi: do đó, thật là sai lầm khi cần phải t́m lại một Maria Mađalêna ‘chịu chơi’ - không biết phải gọi thế nào cho đúng cách diễn tả của Dan Brown - mới t́m lại được sự hiện hiện của người nữ! Một yếu tố khác - yếu tố sai lạc nhất - ấy là phủ nhận cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu: các tường thuật Phúc Âm về cuộc Thương Khó của Đức Kitô là những tường thuật tỉ mỉ, rơ ràng, và trung thực đến độ Mel Gibson phải nói lên tiếng nói ‘hăi hùng nền tảng’ qua cuốn phim ‘Thương Khó’ (The Passion of Christ). Đấy không phải là tiếng ‘hăi hùng nền tảng’, mà là một mô tả chính xác, đúng như các tường thuật Phúc Âm. Cái chết của Đức Giêsu đă được chứng minh một cách không thể phủ nhận được, cũng như sự phục sinh của Ngài. Cuốn sách kia  (The Da Vinci Code) đầy dẫy những lời bịa đặt dối trá!”

 Thế như v́ sao cuốn sách lại thành công như vậy? Trả lời cho câu hỏi này, Đức Hồng Y nói:

Tôi nghĩ rằng có một chiến lược đằng sau việc phổ biến cái lâu đài của những lời dối trá này, đặc biệt - không c̣n nghi ngờ ǵ nữa - là sau biến cố Năm Thánh. Chắc chắn là Giáo Hội, cùng với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đă có một tác động mạnh đối với nhân loại hiện nay, và điều này đă làm cho nhiều người lo ngại. Chiến lược phát hành đă gây một phong trào xâm nhập thị trường rất rộng lớn, ngay cả tận những nhà sách Công giáo, và tôi đă phàn nàn v́ có nhiều nhà sách Công giáo mua sách này hàng chồng, chỉ v́ lư do lợi nhuận... Ngoài ra, c̣n có một sách lược nói khích: bạn chưa phải là một Kitô hữu trưởng thành nếu bạn chưa đọc cuốn sách ấy. V́ thế, đây là lời kêu gọi của tôi: Đừng đọc cuốn sách đó, và nhất là đừng mua cuốn sách đó!”

Radio Vatican hỏi:

- Theo nhà xă hội học Philip Jenkins, sự thành công của cuốn sách này xuất phát ở sự kiện là chủ nghĩa chống Công giáo là ‘định kiến cuối cùng mà người ta c̣n chấp nhận.’ Đức Hồng Y nghĩ thế nào?

Ngài trả lời:

- Đúng vậy! Có một định kiến chống Công Giáo. Tôi tự hỏi: nếu người ta viết một cuốn sách với đầy dẫy dối trá như thế về Đức Phật, Đức Mahomet, hoặc giả nếu người ta phát hành một cuốn sách bóp méo lịch sử về biến cố Shoah (cuộc diệt chủng của Hitler đối với người Do Thái), th́ chuyện ǵ sẽ xảy ra? Thế mà người ta lại viết một cuốn tiểu thuyết bóp méo sự kiện lịch sử, hoặc nói xấu, hoặc bôi nhọ một nhân vật lịch sử có uy tín và thế giá trong lịch sử Giáo Hội, và lịch sử nhân loại!

Một năm sau, ngày 28-4-2006, trước sự kiện là cuốn Phim Da Vinci Code sắp được tung ra, Đức cha Angelo Amato, đương kim thư kư Thánh Bộ Giáo Lư Đức Tin thay Đức Hồng Y Bertone, đă kêu gọi mọi người tẩy chay cuốn phim đó.

Ngài tuyên bố: Tôi mong rằng anh chị em sẽ tẩy chay cuốn phim này bởi v́ nó đầy dẫy “những lời nhục mạ, vu cáo, sai lầm lịch sử và thần học liên quan đến Chúa Giêsu, đến Phúc Âm và đến Giáo Hội”. Những xúc phạm này, nếu xảy ra đối với kinh Coran hay biến cố Shoah, th́ sẽ gây ra một sự nổi dậy khắp nơi trên thế giới. Thế nhưng, v́ nó nhắm đến Giáo Hội công giáo, nên không bị trừng phạt!”

Ngài cũng nói rằng: Đối với những trường hợp này, Kitô hữu nên nhạy cảm để phủ nhận những lời dối trá và bôi nhọ một cách vô tội vạ kia.” Và ngài cũng nhắc rằng năm 1988, phim “Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng” (The Last Temptation of Christ) của Martin Scorsese, theo tiểu thuyết cùng tên của Nikos Kazantzakis, ‘đă bị tẩy chay một cách xứng đáng’ và đă thua lỗ mọi mặt, kể cả về mặt tài chánh.

Riêng Opus Dei th́ không kêu gọi tẩy chay ǵ cả, có lẽ v́ không muốn gián tiếp quảng cáo cho phim này như trường hợp phim ‘Cuộc Thương Khó Chúa Kitô’ (The Passion of Christ) của Mel Gibson. Tuy nhiên, Hội đă yêu cầu Hăng Sony nói rơ ở đầu phim rằng đây chỉ là một tác phẩm hư cấu (fiction). Cho đến giờ, Sony chưa trả lời yêu cầu trên.

Opus Dei lên tiếng như sau: Da Vinci Code bóp méo h́nh ảnh của Giáo Hội Công Giáo. Việc truyền bá cuốn sách cũng như cuốn phim là một cơ hội để Giáo Hội bộc lộ chân tính. Trong Thông Điệp Deus Caritas Est, (Thiên Chúa Là T́nh yêu) Đức Bênêđitô XVI nhấn mạnh rằng bác ái là một nét chủ yếu của Giáo Hội: Như vậy, t́nh yêu chính là lối phục vụ mà Giáo Hội thực hiện để đáp ứng với những đau khổ và những nhu cầu, kể cả vật chất, của con người. Ngài cũng nhắc đi nhắc lại về Ḷng Thương Xót Chúa và nếu ta muốn giải độc hữu hiệu th́ phải tŕnh bày gương mặt trung thực của Thiên Chúa và Con của Người.” 

                                                                                                                                        

?¶?

 

The Da Vinci Code

CƠN HỒNG THỦY ĐỊNH CUỐN TRÔI T̉A NHÀ GIÁO HỘI?!!!  

Trần Mỹ Duyệt

I. BIỂN BẰNG NỔI SÓNG

   Ngày 17 tháng 5 năm 2006, phim Da Vinci Code mang cùng tựa đề với cuốn tiểu thuyết của Dan Brown sẽ được tŕnh chiếu tại Cannes, và sau đó được tung ra thị trường. Tại Hoa Kỳ những quảng cáo rầm rộ đă được thấy trên mọi nẻo đường, và ước tính có khoảng 10 triệu người sẽ đi xem phim này, một con số tương đương với người đă mua và đọc cuốn tiểu thuyết đó.

   Nội dung cuốn tiểu thuyết được tóm gọn lại như sau:

    Chúa Giêsu không sống đời độc thân như Kitô hữu trải qua hơn 2000 năm vẫn tin tưởng. Trên thực tế, Ngài đă có vợ, và người vợ ấy chính là Maria Mađalêna.

·       Trước khi tắt thở trên thập giá, Chúa Giêsu đă giao phó nhiệm vụ điều hành Giáo Hội của Ngài cho Maria Mađalêna.

·       Tông Đồ đoàn sau đó đă t́m cách giết Maria Mađalêna khiến nàng phải chạy trốn qua Pháp trong khi mang trong bụng đứa con gái của Chúa Giêsu và của nàng. Phêrô trong thời gian làm thủ lănh Giáo Hội đă cố gắng loại bỏ địa vị của Maria Mađalêna và không bao giờ đề cập đến nàng v́ muốn dành quyền độc tôn nam giới. 

