CHIA SẺ

CÔNG TÁC MỤC VỤ GIÁO XỨ

TRONG THỜI ĐẠI NAY

Xin tri ân

Linh mục nghĩa phụ Inhaxiô Nguyễn Thới Ḥa

Đă cầu nguyện, nâng đỡ và khuyến khích

Những tâm hồn nhiệt thành

Đáp lại lời mời gọi làm linh mục, tu sĩ của Thiên Chúa.

Lời ngơ,

Công tác mục vụ tại giáo xứ hay tại bất cứ nơi đâu đều là bổn phận và trách nhiệm của các linh mục, là những người được Thiên Chúa tuyển chọn để thay mặt Ngài thánh hóa, dạy dỗ và cai quản đoàn chiên mà Thiên Chúa đă trao cho các ngài coi sóc...

Công tác mục vụ là một công việc khó khăn đ̣i hỏi các linh mục không những cần có ân sủng của Thiên Chúa, mà c̣n cần phải có tri thức và văn hóa, cùng với những đức tính nhân bản mà các ngài đă học và trau dồi trong cuộc sống hằng ngày, bởi v́ tất cả những ǵ chúng ta đă được tiếp thu khi c̣n ở trong chủng viện chỉ là một phần nhỏ của cái lớn lao khi chúng ta làm công tác mục vụ.

Với những suy tư và kinh nghiệm nho nhỏ, tôi xin chia sẻ với các anh em linh mục trẻ của tôi trong năm truyền giáo này của Giáo Hội Việt Nam chúng ta...

 

A- GIÁO XỨ

1. Phải xác định cách tích cực Giáo xứ là đại gia đ́nh của ḿnh.

Chịu chức xong th́ các linh mục trẻ đầy nhiệt t́nh sẽ được nhận bài sai của đấng bản quyền địa phương (giám mục địa phận, bề trên ḍng...) để đi làm mục vụ, cũng có nghĩa là được chính thức sai đi đến một nơi mà khi c̣n học trong chủng viện các ngài hằng mong ứơc, đó là làm cha phó (hoặc cha xứ).

Giáo xứ mà các linh mục được sai đến không như trong sách vở mà các linh mục trẻ đă học, nhưng là một giáo xứ với những con người sống động, những con người mà họ rất kỳ vọng vào các linh mục trẻ của ḿnh với tác phong vui tươi cởi mở với tất cả mọi người, dù linh mục trẻ ấy là cha sở hay cha phó, hoặc bất cứ linh mục trẻ nào. Nơi giáo xứ có nhiều hạng người giàu cũng như nghèo, có người trí thức cũng như có người lao động, có người là giáo sư là bác sĩ.v.v... cũng có những thành phần trong Giáo Hội là các tu sĩ nam nữ, và có khi có gia đ́nh có con cái làm linh mục hoặc tu sĩ trong một hội ḍng... tóm lại là một giáo xứ với nhiều tính năng của nó.

Giáo xứ là một Giáo Hội địa phương được trao phó cho linh mục coi sóc, để giáo xứ dưới sự lănh đạo của các ngài ngày càng phát triển về đàng nhân đức cũng như về mặt xă hội, có nghĩa là các linh mục coi sóc giáo xứ -trước hết- trên phương diện tinh thần, hướng dẫn giáo dân sống và thực hành tinh thần Phúc Âm của Chúa Giêsu mà các ngài đă được huấn luyện trở thành vị mục tử chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa trao cho các ngài.

Cho nên, khi nhận được bài sai để đến một giáo xứ nào đó (dù lớn hay nhỏ) th́ các linh mục phải cảm tạ ơn Thiên Chúa đă chọn ngài chứ không chọn ai khác để coi sóc giáo xứ ấy, và mau mắn lên đường làm nhiệm vụ...

Giáo xứ là một cộng đoàn lớn và phức tạp, cho nên để cho công việc mục vụ được dễ dàng thuận lợi, th́ tâm t́nh trước tiên mà các linh mục phải có chính là biến công đoàn giáo xứ này trở thành gia đ́nh của ḿnh, một đại gia đ́nh đúng nghĩa của nó, có như thế các ngài mới có thể vui vẻ lạc quan sống và làm việc bên cạnh các giáo dân của ḿnh.

Có một vài linh mục trẻ khi được bài sai đến một giáo xứ nào đó, nếu giáo xứ giàu th́ cười hả hê và thỏa măn, nếu giáo xứ nghèo ở nơi khỉ ho c̣ gáy th́ lại trách oán bề trên, những linh mục này sẽ không bao giờ coi giáo xứ của các ngài là một đại gia đ́nh của ḿnh, cho nên khi đến giáo xứ th́ việc trước tiên là hạch sách giáo dân hoặc đ̣i điều kiện với cha sở là : chổ ở phải tiện nghi có máy lạnh, phải có pḥng ốc hẳn hoi, phải có chổ vui chơi giải trí th́ mới đến, bằng không th́ mặc kệ, như thế tinh thần mục tử v́ đàn chiên nơi các ngài không c̣n nữa, và như thế các ngài coi giáo xứ như là một công ty mà các ngài “buộc” phải đến làm việc, các ngài biến ḿnh trở thành một công chức cao cấp để lănh lương chứ không phải là một linh mục đang làm trong vườn nho của Thiên Chúa...

Khi đă xác định được giáo xứ là đại gia đ́nh của ḿnh th́ người linh mục không c̣n đ̣i hỏi phải có đầy đủ tiện nghi trong sinh hoạt, nhưng các ngài sẽ băn khoăn khi giáo dân của ḿnh dân trí kém, cuộc sống khó khăn, có nhiều người rượu chè cờ bạc và có nhiều tệ nạn xảy ra cần phải giáo dục họ họ sống đúng với tinh thần của Chúa Giêsu dạy : yêu thương và phục vụ lẫn nhau.

 

2. Phải tâm niệm Giáo Xứ là cánh đồng truyền giáo của ḿnh.

a. Thăm giáo dân (cày)

Chắc chắn các linh mục trẻ sẽ cười khi nghe câu ấy, bởi v́ giáo xứ đă là nơi truyền giáo của các linh mục, bằng không th́ làm linh mục để làm ǵ ! Nếu các linh mục trẻ hiểu được như thế th́ Giáo Hội Việt Nam sẽ không lo âu v́ các linh mục trẻ của ḿnh ngày càng sống hưởng thụ hơn là làm việc truyền giáo, ngày càng sống xa hoa hơn là phục vụ.

Giáo xứ là cánh đồng truyền giáo của các linh mục, nhưng như thế nào là truyền giáo ? Có một vài linh mục khi đến giáo xứ th́ “triển lăm” cái tính sống xa hoa của ḿnh cho giáo dân thấy, có linh mục th́ mới đến giáo xứ ngày hôm trước th́ hôm sau đă phách lối nạt nộ giáo dân và đặt điều kiện này điều kiện nọ với họ, th́ truyền giáo đâu chưa thấy chỉ thấy giáo dân than phiền : ông cha mới khó tính như ông cụ non ! Như thế th́ sẽ không c̣n là truyền giáo nữa, nhưng là đến để làm ông chủ và “truyền” cá tính cộc cằn, hách dịch và kiêu căng của ḿnh cho giáo dân, thật tội nghiệp cho họ, v́ họ không nh́n thấy được Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhượng nơi vị mục tử trẻ trung của ḿnh.