·       Giáo Hội Công Giáo t́m mọi cách che đậy bí mật cuộc t́nh giữa Chúa Giêsu và Maria Mađalêna cũng như ư muốn của Chúa Giêsu khi trao quyền lănh đạo Giáo Hội của ḿnh cho Maria Mađalêna. Những người được trao cho nhiệm vụ t́m kiếm và thủ tiêu miêu duệ của Chúa Giêsu là tu hội Opus Dei, một tổ chức Công Giáo được Thánh Josemaria Escriva sáng lập năm 1928 tại Tây Ban Nha.

·       Người biết được những bí mật về thân thế và gia cảnh Chúa Giêsu cũng như cuộc t́nh giữa Ngài và Maria Mađalêna là Leonardo Da Vinci (1452-1519). Ông đă dấu bí mật này trong tác phẩm Bữa Tiệc Ly khi vẽ Thánh Gioan với h́nh dạng và ngón tay thon thả như đàn bà. Ông có ư ám chỉ rằng Gioan đấy là hiện thân của Maria Mađalêna. Ngoài ra, trong bữa Tiệc Ly hôm ấy Da Vinci không vẽ chén thánh, cũng ngầm ư rằng Maria Mađalêna chính là chén thánh, v́ nàng đang mang trong dạ ḿnh hạt máu là mầm sống của Chúa Giêsu.

   Để làm cho sống động và thêm phần hấp dẫn câu truyện, Dan Brown đă đưa vào cốt truyện những màn đấu trí, những pha rượt bắt, những mật mă và các lối giải mă, những thủ thuật của ngành gián điệp, và hàng loạt những hành động do trí tưởng tượng của ông. Nhất là đưa câu truyện vào những thời điểm và địa điểm có tích cách lịch sử như việc trở lại Công Giáo của Hoàng Đế Constantine, Công Đồng Nicarea năm 325, Tu Hội Opus Dei. Hoặc những tổ chức do ông tưởng tuợng như hội kín Priory of Sion nhằm bảo vệ sự thật về cuộc hôn nhân giữa Chúa Giêsu và Maria Mađalêna. 

   Thật ra, một cuốn tiểu thuyết viết về một cuộc t́nh mùi mẫn, một cuộc rượt bắt, hoặc giải thoát con tim nghẹt thở như thế, hoặc bất cứ một câu truyện t́nh nào khác, th́ dù có hấp dẫn, mê ly, rùng rợn đến đâu đi nữa cũng chỉ được một số ít người đọc. Và đọc rồi cũng quăng bào sọt rác, hay để đâu đó trên tủ sách. Nó cũng chẳng được ai nhắc tới, hay tranh căi, bởi đó chỉ là “tiểu thuyết,” mà ai cũng hiểu rằng tiểu thuyết là sản phẩm do trí tưởng tượng của tiểu thuyết gia.

   Nhưng cuốn tiểu thuyết Dan Vinci Code của Dan Brown đă không chỉ bao gồm những yếu tố tâm lư, t́nh cảm, xă hội, chính trị, hoặc những cảnh gợi cảm, ướt át của một chuyện t́nh. Nó cũng không chỉ bao gồm những pha rượt bắt, theo dơi, thủ tiêu, và những cuộc đấu trí nẩy lửa giữa các nhân vật trong câu truyện. Điểm hấp dẫn và thu hút nổi cộm ở tác phẩm và cuốn phim này là viết và diễn tả về một đời sống t́nh ái và cuộc đời của Giêsu Nazareth – Thiên Chúa Nhập Thể, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ Nhân Loại. Điểm được nhận ra rơ ràng nhất là v́ Đức Giêsu đă thiết lập Giáo Hội, và sinh hoạt Giáo Hội này không chỉ giải thoát con người khỏi ṿng u minh của nếp sống lần than vật chất, mà là đường đưa chúng ta về Thiên Đàng. Nó hoàn toàn trái ngược lại với quan niệm và lối sống tự nhiên của con người, của thế gian, vốn hằng bị những đa mê, dục vọng, lối sống buông thả, Satan và đồ đệ của chúng đă bủa vây và mê hoặc. Cuộc chiến âm thầm nhưng rất sôi động giữa “sống và chết,” giữa “thiện và ác” ấy không ngừng lại ở cái chết của Chúa Giêsu trên thập tự, mà nó vẫn kéo dài cho đến ngày tận thế, lúc âm ỷ, lúc bùng nổ. Tụ điểm quyền lực mà Satan và thế giới đen tối căm thù, ghen tỵ, và t́m cách tấn công là Giáo Hội của Chúa Kitô – được gán cho cái tên là trung tâm quyền lực Vatican - và các tín hữu Công Giáo.

   Chính ở điểm này, mà tác phẩm Da Vinci Code được nhiều người “ṭ ṃ” t́m đọc, cũng như phim này sẽ được nhiều người “hăm hở” đón xem. Giáo Hội Công Giáo, hoặc các giáo phái khác có muốn ngăn cản th́ cũng không được, v́:

    Tôi cần phải đọc tiểu thuyết này để hiểu xem Giêsu đă yêu Maria Mađalêna như thế nào. Họ tỏ t́nh ra sao? Sinh hoạt t́nh ái của họ làm sao? Đứa con gái trong bụng Maria Mađalêna ấy tên ǵ và sau này ra sao? Và hiện nay hậu duệ của Giêsu và Maria Mađalêna ở đâu, và có những ai?

·       Tôi phải đi xem phim để nh́n xem cách thức tỏ t́nh, những màn âu yếm, ân ái và cách thức cư xử của Giêsu đối với Maria Mađalêna như thế nào? Giêsu nói ǵ với nàng trên thập giá. Nàng phải lao đao, chạy trốn tập đoàn Tông Đồ t́m cách giết hại như thế nào?

·       Nhưng nhất là, tôi muốn đọc, và xem để hiểu tại sao Vatican, tại sao người Công Giáo lại yêu, lại mến, lại tôn thờ một con người trần tục và không khác ǵ chúng ta vậy?

   II. CƠN HỒNG THỦY THỜI ĐẠI

   Cơn sóng dữ Da Vinci Code đă trở thành một trận hồng thủy nguy hiểm với sức cuốn trôi nhiều sinh linh qua cái nh́n tâm linh và của Giáo Hội Công Giáo. Nó càng trở thành hung hăn hơn khi dựa vào kỹ thuật tân kỳ của ngành điện ảnh, sự khai thác của báo chí và truyền thông; đặc biệt là dựa vào quyền tự do ngôn luận của những quốc gia tôn thờ tự do cách quá trớn. Nó c̣n được sự tiếp tay của làn sóng duy vật và hưởng thụ.

   Ba cứ điểm hay tiền đồn bảo vệ niềm tin và sinh hoạt Giáo Hội Công Giáo đă và đang bị cơn hồng thủy này quét qua, đó là: 1) Niềm tin nơi Đức Kitô. 2) Vai tṛ ơn gọi trong Giáo Hội. 3) Nữ quyền trong Giáo Hội. Đây là 3 điểm nóng đang làm cho thế giới duy vật, vô thần, và vật chất ngày nay không thể hiểu và cũng không muốn hiểu. Bởi v́ nó hoàn toàn xa lạ với trí khôn, và suy tư của con người thời đại. Ba đợt sóng ngầm này mới là những sức mạnh khiến có thể làm sụp đổ ṭa nhà Giáo Hội. Và chắc chắn ở trong ba đợt sóng ngầm ấy có mặt của Satan và bè lũ chúng.