Muốn đồng ruộng tốt th́ trước hết phải cày rồi sau mới “nhất nước, nh́ phân, tam cần, tứ giống”. Các linh mục cũng phải “cày” trên đồng ruộng giáo xứ của ḿnh, các ngài phải “cày” ngay khi mới đến giáo xứ, “cày” tức là các ngài phải bỏ công sức là đi thăm giáo dân mà chúng ta gọi là “thăm mục vụ”, thăm giáo dân để biết t́nh trạng con chiên của ḿnh như thế nào, nhà này ra sao nhà nọ thế nào, người này không bao giờ đến nhà thờ, người kia chưa một lần lên rước Ḿnh Thánh khi đi dâng thánh lễ.v.v... đó là “cày” của các linh mục, việc này các linh mục trẻ dễ dàng làm hơn v́ sức c̣n mạnh và tay chân hoạt bát không ngại đường xa mưa gió nắng nôi...

Kinh nghiệm cho thấy, cha sở nào thường cùng với các đoàn thể (Legio Maria chẳng hạn...) đi thăm giáo dân của ḿnh th́ cha sở ấy đă thành công một nửa trong việc xây dựng giáo xứ của ḿnh. Đi thăm giáo dân là để t́m hiểu cuộc sống tâm linh của họ, và có khi, cũng biết thêm đời sống vật chất của họ để thông cảm và khuyến khích họ sống tốt đẹp là một người Kitô hữu trong giáo xứ của ḿnh.

Chí ít là một tuần đi thăm một vài gia đ́nh, chương tŕnh thăm ai, nhà nào th́ nên có kế hoạch và bàn hỏi với đoàn thể mà ḿnh cùng đi với họ đến thăm giáo dân, họ sẽ rất vui và cho ḿnh biết hoàn cảnh của gia đ́nh giáo dân mà ḿnh đến thăm, nếu không có chuyện cấp bách về mục vụ (như xức dầu bệnh nhân...) th́ không nên đi một ḿnh và không nên ngồi quá lâu ở một nhà giáo dân, v́ như thế sẽ không tốt cho các linh mục và ảnh hưởng đến công tác mục vụ của ḿnh. Khi đến thăm nhà giáo dân th́ thăm hỏi sức khoẻ của họ, phải tế nhị và đừng đụng chạm đến đời sống riêng tư của họ, nhưng hăy thật vui vẻ -có khi pha tṛ- để cuộc tṛ chuyện thêm tự nhiên xoá bỏ ngăn cách giữa linh mục và giáo dân. Đừng để họ bận rộn tiếp khách chuẩn bị thức ăn thức uống, nhưng cần phải nói ngay với họ rằng, chỉ uống một ly nước hoặc một ly cà phê (nếu có) và tṛ chuyện thân t́nh, rồi cáo từ sau năm hoặc mười phút tṛ chuyện. Tuy ngắn nhưng ảnh hưởng và ấn tượng lâu dài nơi giáo dân của ḿnh...

Giáo dân cảm thấy xa cách cha sở -vị mục tử- của ḿnh, v́ các ngài không chịu bước ra khỏi nhà xứ để đến với họ, v́ các ngài cảm thấy ḿnh đến với giáo dân là quá hạ ḿnh nên phải để giáo dân đến với ḿnh trước !? V́ thế mà khi có nghe tin giáo dân nọ cần được xức dầu th́ có một vài cha sở không biết giáo dân đó là ai !!!

Đừng ngại đi đến thăm giáo dân, cũng như người nông dân không ngại trời nắng trời mưa khi cày ruộng, bởi v́ phải cày trước đă rồi mới gieo hạt hoặc cấy lúa, “cày” là đi thăm giáo dân của cha sở, bởi v́ khi đi thăm giáo dân là cha sở đă làm một chiếc cầu bê tông cốt sắt chắc chắn để nối liền nhà thờ với họ, nối liền cha sở với giáo dân, mục tử với con chiên. Đi thăm giáo dân là “”cày” mảnh đất tâm hồn họ cho tơi xốp v́ nó đă cứng khi không thấy được sự quan tâm của người mục tử và cũng v́ miếng cơm manh áo mà họ ít đến nhà thờ...

Đừng ngại đi thăm giáo dân nhưng hăy ngại là chỉ quen biết và đi thăm một hai gia đ́nh thân thiết trong giáo xứ rồi thôi, bởi v́ đôi lúc có một vài linh mục v́ quá mệt và bận rộn với công việc giáo xứ mà “trốn” đi đến một nhà giáo dân thân thiết để giải trí và thư giăn với cờ tướng hoặc tán dóc hoặc nghỉ ngơi cả buổi, lâu ngày làm cho giáo dân dị nghị và như thế việc truyền giáo và quản lư giáo xứ sẽ ảnh hưởng rất nhiều...

Khi đă “cày” xong th́ chúng ta tiếp tục với câu tục ngữ của cha ông chúng ta “Nhất nước, nh́ phân, tam cần, tứ giống” để áp dụng vào cánh đồng truyền giáo của chúng ta, đó là giáo xứ.

 

b. Cầu nguyện. (nhất nước)

Cầu nguyện, đó là một niềm vui của người Kitô hữu được “đặc ân” tṛ chuyện với Thiên Chúa, là một sức mạnh cho những người cảm thấy ḿnh quá nhỏ bé trong cuộc sống. Các linh mục là những “nhà chuyên môn” của việc cầu nguyện, các ngài có thể cầu nguyện luôn luôn trong mọi lúc dưới bất cứ h́nh thức nào, v́ các ngài là những thầy dạy giáo dân về việc cầu nguyện, khi mà người ta cảm thấy khó khăn khi cầu nguyện v́ quá lo ra chia trí v́ kế sinh nhai, v́ thất t́nh lục dục, th́ các linh mục là những con người mà họ cậy nhờ trong đời sống tâm linh của ḿnh...

Có thể nói : cá cả ngày sống trong nước thế nào th́ các linh mục cả ngày sống trong ơn sủng của Thiên Chúa cũng như thế.

Cầu nguyện rất cần thiết cho giáo xứ ḿnh phục vụ cũng giống như nước cần cho đồng ruộng, không cầu nguyện th́ các linh mục không thể làm cho tâm hồn tín hữu nguội lạnh thành nóng lên v́ t́nh yêu của Thiên Chúa, không cầu nguyện th́ các dự án, các cuộc thăm viếng chỉ là đánh trống bỏ dùi mà thôi, bởi v́ cầu nguyện là “nước” nên nếu không nước th́ đồng ruộng truyền giáo sẽ cháy khô.

Dâng thánh lễ là lúc cầu nguyện tuỵêt với nhất, và chỉ có khi dâng thánh lễ người linh mục mới cảm thấy được hết tất cả những hồng ân mà Thiên Chúa đă làm cho ḿnh và cho nhân loại, đó chính là t́nh thương cao cả nhất mà chính linh mục là người thứ nhất cảm nghiệm được, bởi v́ khi linh mục dâng thánh lễ mà không cảm nhận được sự cao quư và cao cả của Thiên Chúa th́ chẳng khác chi một diễn viên sân khấu.