   1. Niềm tin nơi Đức KitôTính độc hại và nguy hiểm của cuốn tiểu thuyết Da Vinci Code là ở chỗ nhằm triệt tiêu và phá bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Đây là điều mà tác giả của nó đă cố gắng thuyết phục độc giả bằng cách trưng dẫn những bằng cớ cho hay Đức Giêsu cũng chỉ là một thanh niên như mọi thanh niên, là một người đàn ông như mọi đàn ông. Và qua con người tự nhiên ấy, Giêsu cũng có người yêu, cũng có vợ và trước khi chết vợ cũng đang mang thai. Theo tác giả của cuốn tiểu thuyết này, th́ cho đến Công Đồng Nicarea năm 325, dưới sức ép của Constantine, các nghị phụ mới thừa nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

   Cái thâm hiểm của vấn đề là tác giả không hô hào và bắt buộc một ai bỏ đạo, chối bỏ tin nhận Đức Kitô là Chúa Cứu Thế, mà chỉ là đặt lại vấn đề cho có tính lịch sử, hợp với suy luận và sự thật. Mà tính lịch sử, suy luận và sự thật lại bị tác giả quảng diễn sai lạc. Chúa Giêsu đă có vợ và con. Vậy th́ việc Ngài chết trên thập giá có phải là một sự thật không? Maria Mađalêna có bằng ḷng cho Chúa chết như vậy không? Chết để làm ǵ? Chết cho ai? Làm sao nàng lại có thể để cho Chúa Giêsu xẻ thịt ḿnh và lấy máu ḿnh nuôi sống nhân loại?

   Tóm lại, nếu đó chỉ là những điều mà Giáo Hội Công Giáo phỉnh gạt, che dấu, và bôi bác th́ “có ích ǵ cho niềm tin” của con người. Và con người có buộc phải tin nhận một điều mà xưa rầy vẫn được coi là thánh thiện, là cần thiết cho phần rỗi và ơn cứu độ của con người. Ở đây Dan Brown đă tỏ ra bén nhậy và bắt kịp với những thao thức của con người thời đại, một nhân loại đang bị hoang mang và lo lắng. Một nhân loại đang bị giằng co với ảnh hưởng giữa ảnh hưởng của nền văn hóa sự chết và niềm tin vào Đức Kitô tử giá và phục sinh.

   2. Ơn gọi tu tŕ và tận hiến: Qua việc chứng tỏ Chúa Giêsu không phải là một người độc thân, vậy th́ những môn đệ của Ngài có cần phải sống đời độc thân như hiện nay không? Nếu có th́ sao? Và nếu không th́ sao? Có lẽ tác giả muốn nhấn mạnh vào vết đau nhức nhối của Giáo Hội, đặc biệt là Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ qua biến cố khủng hoảng t́nh dục nơi một số giáo phẩm, linh mục và tu sĩ.

   Tác giả cũng như muốn xoáy vào bản năng dục vọng tự nhiên, khi thức tỉnh những đ̣i hỏi cuộc sống đồng tính nơi hàng giáo sỹ và tu sĩ. Ngoài ra, nếu đời sống độc thân không là một điều cần thiết nữa, th́ đă đến lúc Giáo Hội phải đặt lại cái nh́n về đời sống và giá trị ơn gọi tu tŕ.

   Các đ̣i hỏi gần đây của những linh mục ủng hộ đồng tính và hôn nhân đồng tính, cũng như những người đồng tính muốn làm linh mục. Và đặc biệt là sự yếu đuối của một số giám mục, linh mục và tu sĩ đă khiến cho điều mà Dan Brown suy diễn trở thành dễ chấp nhận.

   3. Nữ quyền trong Giáo Hội: Ngoài việc tấn công trực diện vào thành tŕ đức tin và ơn gọi của Giáo Hội, tác giả Dan Brown c̣n nhắm tới một đề tài hết sức bén nhậy mà có lẽ tác giả cho là Giáo Hội không muốn trực diện, đó là sự b́nh quyền nam nữ. Theo tác giả, Thánh Phêrô trong những năm đầu của Giáo Hội đă cố gắng không đả động ǵ đến Maria Mađalêna v́ một mục đích độc tôn vai tṛ của nam giới. Nhưng ngày nay th́ cơn sốt b́nh quyền và b́nh đẳng trong phẩm trật Giáo Hội đă khiến Giáo Hội hết sức khó xử.

   Nữ quyền trong Giáo Hội. Đây là điều mà có lẽ Dan Brown muốn khai thác triệt để hầu tạo sự chia rẽ trong Giáo Hội, v́ hiện nay cao trào nữ quyền đang là điểm nóng không những cho Giáo Hội Công Giáo, mà các giáo phái Tin Lành, và Anh Giáo nữa. Riêng Anh Giáo th́ đă cho phép nữ giới làm linh mục và giám mục. Sự khó khăn trong bước đường hợp nhất Kitô Giáo giữa Anh Giáo và Công Giáo gặp phải ngăng trở ở điểm này. Và có lẽ v́ thế, Dan Brown muốn nhắc đến nữ quyền trong Giáo Hội trong cuốn tiểu thuyết của ông hầu tạo sự chia rẽ và thu hút độc giả phái nữ. Tưởng cũng nên biết rằng vấn đề linh mục lấy vợ và nữ giới làm linh mục không phải là câu hỏi mới mẻ đối với Giáo Hội Công Giáo, và vấn đề này cũng không phải là không đạt được sự hậu thuẫn của nhiều linh mục và cả giám mục nữa.

   Tóm lại, nữ quyền, linh mục có vợ, và Thiên Tính của Đức Kitô là ba điểm nổi bật mà Dan Brown qua cuốn tiểu thuyết của ông nhắm vào Giáo Hội Công Giáo. Chê bai, đả phá, hay thách thức. Dầu sao đây là những điểm mà Giáo Hội Công Giáo không bao giờ nhượng bộ. Nó đă được Đức Gioan Phaolô II kiên tŕ bảo vệ qua nhiều sóng gió. Nay th́ qua Da Vinci Code, Dan Brown lại cố t́nh tạo ra một cơn hồng thủy nhằm cuốn trôi toà nhà Giáo Hội.

   III. PHÊRÔ CON LÀ ĐÁ

   Nhưng có lẽ Dan Brown khi viết cuốn tiểu thuyết này là chỉ có ư nhắm vào một đối thủ nặng kư nhất, nhưng lại hiền từ và dễ tha thứ nhất để tạo sự ṭ ṃ và gây hấp dẫn cho độc giả hầu thu nhập nhiều. Ông cũng thừa biết rằng một cuốn tiểu thuyết của ông, chứ trăm cuốn tiểu thuyết như tác phẩm của ông th́ cũng không làm lung lay hay sụp đổ ṭa nhà Giáo Hội được. Bởi v́ ṭa nhà này là chính thân ḿnh mầu nhiệm của Đức Kitô. Ngài đă xây nó trên đá tảng Phêrô như lời Ngài đă nói với ông: “Phần thầy, thầy bảo với anh, anh là Đá, và trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh Thầy, mà dù các cửa hỏa ngục dấy lên cũng không thắng nổi.” (Mt 16:18).

   Thật vậy, ngay những ngày đầu khi Giáo Hội Chúa c̣n sơ khai, Saolô sau này là Phaolô cũng đă thẳng tay đàn áp và bắt bớ. Tiếp tới là hơn 300 năm đầu Giáo Hội đă trải qua bao sóng gió, bắt bớ và thử thách. Bản thân của Phêrô và Phaolô cũng đă bị hành quyết v́ niềm tin và v́ Giáo Hội.