Bởi v́ có một vài linh mục khi cử hành thánh lễ th́ chỉ thích chú trọng đến những cử điệu bên ngoài : giang hai tay thật rộng hết cở khi đọc lời cầu nguyện, giọng nói uốn lưỡi mất tự nhiên và cung giọng lên xuống sao cho truyền cảm thu hút mọi người, v́ thế cho nên không lạ ǵ có một vài linh mục cử hành thánh lễ như là diễn kịch trên sân khấu, nhưng diễn cũng không đạt v́ những cử chỉ mà các ngài làm đều không diễn tả được là hành vi thánh, đôi lúc làm cho giáo dân thấy cử hành thánh lễ là một việc làm bất đắc dĩ của các ngài, làm cho xong, làm cho qua, làm cho mau để hết...cục nợ !

Cầu nguyện là nước tưới trên cánh đồng truyền giáo của các linh mục, kinh nghiệm của thánh Gioan Maria Vianney đă cho chúng ta thấy được điều ấy : từ một giáo xứ khô cằn (nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) ngài đă làm cho nó sinh động tốt tươi cách kỳ diệu bằng lời cầu nguyện liên lĩ của ḿnh. Cũng vậy, cầu nguyện là một sức mạnh kỳ diệu làm đổi mới mọi sự, mà theo suy nghĩ của con người sẽ không bao giờ làm được, nhưng việc ǵ mà con người không thể làm được th́ Thiên Chúa lại làm được.

Thánh lễ là giây phút hạnh phúc nhất của người Kitô hữu nói chung, và của các linh mục nói riêng, bởi v́ càng suy tư đến mầu nhiệm hiến tế nơi bàn thánh th́ chúng ta càng thấy được Thiên Chúa quá ư là khiêm tốn và rất mực yêu thương nhân loại, cách riêng các linh mục, bởi v́ chính linh mục –chứ không ai khác- diễn tả lại cuộc hi tế ngày xưa trên đồi Golgôtha của Chúa Giêsu. Trong mỗi một thánh lễ mà chúng ta –những linh mục- dâng lên Thiên Chúa có biết bao là hồng ân mà nhân loại được hưởng nhờ, có biết bao linh hồn được ơn nhận biết Thiên Chúa là Cha rất nhân từ. Nói như thế để mỗi người trong chúng ta cảm nghiệm được rằng : tôi chỉ là một đầy tớ vô dụng, một dụng cụ bất xứng, và là một con người đầy những xấu xa hơn tất cả mọi người trên thế gian, vậy mà Thiên Chúa đă chọn tôi như là một khí cụ t́nh yêu của Ngài.

Chúng ta phải lợi dụng hồng ân trong thánh lễ để cầu nguyện cho giáo xứ của ḿnh, tức là cho cánh đồng truyền giáo, mà trên cánh đồng ấy có không biết bao nhiêu là cỏ dại, sâu trùng, bọ xít làm hư hoại những hạt lúa tốt tươi của chúng ta.

Trong thánh lễ, chúng cầu nguyện cho em bé lem luốt hôm qua đứng bên vệ đường khóc v́ đói được cơm ăn, chúng ta nhớ đến khuôn mặt của một giáo dân ngày hôm qua đă bị mọi người chửi mắng v́ say rượu để cầu nguyện cho họ, chúng ta cũng nhớ đến những cô gái đứng gốc cây bên đường chờ khách để cầu nguyện cho họ được có cuộc sống tốt đẹp hơn, và c̣n biết bao nhiêu là những người mà chúng ta phải nhớ đến họ trong thánh lễ để cầu nguyện cho họ... Như thế, cầu nguyện là phương thế tuyệt vời nhất để cho cánh đồng truyền giáo của chúng ta ngày càng xanh tươi tốt đẹp hơn, và sẽ không một cây lúa (giáo dân) nào mà không được mát ḷng nhờ lời cầu nguyện của chúng ta.

Tiếp đến, Phụng Vụ các giờ kinh mà ngày xưa chúng ta gọi là kinh nhật tụng, đóng một vai tṛ quan trọng thứ hai sau thánh lễ trong việc cầu nguyện của các linh mục.

Thời nay Giáo Hội khuyên các tín hữu cũng nên đọc giờ kinh phụng vụ theo cách của giáo dân, bởi v́ đó là những lời ca ngợi, tán tụng, tạ ơn và cầu xin tuyệt vời nhất, mà Giáo Hội đă yêu cầu các linh mục là những người đă được tuyển chọn thay mặt nhân loại đọc để chúc tụng Thiên Chúa, cho nên nếu được th́ trong giáo xứ của ḿnh, cha sở có thể tổ chức để giáo dân yêu thích dùng phụng vụ các giờ kinh để cầu nguyện, và các ngài cũng nên đọc chung với giáo dân ít nữa là giờ Kinh Sáng sau (hoặc trong thánh lễ) và giờ Kinh Chiều.

Đây là cách cầu nguyện chung giữa cha sở với giáo dân của ḿnh, bởi v́ các linh mục rất ít khi đọc kinh chung với giáo dân, buổi sáng khi giáo dân cùng nhau đọc kinh lần chuổi th́ không thấy cha sở, cha phó cùng đọc chung với họ, chỉ đợi khi gần giờ lễ rồi mới ra khỏi pḥng và đi thẳng vào pḥng thánh để chuẩn bị dâng lễ, lễ xong th́ cũng “biến” đâu mất, rất ít khi tṛ chuyện với giáo dân, hỏi thăm quan tâm : “ông X... đâu rồi, sao mấy ngày nay không thấy đến nhà thờ; bà H... nghe nói bệnh phải không; Anh B..., con anh ra sao rồi t́m được việc làm chưa.v.v...” Mấy câu hỏi quan tâm đơn sơ sau thánh lễ ấy là chất xúc tác để giáo dân không c̣n thấy ông cha sở của ḿnh là cao cao sang sang nữa, nhưng rất thân t́nh như người trong nhà và làm cho giáo dân yêu mến nhà thờ hơn, đó là bí quyết truyền giáo xưa cũng như nay : tiếp xúc và quan tâm đến mọi giáo dân của ḿnh.

Đọc kinh Phụng Vụ chung với giáo dân là cầu nguyện chung với họ, là nói cho họ biết giáo xứ chúng ta cần thêm nhiều lời cầu nguyện của mọi người, để xin Thiên Chúa chúc lành và ban ơn cho mỗi con chiên của Ngài trong giáo xứ này, và thế là giáo dân “thấy” được trong tâm hồn của vị mục tử của ḿnh đầy ắp sự lo lắng thương yêu giáo dân của ngài, và chắc chắn Thiên Chúa cũng sẽ nhậm lời và chúc lành cho công cuộc truyền giáo của các ngài.

Nước cần thiết cho đồng ruộng như thế nào, th́ lời cầu nguyện cũng rất cần thiết cho việc truyền giáo như thế.

 

c. Tổ chức. (nh́ phân)

Có một vài linh mục trẻ rất có óc tổ chức giáo xứ của ḿnh, những linh mục này tôi biết là ngoài việc các ngài có thiên khiếu về tổ chức ra, th́ trong số các ngài c̣n có một vài linh mục tham gia sinh hoạt phong trào hướng đạo, nên cách tổ chức của các ngài rất có thứ tự lớp lang đàng hoàng.