   Trải qua các thời đại, và gần đây là những chủ thuyết duy tân, duy lư, duy vật, vô thần, hiện sinh, và ghê gớm nhất là chủ thuyết Công Sản với bao khí giới, quyền lực trong tay mà vẫn không dập tắt được niềm tin của các tín hữu. Rồi phong trào ly thân, ly dị, đồng tính và hôn nhân đồng tính, chủ thuyết tự do chọn lựa của nữ giới với hàng triệu triệu vụ phá thai hằng năm tuy có làm Giáo Hội bị thử thách nhưng vẫn không làm sụp đổ ṭa nhà Giáo Hội. Khi cuốn tiểu thuyết của Dan Brown tung ra thị trường, một cuộc khảo cứu tổng quát tại Hoa Kỳ và Gia Nă Đại đă cho thấy kết quả những người tin rằng “Chúa Giêsu đă chết trên thập giá trước khi sống lại và tiến vào cuộc sống vĩnh hằng” như sau:

   Hoa Kỳ:  78% tin -  13% không tin

   Gia Nă Đại:  73% tin - 17% không tin

   Riêng đối với 17% những người Gia Nă Đại không tin trên c̣n cho rằng việc Chúa Giêsu chịu chết là huyền hoặc, và việc Chúa Giêsu lập gia đ́nh với Maria Mađalêna như được nói đến trong cuốn tiểu thuyết của Dan Brown là có thật.

      Thật ra, cũng giống như bất cứ tư tưởng hay triết thuyết nào được tung ra th́ cũng có người đón nhận và có người không đón nhận. Việc đón nhận hay không tùy vào sự hiểu biết, ư thức và tâm lư mỗi người. Hậu quả của cơn hồng thủy Da Vinci Code chắc chắn rồi ra cũng kéo theo một số rác rến và những ngôi nhà xập xệ kiểu “nhà xây trên cát”, mà Chúa Giêsu đă có lần đề cập đến. Đó là những kẻ yếu ḷng tin hoặc không tin nhận Chúa. Những Kitô hữu sống đạo cách ươn ái và trễ nải. Những người đến nhà thờ v́ bắt buộc. Những kẻ “vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền bạc” (Mt 6:24). Và những kẻ mà miệng th́ “lậy Chúa, mà ḷng th́ xa” Chúa. Nhất là Giáo Hội lâu lâu cũng cần được thanh tẩy, và luyện lọc.

   IV. KITÔ HỮU HỌC ĐƯỢC G̀ NƠI BIẾN CỐ NÀY?

   Không thể coi thường biến cố này và cũng không quá bi quan v́ một vài thiệt hại nhỏ có thể xẩy ra do ảnh hưởng của cuốn tiểu thuyết cũng như cuốn phim ấy. Nhưng điều căn bản là mỗi Kitô hữu chúng ta học được ǵ qua biến cố này?

   Không thể để trách nhiệm cho Giáo Hội, hoặc những giáo chức trong Giáo Hội lo, mà là mỗi Kitô hữu chúng ta phải có trách nhiệm đối phó với những trào lưu tư tưởng và lư thuyết sai lầm như thế. Bởi v́ Giáo Hội là chính chúng ta. Mỗi Kitô hữu chúng ta là Giáo Hội thu nhỏ, là phần tử không thể thiếu trong Giáo Hội. Và bổn phận chúng ta là:

·       Học hỏi Giáo Lư, Kinh Thánhnhững tư tưởng đạo lư hầu giúp chúng ta vững niềm tin. Không thể chỉ dựa vào những lời của linh mục chỉ bảo, hoặc giám mục giảng giải, mà chúng ta phải có trách nhiệm đào sâu Giáo Lư thánh thiện cho chính ḿnh.

·       Cầu nguyện và sống đời tâm linh đạt tới mức trưởng thành. Lúa và cỏ lùng đều mọc chung trong một thửa ruộng. Chiên và dê cùng lẫn lộn. Đó là mầu nhiệm sự sống, mầu nhiệm cứu độ. Thiên Chúa đă có quan pḥng của Ngài trong cuộc sống mỗi chúng ta, và cần thiết là chúng ta phải vượt qua được những thách đố của cuộc sống. Đức tin thực hành mới là đức tin đem lại sự sống đời đời cho chúng ta: “Đức tin không thực hành là đức tin chết” (Giacôbê 2:17). Mà Đức Tin thực hành là Đức Tin thắng phải thắng vượt thử thách. Chính Chúa Giêsu cũng đă nói: “ Ai bền đỗ đến cùng mới được cứu rỗi” (Mt 10:22) 

                                                                                   

 

 

?¶?

The Da Vinci Code - SỰ lỪa dỐi vĩ đẠi

 

Sơ lưỢC cuỐn chuyỆn Da Vinci Code

 Đỗ Như Điện

            Đây là cuốn tiểu thuyết thuộc loại trinh thám, nội dung mang luận đề về tôn giáo. Tác giả sử dụng tất cả những kỹ thuật hiện đại gặp trong truyện trinh thám đương thời như các thiết bị điện tử tinh vi: điện thọai di động, máy chuyển h́nh, hệ thống nghe lén, máy điện toán tối tân, mă số, ám hiệu… mà các cơ quan t́nh báo quốc tế dùng. Những cuộc rượt đuổi săn lùng bằng xe hơi, máy bay, với những pha đấu trí nghẹt thở giữa chết và sống trong gang tấc. Tóm lại các yếu tố kích thích sự hiếu kỳ được vận dụng tối đa làm cho người đọc say mê.

 Chuyện hoàn toàn hư cấu, nhưng phần hư cấu được phối hợp với nhiều sự kiện có thật làm phương tiện chuyên chở. Những bí ẩn được các nhà chuyên môn lỗi lạc, kiến thức uyên bác, lư luận sắc bén chặt chẽ đầy tính thuyết phục giải thích tường tận, khiến người đọc có cảm tưởng như tất cả đều là sự thật. Sự thật tác giả muốn người đọc tin là một bí mật vĩ đại, mà nếu bí mật ấy được phơi bày ra ánh sáng th́ sẽ làm đảo lộn hoàn toàn niềm tin Kitô Giáo! Bí mật ấy chính là huyết thống của Chúa Giêsu lưu truyền lại, vẫn được bảo tồn suốt 2000 năm qua. Dan Brown dàn dựng câu chuyện để chứng minh rằng Chúa Giêsu là một người b́nh thường như những người đàn ông Do Thái khác vào thời điểm ấy, c̣n Mary Magdalene là một môn đệ được Chúa yêu quí, bà không phải là cô gái điếm, cũng không phải là người phụ nữ bị bắt quả tang v́ tôi ngoại t́nh, cũng không phải là Mary chị Lazaro, bà cũng thuộc ḍng tộc vương giả. Chúa Giêsu và Mary Magdalene là vợ chồng đúng nghĩa. Khi Chúa Giêsu bị treo trên thập gía, th́ Mary Magdalene đang mang trong ḿnh ḍng máu của Chúa; bà được Chúa Giêsu ủy thác việc chăm lo cho Hội Thánh của Ngài. Nhưng việc ấy không được tông đồ đ̣an chấp nhận. Mặt khác Kitô Giáo trong giai đoạn đầu bị cả người Do Thái và La Mă truy bức, nên bà đă phải trốn sang Pháp sống ẩn dật với cộng đồng người Do Thái lưu lạc tại đây, bà hạ sanh con gái đặt tên là Sarah, từ đó những thế hệ vương giả nối tiếp nhau ở Pháp.