Một cánh đồng kiểu mẫu không những năng suất cao mà c̣n là cách phân bờ phân đê làm sao cho hợp lư, để khi nước được bơm vào th́ cả cánh đồng đều có nước giống nhau, chứ không phải cùng một cánh đồng mà chổ này bơm nước một ngày chổ kia bơm nước ngày khác, đó là v́ nhà nông không được học qua kỷ thuật về nông nghiệp tiên tiến. Ở Đài Loan nền nông nghiệp của họ thật tuyệt vời, thấy ruộng đồng của họ mà mê tơi v́ nó bằng phẳng, thứ tự lớp lang, sạch sẽ, nh́n thấy là muốn xuống ruộng làm nghề nông, đó chẳng qua là nền nông nghiệp của họ đă đạt đến mức hoàn hảo.

Trong một giáo xứ, việc tổ chức các đoàn thể là điều cần thiết, từ ban hành giáo cho đến các đoàn thể như Thiếu Nhi Thánh Thể, hội Lêgiô Maria, hội Con Đức Mẹ, hội các bà mẹ Công Giáo, hội cha gia đ́nh, thanh niên.v.v... đều rất cần thiết cho sự truyền giáo của cha sở cũng như sự phát triển của giáo xứ, nhất là gây t́nh đoàn kết giữa các giáo dân với nhau cũng như giữa giáo dân và cha sở cha phó...

Có một vài cha trẻ nhưng tâm hồn th́ đă già cho nên thích an nhàn hưởng thụ hơn là tổ chức các sinh hoạt trong giáo xứ, mà nếu giáo xứ nào đă có các đoàn thể rồi th́ các ngài cũng ít quan tâm v́ không phải “con của ḿnh đẻ ra”, mặc kệ bây sinh hoạt hay không tuỳ tiện !?

Tổ chức là khâu quan trong trong việc quản lư cộng đoàn, cha sở phải làm sao để tất cả giáo dân của mọi thành phần trong giáo xứ tham gia các hội đoàn, để qua các sinh hoạt này mà cha sở truyền đạt ḷng đạo đức kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân cho các con chiên của ḿnh, bởi v́ sẽ rất thiếu sót khi giáo dân thèm muốn có một hội đoàn hợp với lứa tuổi của ḿnh để chia sẻ những kinh nghiệm về cách sống đạo cho người khác, cũng như muốn học hỏi kinh nghiệm sống Lời Chúa nơi những giáo dân khác, mà cha sở th́ cứ tà tà “để đó coi đă”, cái “tà tà” này là biểu hiệu của một tâm hồn không mấy thiết tha với giáo xứ mà ḿnh đang coi sóc.

Tôi đă thấy một vài linh mục đă không làm ǵ sau mấy năm ở giáo xứ, bởi v́ các ngài có một quan niệm rất “kỳ quặc” là ḿnh không ở đời ở kiếp đây th́ tổ chức đoàn thể này nọ làm ǵ cho mệt óc mệt xác chứ ! Thế là giáo xứ của các ngài ngày càng tẻ nhạt, giáo dân đến đi lễ v́ bổn phận rồi về, họ không coi giáo xứ là nơi để họ lui tới học hỏi nơi cha sở cách sống đạo cũng như nơi các giáo dân khác, bởi v́ giáo xứ của họ không có một hội đoàn nào để họ tham gia sinh hoạt.

Thiên Chúa –đă v́ thương yêu- mà chọn chúng ta làm những người thay mặt Ngài để dạy dỗ giáo dân biết sống đạo, và khi chọn ai th́ nhất định Ngài cũng ban cho họ sự khôn ngoan để lănh đạo, nghĩa là với sự khôn ngoan ấy chúng ta tổ chức giáo xứ thành cánh đồng truyền giáo cho hợp với thời đại khoa học, hợp với đà tiến hoá của xă hội mà không làm cho giáo dân phải thốt lên : ông cha sở quá cấp tiến.

Khi đă tổ chức được các đoàn thể rồi th́ cha sở phải hy sinh thêm rất nhiều thời gian cho các đoàn thể, bởi v́ cha sở, cha phó là đầu tàu, là hạt nhân làm nổ tung các tâm hồn bấy lâu nguội lạnh với việc nhà Chúa, th́ nay đă hăng hái tham giá cách tích cực các hội đoàn trong giáo xứ. Cha sở sẽ c̣n rất ít giờ để đọc sách và giải trí, nhưng tham gia sinh hoạt các đoàn thể là một niềm vui của ngài, bởi v́ có việc để làm th́ tốt hơn là không có việc ǵ để làm rồi sinh ra những điều không tốt cho đời sống tu đức của linh mục.

Các linh mục là những người được đọc nhiều sách với nhiều đề mục, nhưng –đối với linh mục- th́ tất cả đều là lư thuyết trên sách vở, duy chỉ có một điều đối với các ngài th́ nó không c̣n là lư thuyết nữa nhưng là thực hành, đó là truyền giáo. Truyền giáo không phải là lư thuyết nhưng là phải thực hành, và đó chính là nghề chuyên môn của các ngài, do đó, người ta sẽ cừơi và trách các linh mục khi các ngài dửng dưng với công tác tổ chức các hội đoàn trong giáo xứ của ḿnh.

Có một vài linh mục khi được phái đến coi sóc một giáo xứ nào đó th́ thích xây dựng nhà thờ, pḥng ốc, sân chơi, vườn hoa kiểng.v.v... đương nhiên tất cả những công việc này cũng đều là v́ giáo xứ mà làm để cho giáo xứ có bộ mặt đẹp đẽ và bề thế hơn. Nhưng, khi nhà thờ chưa xuống cấp mà đập tan nát ra xây lại, giáo dân không có chổ để đi đứng sinh hoạt th́ lại xây cái vườn hoa kiểng to đùng đùng chiếm cả một khoảng lớn của nhà thờ, hoặc giáo dân th́ nghèo cơm ngày ba bữa chưa đủ no mà cha sở đập phá nhà thờ cũ để xây mới th́ có hợp thời không...

Cái nên xây trước hết chính là xây dựng tâm hồn của giáo dân, làm cho tâm hồn của họ trở thành đền thờ của Thiên Chúa thật sự, chứ không phải chỉ đến nhà thờ đi lễ đi kiệu, nhưng khi ra khỏi nhà thờ th́ tâm hồn của họ lại trở thành nơi ở của ma quỷ ? Xây dựng tâm hồn của các giáo hữu trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần th́ không có ǵ hay cho bằng tổ chức các đoàn thể trong giáo xứ của ḿnh, thông qua các đoàn thể chúng ta sẽ thấy nhiều điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đă làm nơi họ. Tổ chức các cộng đoàn hoạt động hữu hiệu th́ cha sở sẽ có một ngày bội thu trong niềm vui của người ra đi gieo giống trên ruộng ḿnh, và vui mừng gặt hái thành quả ôm trong ḷng vác trên vai mà đi về nhà Cha...

 

d. Làm việc không biết mệt. (tam cần)

Ruộng lúa, dù đă trổ đ̣ng đ̣ng, nhưng nếu không chuyên cần làm cỏ th́ sẽ trở về với hai bàn tay trắng, cũng vậy, tổ chức thật khoa học nhưng không thường xuyên giáo huấn dạy dỗ quan tâm th́ cũng chẳng thu hoạch được ǵ.

Có những linh mục làm việc không biết mệt mỏi, các ngài làm việc bất kể ngày đêm, dù mưa to gió lớn, dù ban đêm hay ban ngày mà hể có người cần đến các ngài là a lê đi ngay đến để ban các bí tích cho họ, sự chuyên cần này được Thiên Chúa trả công rất bội hậu, mà trước mắt là giáo xứ của các ngài ngày càng có nhiều người đến tham dự thánh lễ hơn, và chính bản thân của mỗi người giáo hữu cũng rất muốn cộng tác với một cha sở nhiệt thành v́ các linh hồn mà phải hy sinh tất cả những chuyện riêng tư cá nhân...

Không chuyên cần làm việc th́ các linh mục cũng đừng trông mong giáo dân cộng tác, và các ngài cũng đừng trách cứ giáo dân sao mà xao nhăng việc đạo đức, lễ lạy không đến nhà thờ; không làm việc cách tích cực th́ cha sở đừng trông mong giáo dân thân thiện với ngài, bởi v́ cha sở nhạy cảm một nhưng giáo dân nhạy cảm gấp đôi các ngài, nhất là trong việc nh́n xem cha sở ḿnh có tích cực làm việc mục vụ hay không rồi sau đó mới cộng tác.

Có một vài linh mục trẻ khi được sai phái đến làm cha phó một họ đạo nào đó th́ khoáng trắng cho cha sở, c̣n ḿnh th́ làm việc cách tiêu cực, cha sở phân công th́ làm mà không phân công th́ thôi, ngồi chơi xơi nước hoặc làm việc không mấy có trách nhiệm. Đương nhiên trách nhiệm là của cha sở, nhưng trên cương vị cha phó hay cha phụ tá cũng đều có trách nhiệm trong phạm vi của ḿnh, mà trách nhiệm này trước hết chính là phần vụ của linh mục tức là làm công việc truyền giáo dù cho làm cha sở hay cha phó, cha phụ tá hay làm bất cứ chức vụ nào chăng nữa cũng đều phải làm bổn phận của một linh mục.

Chúa Giêsu đă làm việc không biết mệt mỏi, đôi chân Ngài rảo khắp miền Galilêa để rao giảng, t́m và chữa lành những người đau yếu tật nguyền, cho nên có rất nhiều người đă đi theo Ngài mà không thiết đến ăn uống[1] sự chuyên cần tích cực này rất đáng để cho chúng ta noi theo, và coi đây là một phương pháp, một bí quyết để thành công trong việc truyền giáo của ḿnh.

Làm việc tác dụng rất nhiều trên đời sống tu đức của các linh mục, khi làm việc với các đoàn thể trong giáo xứ các linh mục sẽ nhận ra giáo dân của ḿnh có những khả năng mà ḿnh không ngờ đến, họ có thể giúp đỡ ḿnh trong việc điều hành giáo xứ. Một linh mục làm việc nhiều là một linh mục luôn nhạy bén ứng xử năng động trong mọi t́nh huống của giáo xứ, nhưng cái quan trọng hơn, khi một linh mục dành nhiều cho việc mục vụ để phát triển giáo xứ, th́ chính các ngài đă cảm thấy có một nhu cầu bức thiết hơn xuất hiện trong nội tâm của ḿnh, đó là nhu cầu cầu nguyện, bởi v́ càng làm việc càng thấy gánh càng nặng, càng thấy ḿnh quá bất lực nên cần phải xin Thiên Chúa ban thêm ơn cho ḿnh để điều hành giáo xứ và chăm nom các linh hồn mà Thiên Chúa đă trao cho ḿnh.

Truyền giáo là mệnh lệnh của Thầy chí thánh –Chúa Giêsu- đă truyền cho các môn đệ của Ngài, trong đó có chúng ta là những linh mục được tuyển chọn để -ưu tiên- thực hành mệnh lệnh ấy. V́ thế không có một lư do ǵ để chúng ta khoán trắng việc truyền giáo cho người khác, mà người khác ấy cụ thể là cha sở hay cha phó của ḿnh, hoặc khoán trắng cho giáo dân mà cụ thể là ban hành giáo.

Có một vài giáo xứ có thầy đại chủng viện đến giúp xứ để thực tập mục vụ như dạy giáo lư, tập hát, dạy giúp lễ.v.v... giúp cho cha sở nhiều trong vấn đề mục vụ, đây là việc làm đúng và rất có ích cho các thầy sau này. Nhưng các cha sở (cha phó) phải luôn xác định rằng : các thầy đến để thực tập chứ không phải là đến để làm cha sở hay cha phó, cho nên đừng mỗi cái mỗi giao cho các thầy làm, c̣n ḿnh th́ rảnh tay để đi đánh pingpong hoặc đánh cờ, hoặc tán ngẫu ở nhà.

Tôi có thấy ở một giáo xứ nọ, trong nhà cha sở có hai, ba thầy giúp xứ, khi có đám tang th́ cha sở chỉ dâng lễ an táng, c̣n liệm xác và đưa ra phần mộ th́ ngài lại giao cho một trong các thầy ấy đi ra huyệt mộ làm các nghi thức, c̣n cha sở ở nhà uống trà. Giáo dân rất không thích như thế, bởi v́ không có cha sở th́ thôi, chứ đă có cha sở th́ cha sở nên đưa ra đến huyệt mộ cho trọn t́nh trọn nghĩa với người chết là giáo dân của ḿnh, hơn nữa cũng là một việc truyền giáo cho các giáo hữu c̣n sống, nhất là với gia đ́nh tang chế...

Làm việc chuyên cần là cách khẳng định năng lực quản lư giáo xứ của ḿnh, không một linh mục nào mới chịu chức mà giám mục giao trách nhiệm làm cha sở ngay (ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như tân linh mục đă giúp xứ quá lâu mười mấy hai chục năm, nay mới được chịu chức), cho nên phải tập làm việc ngay khi c̣n làm cha phó hay cha phụ tá, đừng nghĩ rằng bây giờ làm cha phó th́ cứ tà tà mà làm, đợi đến khi làm cha sở rồi làm luôn th́ lầm to, bởi v́ không ai đưa một người không biết làm việc hoặc làm việc cách hời hợt lên làm cha sở, v́ như thế có nghĩa là giám mục “đem gánh nặng trút lên đầu giáo dân bắt họ chịu đựng một ông cha sở không biết làm việc mà chỉ biết hưởng thụ và đ̣i hỏi”. Do đó không một giám mục hay bề trên nào cho bài sai một linh mục mới chịu chức đi làm cha sở ngay, nhưng phải làm phó hoặc phụ tá một hai năm...

Thiên Chúa là t́nh yêu, v́ yêu mà Ngài làm việc không ngơi nghỉ để giữ ǵn công tŕnh sáng tạo của Ngài trong vũ trụ, Ngài làm việc nơi những con người thành tâm thiện chí v́ lẽ công bằng và v́ t́nh yêu thương đồng loại, và đặc biệt Thiên Chúa làm việc không ngơi nghỉ nơi các linh mục là những người cộng tác đắc lực nhất của Ngài, do đó khi một linh mục không cảm thấy ḿnh có trách nhiệm chu toàn bổn phận th́ là lăng phí ơn riêng của Thiên Chúa đă ban cho các ngài. Đừng sợ ḿnh không có tài mà không làm và cũng đừng lo là ḿnh không có khả năng để làm, nhưng hăy mạnh dạn bắt tay vào việc với tinh thần vui tươi và lạc quan, Thiên Chúa sẽ gởi người tới phụ giúp chúng ta hoàn thành công tác, bởi v́ không một người cha nào nh́n thấy con cái vất vả làm không xong việc mà không ra tay giúp đỡ ! Thiên Chúa chắc chắn là một người cha tuyệt vời hơn tất cả mọi người cha trên thế gian này.

“Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng”. Vâng, đó là kinh nghiệm của người xưa và người thời nay, thử hỏi các linh mục lớn tuổi (cha sở) ngài sẽ chia sẻ cho những kinh nghiệm mục vụ đầy những mồ hôi và nước mắt, hăy nh́n những thành quả trong giáo xứ của chúng ta th́ thấy các cha sở trước đă vất vả như thế nào để xây dựng giáo xứ đẹp đẽ như ngày hôm nay th́ thấy câu thánh vịnh trên đây thật chí lư và khích lệ cho chúng ta.

 

e. Suy tư. (tứ giống)

Các linh mục trẻ thân mến,

Có một vài anh em linh mục trẻ khi lên toà giảng để giảng th́ giáo dân không biết ngài giảng cái ǵ, bởi v́ ngài quá ỷ y vào tài lợi khẩu của ḿnh nên chỉ một câu nói mà cứ nói lui nói tới, nói ḷng ṿng không đầu không đuôi; có một vài linh mục trẻ khi giảng th́ không biết đối tượng ḿnh giảng là ai, nên các ngài trích dẫn hết lập luận này đến lập luận kia, hết tổng luận thần học rồi đến tư duy triết lư làm cho giáo dân nghe ngài giảng mà không hiểu ǵ cả, thật uổng công cho các ngài soạn bài giảng và uổng công cho các giáo dân náo nức nghe cha giảng...

Sống là giảng và giảng là sống, sống sao giảng vậy th́ thu hút và đánh động tâm hồn người khác hơn là lấy y chang bài giảng của người khác để giảng, bởi v́ bài giảng của người khác th́ chỉ gợi ư cho chúng ta mà thôi, chứ không như chúng ta sống, cho nên một linh mục thiếu suy tư th́ cũng rất ít sống theo tinh thần Phúc Âm, và chắc chắn là các ngài không có chất liệu ǵ của ḿnh để giảng dạy cho giáo dân.

Ruộng cày thật tơi xốp, nước nôi đầy đủ, chuyên cần có thừa, nhưng lúa giống không có hoặc giống xấu th́ không thể đạt năng xuất được. Cũng vậy, trên cánh đồng truyền giáo mọi thứ đều được chuẩn bị đầy đủ, cha sở thức khuya dậy sớm để lo việc tổ chức mà không c̣n giờ để suy niệm về Lời Chúa, hay nói cách khác, cha sở không đào sâu kho tàng ân sủng của Thiên Chúa trong thánh kinh cũng như trong các loại sách thiêng liêng, th́ không thể hướng dẫn giáo dân hăng hái tiến bước trên con đường mà ḿnh đă làm sẵn cho họ đi.

Có giáo dân mỗi lần đi họp Legio Mariae về th́ nói với nhau : cha linh hướng hôm nay nói ǵ đâu không ăn nhằm ǵ tới Legio; có các bạn trẻ thanh niên mỗi lần đến họp hành cũng chẳng thấy cha tuyên uư của ḿnh nói câu ǵ cho mơi mới chút xíu, cứ lui tới nhắc nhở các bạn trẻ sống làm gương tốt, mà ngài th́ không đưa ra những h́nh ảnh và phương pháp cụ thể để cho các bạn thấy mà học theo...

Suy tư, không nhất thiết là phải ngồi lỳ đóng cửa cả ngày trong pḥng để t́m ư tưởng; suy tư, cũng không nhất thiết là phải tra cứu sách này sách nọ cho nó oai, để khi giáo dân có hỏi th́ nói ḿnh dọn bài dọn vở căng thẳng cả đầu óc ! Nhưng bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể suy tư và áp dụng vào trong cuộc sống của ḿnh :

-Suy tư khi thấy một tai nạn.

-Suy tư khi thấy một đám ma.

-Suy tư khi thấy một em bé đang khóc v́ đói.

-Suy tư khi đọc được một câu chuyện hay.

-Suy tư khi nghe một lời chửi bới của bạn bè.

-Suy tư khi nghe hát một bài hát...

Tóm lại là bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể suy tư, và những suy tư ấy sẽ rất có ích cho cá nhân của ḿnh cũng như cho cộng đoàn mà ḿnh đang phục vụ.

Càng suy tư th́ càng có chất liệu để giảng dạy, mà chất liệu hiệu quả nhất chính là ḿnh sống những ǵ ḿnh đă suy tư và cảm nghiệm, bởi v́ không ai cho cái mà ḿnh không có...

Một linh mục luôn suy tư là một linh mục dễ dàng thông cảm với những khuyết điểm của người khác nhất.

Một linh mục luôn suy tư là một linh mục luôn hoà nhă với mọi người.

Một linh mục luôn suy tư là một linh mục luôn có “bảo bối” là Chúa Thánh Thần hướng dẫn, để hướng dẫn người khác đi theo mục đích mà Chúa Giêsu cũng như Giáo Hội của Ngài mong muốn.

Trong suy tư các ngài cảm nghiệm được tính liên đới ḿnh với người khác, cảm nghiệm được những thiếu sót sai lầm của người khác cũng chính là thiếu sót và sai lầm của ḿnh hôm qua cũng như ngày mai, và như thế các ngài rất dễ dàng nhận thấy vai tṛ linh mục mục tử của ḿnh có ư nghĩa phục vụ hơn là lănh đạo, t́m và chữa lành hơn là trừng phạt và răn đe, yêu thương hơn là kiểu cách, cũng có nghĩa là các ngài sẽ khiêm tốn hơn khi vấp phải vấn đề tế nhị giữa mục tử và giáo dân trong việc quản trị và điều hành giáo xứ.

Một trong những bổn phận của linh mục là giảng dạy, ngoài việc giảng dạy trên toà giảng th́ các ngài cũng sẽ giảng dạy nơi các đoàn thể trong giáo xứ như : Legio Mariae, Con Đức Mẹ, Thiếu Nhi Thánh Thể, hội Vinh Sơn.v.v... do đó mà các ngài cần phải suy tư nhiều hơn nữa về vai tṛ mục tử của ḿnh, về những vấn nạn mà các đoàn thể đă và đang gặp phải...

Có những anh em linh mục trẻ chuẩn bị bài giảng trước cả...mười ngày rất công phu, có những linh mục trẻ rất lo lắng khi soạn bài giảng, tất cả các anh em linh mục trẻ này đều có ư thức về bài giảng của ḿnh, c̣n có một vài anh em linh mục trẻ thấy ḿnh đă đạt đến mức độ xuất khẩu thành bài giảng nên không chuẩn bị bài giảng ǵ cả, cứ lên toà giảng th́ nói thao thao không ư không tứ, không đầu không đuôi và cuối cùng th́ giảng như máy bay...không có băi đáp.