 Đầu thề kỷ thứ tư Constantine theo Kitô Giáo, chấm dứt ba thế kỷ bách hại, nhờ đó Hội Thánh phát triển mạnh. Nhằm xóa bỏ dấu tích cuộc đời thật của Chúa Giêsu, Constantine ra lệnh tịch thu và tiêu hủy tất cả những sách Phúc Âm, trong ấy có cả phúc âm do Mary Magdalene viết, và những sách khác viết về Chúa Giêsu, rồi cho viết lại sách Tân Ước như ngày nay, trong ấy vai tṛ của người nữ và nữ tính bị coi thường.

 Ḍng dơi của Mary Magdalene nối tiếp qua nhiều thế hệ, nhưng luôn luôn bị truy lùng và sát hại bởi Kitô Giáo. Năm 1099 một hội kín (Priory of Sion =Prieure de Sion) được thành lập để bảo vệ bí mật. Từ năm 1510-1519, Leonardo da Vinci làm thủ lănh tối cao hội kín Sion; là người có trách nhiệm bảo vệ bí mật, ông đă vẽ bức họa Bữa Tiệc Ly trong nhà ăn của ḍng Santa Maria ở Milan, Italy. Trên bức họa, ông cố ư vẽ người ngồi bên phải Chúa, mà ta được biết là Gioan Thánh Sử, nhưng ông vẽ mái tóc hung dài, cánh tay mềm mại, gương mặt rơ nét nữ tính. Áo trong xanh, áo ng̣ai đỏ, cổ đeo nữ trang. Lại có một bàn tay ai đó tựa lưỡi dao kề cổ như ra dấu muốn triệt hạ. Chúa Giêsu th́ mặc áo trong đỏ, áo ng̣ai xanh. Qua bức họa này Dan Brown cho rằng Da Vinci cố t́nh gửi một thông điệp bằng mật mă cho hậu thế về sự thật vẫn được che giấu, người trong bức họa ấy không phải là Gioan, mà chính là Mary Magdalene. Nay đă đến lúc phải phơi bày ra ánh sáng.

 Cốt chuyện

 Nhân vật Robert Langdon, giáo sư môn biểu tượng học (symbology) thuộc đại học Havard sang thuyết tŕnh ở Paris. Quá nửa đêm sau buổi thuyết tŕnh, ông được cảnh sát Pháp mời đến viện bảng tàng Louvre giúp giải mă một vụ án, nhưng thật ra là để cầm chân và thẩm vấn Langdon, v́ ông bị coi là nghi can liên hệ đến cái chết bí ần của Jacques Saunière, quản lư bảo tàng viện danh tiếng này. Trước lúc chết Saunière đă viết mấy ḍng mật mă trên nền nhà, ghi chú rằng “hăy đi t́m Robert Langdon.” Cảnh sát cho Langdon xem bức ảnh chụp tại hiện trường, Saunière trần truồng nằm trong một ṿng tṛn, tay chân giang thẳng giống mô h́nh tỷ lệ kích thước con người (Vitruvian man) một công tŕnh nghiên cứu của Leonardo da Vinci! Khi ấy người cháu ruột của Saunière là Sophie Neveu, một chuyên viên giải mă của sở cảnh sát Pháp, biết chắc Langdon không phải là thủ phạm giết ông cô, nên đă kịp thời  t́m cách qua mặt  đại úy cảnh sát Bezu Fache, giúp Langdon thoát đi. Trước khi ra khỏi bảo tàng viện, Neveu và Langdon đă giải được mật mă và t́m được chiếc ch́a khóa Saunière muốn trao lại cho cô để mở chiếc hộp đang gửi tại chi nhánh ngân hàng của Thụy Sĩ ở Paris. Trong hộp Saunière cất giữ bí mật, đó là viên đá đỉnh ṿm chứa đựng mật mă, nếu giải được mật mă, sẽ biết nơi chôn dấu chén thánh. (Trong ngành kiến trúc cổ của Hy Lạp và La Mă, các cửa ṿng cung, và ṿm vuông hay tṛn đều cần một viên đá nằm giữa chịu đựng sức ép từ mọi phía, gọi là viên đá đỉnh ṿm (keystone). Đă 10 năm qua Neveu khước từ mọi liên lạc với Saunière, kể từ ngày cô vô t́nh chứng kiến nghi lễ tôn vinh nữ tính của hội kín tổ chức dười một căn hầm bí mật, mà ông cô làm thủ lănh. 

 Từ đó cuộc rượt đuổi vô cùng hào hứng diễn ra. Langdon và Neveu luôn đi trước cảnh sát một bước. Họ đă vào được ngân hàng, lấy được chiếc hộp bí mật. Chủ ngân hàng là Andre Vernet, cũng là bạn của Saunière đă giúp hai người trốn khỏi nhà băng bằng xe chở hàng. Vernet đă t́m cách đọat lại chiếc hộp bí mật, nhưng thất bại. Bị cảnh sát bủa vây và bám sát, Langdon và Neveu t́m đến lâu đài Château Villette, nơi Leigh Teabing, một giáo sư sử học Hoàng Gia Anh rất giàu có đang sống ở đó. Teabing bị cố tật chân nên phải đi nạng. Langdon quen Teabing từ lâu, biết rằng ông đă bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về chén thánh, hy vọng sẽ hợp tác giải mă những bí mật trong viên đá đỉnh ṿm. Langdon và Neveu không ngờ đó là dịp may hiếm có, v́ Teabing đă t́m kiếm viên đá ấy từ lâu. Teabing giả vờ đón Langdon và Neveu, nhưng thật ra muốn để Landgon giải mă, rồi sau đó dàn cảnh để cướp mật mă ấy.

 Một mặt Teabing liên lạc với giám mục Manuel Aringarosa thuộc tu hội Opus Dei (Công tŕnh của Chúa), người đang có tham vọng lớn, trụ sở chính tại số nhà 234 Lexinton, New York. Teabing biết rằng Aringarosa không c̣n được Giáo Ḥang tín cẩn, nên muốn tạo áp lực với Vatican, đă đồng ư mua bí mật từ Teabing với gía 20 triệu Euro. Nếu nắm được bí mật chén thánh trong tay th́ Vatican sẽ phải thỏa măn các yêu sách của ông.

 Tu sĩ Silas là một kẻ mồ côi, bụi đời và tội phạm được Aringarosa cứu sống, đưa vào tu hội Opus Dei. Aringarosa bảo Silas phải hành động theo kế họach của một ông thầy trong bóng tối đầy uy quyền, hắn nghe lệnh qua điện thọai mà không bao giờ biết mặt. Silas được lệnh t́m viên đá đỉnh ṿm do người thầy bí mật cung cấp tin tức. Sau khi đă giết cả 4 người thủ lănh hội kín Sion người cuối cùng là Jacques Saunière. Cả bốn đều tiết lộ viên đá ấy cất ở dưới nền nhà thờ Saint Sulpice, Paris. Hắn đă tới nhà thờ Saint Sulpice, giết nữ tu Santriene, đào nơi cất giữ, theo sự mô tả của các thủ lănh hội kín, nhưng hắn đă bị lừa.

 Trong lúc Teabing, Langdon, va Neveu đang họp nhau giải mă th́ Silas đột nhập lâu đài Villette uy hiếp để cướp viên đá chứa mật mă, nhưng nhờ Remy, quản lư của Teabing can thiệp bắt y trói lại, rồi tất cả năm người dùng máy bay riêng của Teabing bay sang England theo dấu chỉ của mật mă, trước sự rượt đuổi thất bại của cảnh sát Pháp.

 Tại London, trong khu hầm mộ, Teabing, Langdon va Neveu đang cố gắng giải mă giấu trong những vần thơ trên chiếc hộp đựng viên đá mật mă.  Remy canh chừng Silas đang bị trói nằm trong ngăn cuối của chiếc xe limousine sang trọng của Teabing. Remy cho Silas biết rằng hắn cũng làm việc cho ông thầy bí mật, nên cần hắn hợp tác để cướp viên đá mật mă. Thế là Remy và Silas đă dùng súng uy hiếp ba người và cướp viên đá mật mă từ tay Teabing trước sự kinh ngạc của Langdon và Neveu. Remy trói Teabing đẩy lên khoang sau chiếc xe, rồi cùng Silas lái xe đi, để Langdon và Neveu lại trong khu hầm mộ. Teabing  nằm ở khoang kín cuối xe, thật ra không bị Remy trói. Dùng điện thọai ra lệnh cho Silas trao viên đá mật mă cho Remy, rồi bảo Remy thả Silas xuồng trụ sở Opus Dei ở London. Teabing chính là ông thầy bí ẩn mà Silas vẫn nhận lệnh mà không hay biết.

 Remy tin lời của Teabing đă hứa sẽ chia cho hắn 1/3 số tiền 20 triệu Euro khi t́m được bí mật để bán cho giám mục Aringarosa. Đậu xe trong công viên lúc trời mưa tầm tă, chỉ c̣n hai thầy tṛ trong xe, Teabing chúc mừng Remy, rồi mở chai rựơu cognac uống, đưa cho Remy cùng uống, không ngờ trong rượu đă có chất độc. Remy đă kết liễu cuộc đời, ôm theo giấc mơ được sống đế vương nhờ số tiền bán bí mật mà y đă tận tụy phục vụ Teabing trong bao năm qua. Rồi Teabing báo cho cảnh sát biết chỗ cư ngụ Silas.

 Giải quyết xong hai tên đầy tớ, Teabing theo chỉ dẫn mật mă t́m đến nghĩa trang Westminster Abbey ở London, nơi an nghỉ của trên 3.000 người, trong ấy có lăng mộ của Isaac Newton, người cũng đă một thời làm thủ lănh hội kín Sion, trên mộ có h́nh quả cầu mà mật mă nói đến. Tại đây Longdon và Neveu vui mừng khi gặp lại Teabing. Nhưng Teabing đă dùng súng bắt Neveu làm con tin, buộc Langdon giải mật mă trong viên đá. Đến lúc ấy Teabing đă nói ra tất cả sự thật về cái chết bí mật của gia đ́nh cô 18 năm về trước, mà cô chỉ nghe đến một tai nạn auto mơ hồ. Thật ra đó là cuộc ám sát rồi đẩy xe xuống gịng sông. Ông cô là người thủ lănh tối cao của hội kín Sion, có bổn phận phơi bầy sự thật về huyết thống của Mary Magdalene, nhưng ông cô đă bị Vatican mua chuộc và de dọa, nên đă phản bội điều mong đợi của hội kín Sion, nên bị giết.

Đứng trước một quyết định khó khăn và nguy hiểm, Langdon muốn cứu Neveu; khi cầm trong tay viên đá mật mă h́nh lăng trụ, ở trong có một ống thủy tinh chứa dấm, nếu bị vỡ chất dấm sẽ phá hủy những mật mă cuộn quanh lọ dấm ấy; và sự bí mật huyết thống sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi; mơ ước của Leigh Teabing biến thành mây khói. Bằng một hành động bất ngờ, Langdon tung viên đá mật mă thật cao lên không gian. Teabing biết rằng nếu nó rơi xuống nền xi măng th́ chắc chắn sẽ vỡ tan tành, nên vội nḥai người chụp bắt viên đá, v́ thân h́nh nặng nề, lại đi nạng nên đă té nhào, và khầu súng đă văng khỏi tay. Sophie Neveu kịp thời chụp lấy khẩu súng quay lại uy hiếp Teabing, đúng lúc cảnh sát cũng vừa tới.

Nhờ khám phá được những bí mật trong lâu đài Villette, cảnh sát Pháp biết rằng chính Leigh Teabing là người chủ mưu trong cái chết của Saunière và ba người khác. Remy đă giúp Teabing thiết lập một hệ thống nghe lén hết sức tinh vi để thu thập thông tin của rất nhiều nhân vật tiếng tăm tại Pháp. Nê

n cảnh sát hủy bỏ lệnh truy nă Langdon và Neveu, nên hai người được tự do tiếp tục cuộc t́m kiếm bí mật. Lọ dấm trong viên đá đă vỡ, chữ APPLE hiện ra.  Đó là biểu tượng sự sa ngă của Eva - Tội Nguyên Tổ. Cũng là nguyên do việc tôn thờ nữ tính đă bị coi thường.

 Tiếp tục giải mă các câu thơ đă đọc được từ chiềc hộp đựng viên đá đỉnh ṿm, hai người t́m đến nhà nguyện Rosslyn cổ kính ở gần Edingburg, Scotland. Nhà nguyện này do các hiệp sĩ đền thờ (Knights Templar) xây năm 1446. Lối kiến trúc, địa thế và phương hướng chứa nhiều bí ẩn. Nhiều người tin rằng chén thánh và hài cốt của Mary Magdalene chôn dấu ở đây.

 Khi bước vào căn pḥng riêng của bà Marie Chauvel, người quản ly nhà nguyện này, Neveu nh́n thấy bức h́nh ông nội cô trên bàn. Th́ ra Marie Chauvel chính là bà nội của cô. Sophie Neveu chính là huyết thống đang bị truy lùng. 18 năm trước cha mẹ và anh em cô đă bị giết, ông cô đă dàn cảnh để phân tán gia đ́nh, Sophie sống ở Pháp, c̣n bà và em trai cô đă bí mật đến ở trong ngôi nhà nguyện này. Giờ đây họ vui mừng trong cảnh sum họp, nhưng tất cả khóc thương Saunière đă bị giết.

                        

 

 

DAN BROWN ĐĂ BÓP MÉO LỊCH SỬ

   Hoàng đế Constantine

   Trong The Da Vinci Code (DVC), Dan Brown thuyết phục người đọc rằng Constantine đă dùng Kitô Giáo như thế lực chính trị để bành trướng ảnh hưởng của ḿnh, và đă thực hiện nhiều việc, tóm tắt những việc có ảnh hưởng lớn như sau: Sửa lại sách Phúc Âm cho phù hợp với mục đích hủy bỏ thờ nữ thần trong đế quốc Roma; đổi ngày Thứ Bảy ra ngày Chúa Nhật; triệu tập Công Đồng Nicea để tôn vinh Đức Kitô là Thiên Chúa, mà trước đó chỉ coi Ngài là người phàm.

   Việc lợi dụng tôn giáo vào ‎mưu đồ chính trị th́ ở thời đại nào và nơi đâu cũng có thể xảy ra. Lợi dụng được hay không, và kết quả tốt xấu ra sao lại là vấn đề khác. Chúng ta hăy dựa vào lịch sử để xem xét những sự kiện vừa nêu trên.

   Trường hợp Constantine theo Kitô Giáo: Cuối thế kỷ thứ III, đế quốc Roma có những xáo trộn nội bộ v́ tranh giành ngôi báu, năm 306 Constantine được tôn làm vua, lúc ấy ông có thế lực ở phía bắc gồm những phần lănh thổ nay là Anh, Pháp, Áo, Thụy Sĩ, một phần nước Đức. Năm 312 ông đem quân vượt dẫy núi Alpes nhắm hướng Roma đánh xuống, chiếm được các thành Turin, Milan, Corona bắc Ư. Khi đến cầu Milvian, trên sông Tiber, Constantine gặp sức kháng cự mănh liệt của đạo quân của ḥang đế Maxentius có quân số lơn hơn. Tương truyền rằng trong lúc bối rối, ông cầu khẩn danh Chúa của Kitô Giáo, ông nh́n thấy vầng sáng h́nh thập tự trên bầu trời, và hàng chữ Hy Lạp “conquer by this – cứ dấu này th́ sẽ thắng trận”. Ông phân vân suy nghĩ, rồi trong giấc chiêm bao, ông lại thấy hai mẫu tự Hy Lạp X (chi) và P(rho) chồng lên nhau. Hỏi các quân sư, họ giải thích đó là chữ viết tắt tên của Đức Giêsu Kitô, Chúa của Kitô Giáo. Tin vào điềm lạ đó, ông cho vẽ dấu thập tự làm hiệu cờ của quân đội, rồi sáng ngày 28-10-312 Constantine đem đại quân xung trận, vượt qua cầu Milvian, và đă thắng trận vẻ vang, và ngày 29 đă chiếm đựơc Roma.