Nhưng tệ hơn là có một vài linh mục không thích suy tư, không thích soạn bài giảng, và nếu có soạn th́ chỉ chú trọng đến bài giảng ngày chủ nhật mà thôi, cho nên khi họp các đoàn thể th́ không có những lời lẽ để giáo huấn họ, mà nếu có nói th́ nói chung chung kỳ họp trước cũng như kỳ họp này không có ư tưởng đào sâu làm cho giáo dân cảm thấy đơn điệu, và không lạ ǵ khi các thành viên của các đoàn thể đi họp rời rạc và ngày càng ít đi, dĩ nhiên là có những lư do khách quan khác, nhưng lư do “đi họp chán quá” cũng là vấn đề làm cho chúng ta –các cha sở- phải xét lại cách giáo huấn dạy dỗ của ḿnh.

Tôi thấy có một vài anh em linh mục trẻ sau khi dâng lễ sáng xong th́ xách xe chạy một lèo đến chiều tối mới về, không ngồi yên ở nhà được; có anh em linh mục th́ không bao giờ cầm đến một tờ báo hay đọc một cuốn sách thiêng liêng, nếu có đọc th́ chỉ năm phút sau là...ngủ gật, thật uổng phí thời giờ. Theo kinh nghiệm bản thân ḿnh, các cha sở (cha phó) nên kiếm việc mà làm hoặc phát huy khả năng của ḿnh như sáng tác nhạc, viết sách, dịch sách; hoặc tay nghề của ḿnh như làm thợ sửa cái bục giảng đang hư, sơn lại cái ghế quỳ.v.v... những công việc ấy sẽ giúp cho các linh mục rất nhiều trong cuộc sống tu đức, những lúc công việc nhà xứ rỗi rảnh th́ bắt tay vào làm những việc ấy để không c̣n thời gian để suy nghĩ lung tung, xách xe chạy đi tán dóc, coi xi nê, đánh cờ tướng mất cả ngày giờ mà không ích lợi ǵ cho công tác mục vụ của ḿnh.

Mỗi ngày bỏ ra ít là một giờ để đọc sách và viết xuống những suy tư của ḿnh, một tháng sau đọc lại th́ thấy ư tưởng của ḿnh tiến bộ, ư lực dồi dào và súc tích hơn, và mỗi năm sẽ tích luỹ được nhiều vốn liếng suy tư th́ lo ǵ mà không có chất liệu đễ giảng dạy chứ, đó là kinh nghiệm mà tôi thường chia sẻ với các anh em linh mục trẻ trong ḍng của chúng tôi, và kinh nghiệm này đă giúp tôi có những suy tư rất đời thường nhưng rất thực tế, có ảnh hưởng trên đời sống giáo dân khi giảng dạy.

Suy tư là hạt giống để gieo vào mảnh đất truyền giáo của giáo xứ của ḿnh, bởi vậy nó có giá trị không những cho đời sống tu đức của ḿnh, mà c̣n có ích cho đời sống tâm linh của giáo dân trong giáo xứ của ḿnh.

Có giáo dân than phiền về bài giảng của các linh mục trẻ quá dài và quá thiên về lư thuyết thần học triết lư, mà không đi vào thực tế sống đạo của người Kitô hữu, do đó mà họ cảm thấy rất “mệt” khi nghe các ngài giảng.

Tôi c̣n nhớ sau khi ở đại chủng viện thánh Tôma (Đài Bắc-Đài Loan) trở về nhà ḍng và được sai đi giúp xứ, sau thánh lễ chủ nhật tôi đang ở trong pḥng mặc áo của nhà thờ, th́ có một giáo dân trung niên đến nói với tôi như sau : “Thưa thầy, nếu sau này thầy làm linh mục, khi giảng lễ th́ xin thầy giảng Phúc Âm cách thực tế trong cuộc sống để chúng tôi c̣n hiểu được và dễ thực hành, thầy đừng như cha sở hôm nay giảng ǵ mà tụi tôi không hiểu ǵ cả...” – Và kể từ hôm đó cho đến nay (và măi sau này) tôi vẫn luôn nhớ đến lời góp ư chân thành của người giáo dân ấy, thế là tôi bắt đầu suy tư cách thực tế của đời sống làm người với tinh thần Phúc Âm là Sống, là chia sẻ, là cảm nghiệm chứ không phải là lư thuyết sách vở...

Giáo dân không hiểu bài giảng của linh mục th́ không thể bắt họ sống tốt tinh thần Phúc Âm của Chúa Giêsu, linh mục giảng mà không có tâm t́nh chia sẻ thực tế th́ không phải là bài giảng “nhớ đời” của giáo dân khi nghe các ngài giảng.

 

B. GIÁO DÂN

Linh mục được sai đi để phục vụ chứ không để được phục vụ[1] cho nên linh mục phải xác định cho rơ ràng đối tượng mà ḿnh phục vụ chính là giáo dân, họ là những thành phần của dân Thiên Chúa tức là Hội Thánh địa phương mà ḿnh đang phục vụ.

Giáo dân là thành phần dân của Thiên Chúa, tức là những thành phần được tuyển chọn để trở thành một dân tộc thánh, dân tộc được cứu chuộc bằng giá máu của Chúa Giêsu, cho nên họ cũng có những đặc ân mà Thiên Chúa ban cho họ qua bí tích Rửa Tội và các bí tích khác mà họ đă lănh nhận, cho nên linh mục được sai đến là đến với họ, cũng có nghĩa là từ giây phút này đây tôi được sai đến đây để phục vụ, và cộng đoàn giáo xứ này chính là gia đ́nh của tôi chứ không phải là cộng đoàn tôi phục vụ trước đó.

Có một vài linh mục đang phục vụ ở giáo xứ này mà ḷng vẫn c̣n nghĩ đến giáo xứ trước đó, nên một vài tháng lại ghé đến thăm một nhà giáo dân mà ḿnh quen thân và ở đó trọn ngày, hoặc là thỉnh thoảng giáo dân ở giáo xứ ấy có tổ chức ǵ th́ mời riêng ngài đến tham dự...

T́nh cảm giáo dân dành cho cha sở cũ của ḿnh là điều đáng quư và đáng trân trọng, nhưng đa phần giáo dân không biết luật lệ Giáo Hội nên có khi t́nh cảm đi quá đà mà quên mất ngài bây giờ không c̣n là cha sở của ḿnh nữa, nhưng là đă có mục tử khác coi sóc, cho nên các linh mục trẻ cần phải để ư trong vấn đề rất tế nhị này, bằng không sẽ mang tiếng là cha sở không mặn nồng với giáo xứ mà ngài mới được sai đến.

Tất cả mọi giáo dân trong giáo xứ đều là con chiên bổn đạo của ḿnh, cho nên, họ có quyền đ̣i hỏi cha sở (cha phó) đối xử b́nh đẳng với họ như mọi người, họ cảm thấy bức xúc khi cha sở của ḿnh hể rảnh rỗi là đến nhà ông nọ bà kia ăn uống giải trí mà không đi đến các nhà khác. Trong cách đối xử này của cha sở (cha phó) sẽ làm cho việc truyền giáo của ngài, cụ thể là lời giảng dạy- sẽ mất đi sức thu hút và giảm đi sự kính mến của giáo dân nơi các ngài.

 

1. Kính trọng giáo dân lớn tuổi

Các bạn linh mục trẻ thân mến,

Một lần nọ, có giáo dân nói với tôi : “Linh mục X... tuy c̣n trẻ, tuổi chỉ đáng làm cháu bà Y..., vậy mà lớn tiếng la lối với bà ngay trong nhà thờ sau thánh lễ, không biết linh mục ấy có học nhân bản không ?”