   Qua biến cố đó Constantine đă thân thiện với Kitô Giáo, ông cho khắc huy hiệu X/P trên đồng bạc. Năm 313 Constantine đă ra chiếu chỉ ở Milan, nh́n nhận quyền tự do tôn giáo trong khắp đế quốc Roma, và Kitô Giáo được ngang hàng với các tôn giáo khác, v́ đế quốc Roma là đa thần giáo. Ông ra lệnh trả lại những tài sản đă bị chiếm, tha thuế, bồi ḥan những thiệt hại đă gây ra. Cho phép xây cất các giáo đường Kitô Giáo ở Roma. Constantine ao ước được rửa tội trong gịng sông Jordan, nhưng ông ngần ngại, v́ nhiều lí do nên măi đến cuối đời khi đau yếu ông mới được rửa tội. Một yếu tố khá quan trọng là bà Helene thân mẫu Constantine đă nhập đạo ngay khi thắng trận, và bà được phong là hoàng thái hậu. Chính bà đă ảnh hưởng nhiều đến việc xây dựng Giáo Hội trong triều đại Constantine.

   Kitô Giáo bắt đầu một mùa xuân mới sau gần ba thế kỷ bị truy bức rất khủng khiếp. Dấu ấn cụ thể c̣n để lại ngày hôm nay là những hầm mộ (catacombs-hang tọai đạo) quanh vùng Roma. Lợi dụng luật La Mă thời ấy, người tín hữu trong những thế kỷ đầu đă trốn tránh sống chui rúc để giữ đạo dưới các hầm mộ từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đă có 9 vị giáo ḥang chết dưới hầm mộ trong giai đọan vô cùng khắc nghiệt này. Dấu hiệu để các tín hữu nhận ra nhau là h́nh con cá, chữ cá trong tiếng Hy Lạp là ICHTHYS, chữ viết tắt bởi “Iesous CHristos Theou Hyios Soter có nghĩa là Chúa Giêsu Đấng được xức dầu là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.” Các tín hữu họp nhau cầu nguyện, nghe giảng Lời Chúa và tham dự nghi thức bẻ bánh. Chính những dấu ấn c̣n in đậm ở nhiều nơi trong các hầm mộ cổ xưa đă nói lên niềm tin vào Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa trước thời kỳ Constantine.

   Trái với những ǵ Dan Brown lập luận rằng Constantine triệu tập Công Đồng Nicea để sửa lại Phúc Âm cho phù hợp với sự kỳ thị nữ giới, và bác bỏ sự kiện Chúa Giêsu chỉ là người phàm. Quả thực Constantine triệu tập Công Đồng Constantine năm 325, nhưng là để thống nhất niềm tin trong cả đế quốc Roma. Các cuộc tranh căi đă có từ thế kỷ thứ hai về vấn đề thần học quan trọng nhất, cốt lơi niềm tin Kitô Giáo, đó là về Thiên Chúa Ba Ngôi, bản tính Đức Kitô. Khi Constantine nắm quyền th́ sự tranh luận càng trở nên gay gắt. Một bên là linh mục Arius, lập luận rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, Đấng tự hữu, c̣n tất cả những ǵ khác đều là tạo vật; kể cả Đức Kitô. Dựa vào Phúc Âm Thánh Gioan (14:28) “…..Thầy đến cùng Chúa Cha v́ Chúa Cha cao trọng hơn Thầy” để lí luận rằng Chúa Kitô không phải là Thiên Chúa, không ngang hàng, không đồng bản tính với Thiên Chúa. Ngài là một tạo vật ḥan hảo nhất, có trước thời gian, nhưng không vô thủy vô chung, Ngài là Con Thiên Chúa, và là trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại. Arius gây được cảm t́nh lớn và đă thuyết phục được nhiều giám mục ở phương đông, nhưng ông gặp chống đối ở vùng Libia, Egypt, nhất là giám mục Alexandro thành Alexandria. Một bên th́ quả quyết Chúa Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa và đồng bản tính với Thiên Chúa Cha.

   Thấy cuộc tranh chấp lan rộng trở nên mối bất ổn cho đế quốc, nên hoàng đế Constantine quyết định triệu tập đại Công đồng, ông viết thư mời tất cả giám mục trên thế giới về Nicea họp từ ngày 20-5-325. Đức Giáo Hoàng Sylvester già yếu không đến dự, cử hai đại diện thay Ngài. Có 318 giám mục đă về họp, kể cả Arius. Cuộc thảo luận tập trung vào những điều trong Kinh Tin Kính do các tông đồ sọan từ trước. Sau một tháng tranh luận, mỗi bên đều được tŕnh bày quan điểm của ḿnh, cuối cùng th́ biểu quyết. Kết quả phía Arius chỉ được 5 phiếu, nhưng 3 trong số ấy sợ bị trừng phạt, phải rút lai, nên chỉ c̣n 2 đứng về phía Arius. Từ đó trong Kinh Tin Kính được thêm vào đọan: “Chúa Giêsu Kitô là Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha”. Đó là câu quan trọng nhất trong Công Đồng Nicea.

   Công Đồng kết thúc nhưng sự việc không dừng lại ở đó, ảnh hưởng của Arius c̣n kéo dài măi, nên sau đó c̣n có đến 12 cuộc họp để thống nhất mà vẫn không giải quyết xong.V́ thế phải có Đại Công Đồng Constantinople triệu tập năm 381, tái xác nhận gía trị những điều đă biểu quyết trong Công Đồng Nicea năm 325, từ đó Arius từ từ tan biến. Tóm lại Công Đồng Nicea bàn đến Bản Tính Thiên Chúa của Chúa Kitô trong một Thiên Chúa Ba Ngôi. Sự kiện Chúa Kitô có hai bản tính, bản tính Thiên Chúa và bản tính ḷai người không phải là đề tài thảo luận, v́ từ thời các tông đồ th́ Kitô Giáo đă tin như vậy. Constantine không liên hệ ǵ đến nội dung cuộc biểu quyết kể trên.

   Các Sách Tân Ước

   DVC nói rằng Tân Ước do bàn tay của con người tạo ra, Constantine ra lệnh tiêu hủy rồi tài trợ viết lại cho thích hợp với mục đích của ông. Điều đó hoàn ṭan vô căn cứ. Kitô Giáo tin rằng tác giả Thánh Kinh chính là Thiên Chúa, các tác giả viết những điều do sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần. Theo các nhà chú giải Kinh Thánh và nghiên cứu cổ sử th́ sách Tân Ước được viết vào khoảng thời gian từ năm 40 đến năm 100, chắc chắn là trước cuộc hội nghị của các tông đồ tại Jêrusalem năm 49, Giáo Hội coi đó là Công Đồng đầu tiên. Sớm nhất là các thư của Thánh Phaolô, v́ Ngài đi truyền giáo từ nơi này qua nơi khác, nhưng vẫn giữ liên lạc với các giáo đ̣an tân lập bằng thư tín, qua đó Ngài dạy dỗ và khuyên bảo họ. Chất liệu mà Thánh Paul có để dậy dỗ giáo dân th́ Ngài đă t́m hiểu rất sâu rộng, một phần trực tiếp từ các tông đồ, phần khác qua các cuộc điều tra để nắm vững khi lùng bắt người Kitô Giáo. Một đoạn rất quan trọng thánh Phaolô đă viết trong (ICor 15:5-6): Trước hết Người hiện ra với Peter, rồi với nhóm Mười Hai; Người c̣n hiện ra với hơn năm trăm người một lúc, đa số những người này hăy c̣n đang sống bây giờ, mặc dù một số người đă chết”. Đó là một chứng minh hùng hồn đối với những người c̣n ḥai nghi về việc Chúa Kitô đă chết, phục sinh và lên trời; v́ nếu ai chưa tin th́ hăy t́m đến hàng mấy trăm người để hỏi lại cho rơ. Tiếp theo những thư của Phaolô, th́ các tông đồ cũng phải ghi chép lại những lời Chúa Giêsu rao giảng, v́ cộng đoàn giáo dân mỗi ngày mỗi rộng lớn, mà các Ngài th́ già đi. Đó là nhu cầu bắt buộc các sách Tân Ước cần viết ra.

       Sau khi những sách Tân Ước được viết ra th́ sang thế kỷ thứ II và thứ III, có nhiều người viết về Kitô Giáo và cuộc đời Đức Kitô. Nhưng để phân biệt được nguồn gốc và sự khả tín của các sách ấy. Các nhà nghiên cứu và các thánh giáo phụ dựa vào nhiều yếu tố, hai trong những yếu tố quan trọng nhất là phải bắt nguồn từ các tông đồ, và hợp với qui luật đức tin. Đồng thời c̣n dựa vào chữ viết, văn tự theo địa phương, lối hành văn, cú pháp v.v để xác định nguồn gốc… Do đó có nhiều sách mang tên các tông đồ như Phúc Âm thánh Phêrô, Phúc Âm Tô ma, Phúc Âm thánh Giacôbê; c̣n có Sứ Vụ thánh Phaolô. Sứ Vụ Anrê, Sứ Vụ Tôma, có cả sách Khải Huyền của Phêrô và Khải Huyền của Phaolô, nhưng những sách ấy không có tông đồ tính, và không phù hợp qui điển đức tin nên không được nh́n nhận. Một số lớn những sách này thường gọi là ngọai thư hoặc ngụy thư, nội dung chứa đựng nhiều điều kỳ dị, như ảo thân thuyết (docetism), hay ngộ giáo thuyết (Gnosticism). Dầu vậy Giáo Hội vẫn bảo quản để làm tài liệu khảo cứu. Do đó không có vấn đề tiêu hủy đề viết lại v́ những mục đích riêng tư. Mà dầu Constantine thật sự có muốn cũng không thể làm được việc ấy; bởi v́ sau gần 300 năm, các thư của Thánh Paul gửi các giáo đoàn, các Phúc Âm chính thống đă được tín hữu sao chép và bảo tồn ở rất nhiều nơi. Trước khi có các bản viết th́ giáo dân thời ấy học theo lối truyền khẩu, người ta nghe và kể lại cho nhau, dầu có hủy các bản viết, cũng không hủy được lời đă ghi khắc trong ḷng.

   Theo tài liệu của sử gia Eusibius th́ năm 331, Constantine yêu cầu ông cung cấp 50 bộ sách Tân Ước để dùng trong giáo đường xây trong đế quốc Roma, nhưng không hề đ̣i biết nội dung các sách ấy. Eusibius là giám mục, và là sử gia danh tiếng vào đầu thế kỷ thứ tư, ông cũng đồng quan điểm với Arius.

   Dan Brown viết rằng Constantine đổi ngày Thứ Bảy ra ngày Chúa Nhật cũng là điều vô căn cứ. Ai trong chúng ta cũng biết rằng người Do Thái giữ ngày Sabbath, tức là sau sáu ngày làm việc, đến ngày thứ bảy là ngày nghỉ. Chúa Kitô Phục Sinh nhằm ngày thứ nhất trong tuần tức là ngày đầu tuần theo Do Thái, để mừng ngày Chúa Phục Sinh, Kitô Giáo xem ngày ấy là ngày của Chúa, “Ngày Chúa Nhật,” đó cũng vẫn là ngày thứ nhất trong tuần.

   Đế quốc La Mă bao trùm một vùng rộng lớn, mỗi sắc dân, mỗi bộ lạc thờ các thần theo niềm tin của họ. Người Roma th́ thờ thần mặt trời (Sol Invictus). Khi người Kitô Giáo sống lẫn lộn với các tôn giáo khác th́ họ vẫn giữ ngày nghỉ là ngày Mừng Chúa Kitô Phục Sinh (ngày thứ nhất trong tuần) sau ngày Sabbath. Năm 303 đă có một hội nghị ở Spain qui định rằng Ngày Chúa Nhật là ngày đặc biệt để thờ phượng và nghỉ ngơi, nếu ai không tuân giữ trong ba lần sẽ bị khai trừ một thời gian để sửa đổi.

   Măi đến năm 321 Constantine mới chính thức tuyên bố ngày Chúa Nhật là ngày được nghỉ ngơi trong ṭan đế quốc, ông không hề quyết định đổi ngày thứ bảy ra ngày Chúa Nhật, v́ Roma không có ngày Sabbath (ngày thứ bảy). Khi chấp nhận Kitô Giáo th́ đồng thời cũng nh́n nhận Chúa Kitô là ánh sáng thế gian, người La Mă tôn vinh thần mặt trời, là nguồn ánh sáng soi trên trái đất, từ đó ngày của thần mặt trời (day of the sun) đồng hóa với ngày của Chúa (the Lord’s day) và đó là Chúa Nhật (Sunday trong tiếng Anh).

   Sự việc lấy ngày 25 tháng 12 làm ngày giáng sinh của Chúa Giêsu cũng có nguồn gốc tương tự. Trong đế quốc Roma có nhiều lễ hội của các giáo phái, nhằm thống nhất những buổi lễ ấy ḥang đế Aurelian (270-275 A.D.) đă cho tổ chức ngày mừng “Mặt trời thắng trận – Unconquered Sun” nhằm ngày 25 tháng 12 như một dấu hy vọng, gọi là mừng ngày mặt trời tái sinh (rebirth), khi đêm dài bắt đầu ngắn dần và ngày bắt đầu dài ra. Sự trùng hợp là việc sử dụng lịch của các bộ tộc vào thời điểm ấy chưa thống nhất, nên có vấn đề bất đồng việc xác định ngày Chúa Giêsu chịu nạn trong Kitô Giáo. Theo nguồn gốc cổ xưa, người ta tin rằng các tiên tri chết vào ngày sinh ra, hoặc vào ngày thụ thai. Do đó giáo hội Đông Phương th́ lấy ngày 6 tháng Tư, Tây Phương th́ ngày 25 tháng Ba (Lễ Truyền Tin). Do đó Đông Phương mừng giáng sinh vào ngày 6 tháng Giêng, c̣n Tây Phương mừng vào ngày 25 tháng 12, trùng vào ngày “mặt trời thắng trận” trong đế quốc Roma

 

   

Xin mời đọc thêm:

* Chuyện Da Vinci Code qua sự phân tích của Lữ Giang
  * Tiểu thuyết Da Vinci Code với GS Nguyễn Văn Thành
 

* Vạch trần & tẩy chay Da Vinci Code với Lm Bùi Quang Tuấn