Tôi có thể chia sẻ với các linh mục trẻ rằng, phách lối la mắng những giáo dân lớn tuổi đều là thái độ của ma quỷ đội lốt linh mục, bởi v́ linh mục là thầy dạy nhân đức, tức là dạy giáo dân của ḿnh biết kính mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người, chứ không phải dạy con người ta làm điều xấu xa, mà cái xấu xa nổi bật nhất của ma quỷ chính là dạy con người ta làm đảo lộn trật tự tự nhiên của Thiên Chúa đă đặt sẵn trong vũ trụ và trên con người, mà cái trật tự tự nhiên là con cái phải yêu thương và thảo kính cha mẹ, người nhỏ tuổi phải biết kính nhường người lớn tuổi, trẻ em phải biết lễ phép, mọi người đều phải biết tôn trọng lẫn nhau...

Tôi đă thấy một linh mục trẻ nói với giáo dân đáng tuổi của bố ḿnh rằng : “Ông là đứa ngu, không biết ǵ cả”. Ông giáo dân tội nghiệp ấy “ngu” cũng phải v́ ông đâu có học phụng vụ như cha sở để thành thạo giúp lễ cho ngài.

Chúa Giêsu đă nghiêm khắc cảnh cáo chúng ta : “Ai mắng anh em ḿnh là đồ ngốc, th́ đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng”[2], lời này của Chúa Giêsu không một ai được miễn trừ, không một ai được viện cớ chức này chức nọ mà mắng anh em chị em là đồ ngu, bởi v́ tất cả mọi người đều b́nh đẳng nhau trước mặt Thiên Chúa.

Linh mục là người cần phải có thái độ kính trọng những người lớn tuổi hơn ḿnh, bất luận họ là giáo dân hay người ngoại giáo, tuổi đời của họ cũng đều đáng để cho chúng ta kính trọng; linh mục không kính trọng người lớn tuổi th́ không thể dạy giáo dân ḿnh thảo kính cha mẹ; linh mục không tôn trọng người già th́ đừng mong giáo xứ của ḿnh có tôn ti trật tự.

Một linh mục biết kính trên nhường dưới là một linh mục rất dễ dàng thân cận với giáo dân của ḿnh, bởi v́ nơi ngài người ta thấy được chức linh mục cao quư chứ không thấy con người phàm tục của các ngài, trái lại một linh mục luôn xấc láo với người già cả, kẻ cả với người trang lứa th́ người ta sẽ không nh́n thấy chức linh mục nơi các ngài, nhưng người ta sẽ nh́n thấy ngài là con người với những thói xấu sân si nơi các ngài.

Kính trọng người già cả c̣n là hợp với đạo lư của người Việt Nam chúng ta kính lăo đắc thọ, thọ đây có thể là sống lâu ở đời này cũng như được hưởng phúc trường sinh mai sau trên thiên đàng với Thiên Chúa. Là nhà mô phạm, các linh mục luôn tự nói với ḿnh rằng : tôi sẽ là tấm gương sáng cho giáo dân noi theo trong việc kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân, do đó mà người linh mục luôn trở thành ngọn đèn sáng hướng dẫn giáo dân của ḿnh đi theo con đường của Phúc Âm của Chúa Giêsu dạy.

Kính trọng người già cả là biểu lộ một tâm hồn khiêm cung nơi các linh mục, yêu mến và thân t́nh với họ chính là việc làm chính đáng của người môn đệ Chúa Giêsu, cho nên sẽ rất phản giáo dục và trái với đạo đức nếu chúng ta –các linh mục trẻ- coi thường và khinh dể các vị cao niên trong cộng đoàn giáo xứ của ḿnh.

 

2. Giới trẻ

a. Hoà đồng và sống tự nhiên

Trong giáo xứ dù cha sở có lập đoàn thể thanh thiếu niên hay không, th́ giáo xứ vẫn có các bạn trẻ ấy, đó là một thực tại không chối bỏ, do đó, để cho các bạn trẻ trong giáo xứ cảm thấy cha sở trẻ trung của ḿnh rất gần gũi thân thương, th́ việc trước tiên của linh mục là hoà đồng vui vẻ với các bạn trẻ của ḿnh.

Tuy nhiên “Hoà đồng mà gượng ép th́ khó coi, tự nhiên mà sỗ sàng th́ sinh ra gương xấu”[3]- đây là một thực tế mà có một vài linh mục trẻ không để ư, chính v́ khi hoà đồng với các bạn trẻ là chúng ta thấy được sức sống của Giáo Hội Chúa Kitô nơi họ, do đó, và v́ để cho các bạn trẻ có ấn tượng về ḿnh, nên có một vài linh mục trẻ có những hành động khó coi và những lời nói không phù hợp với thiên chức linh mục và mục tử của ḿnh, do đó mà sinh ra gương xấu hoặc là phản tác dụng giáo dục Kitô giáo.

Tôi được chứng kiến có một linh mục trẻ nọ, được cha sở giao trách nhiệm giúp ngài chấn chỉnh và hướng dẫn các bạn trẻ thanh niên trong giáo xứ, quan niệm của vị linh mục trẻ này là phải hoà đồng với các bạn trẻ, cho nên mỗi chiều chủ nhật ngài tập họp các bạn trẻ lại được khoảng 5, 6 người, khi th́ ở một nhà giáo dân mà ngài rất thường lui tới, khi th́ tại pḥng riêng của ngài với một...can rượu trắng hai mươi lít và uống với họ, các bạn trẻ thấy cha “chịu chơi” nên cũng uống gần hết can rượu, kết quả là cha trẻ say xỉn, các bạn trẻ có men rượu ăn nói lung tung không c̣n lễ phép lịch sự với cha trẻ nữa, và các bạn ra về nói nhỏ to lần sau không đến nữa...

Nhưng cái hậu quả to lớn nhất của việc hoà đồng này là : sau đó vị linh mục này về nhà thờ dâng lễ chiều chủ nhật mắt đỏ kè, giọng lè nhè và và dáng đi xiêu vẹo trên bàn thờ khi cử hành thánh lễ, làm cho giáo dân ngao ngán và chửi rủa ông cha trẻ này là : ông cha mất nết !

Hoà đồng không có nghĩa là phải làm như các bạn trẻ, nhưng phải đem cái tinh thần trẻ trung của ḿnh đi với giới trẻ, hướng dẫn họ đến với Chúa Giêsu Kitô là chính Đấng làm cho sự hoà đồng của linh mục với giáo dân được kết trái là nơi nhà thờ càng ngày càng đông các bạn trẻ, và họ sống tốt lành như vị linh hướng trẻ trung của họ vậy. Có rất nhiều cách để chúng ta thu hút các bạn trẻ, mà cách thu hút có hiệu quả lâu dài nhất chính là đời sống gương mẫu và trung thực của chúng ta.

Thái độ tự nhiên khi hành xử của một linh mục rất là dễ thương và đầy “quyến rủ”, quyến rủ đây không phải như nam nữ quyến rủ trong t́nh yêu, nhưng chính là sự đơn sơ của các ngài đă làm cho giáo dân không c̣n cảm thấy xa lạ với các linh mục của ḿnh nữa.

Tuy nhiên, có một vài linh mục có thái độ rất tự nhiên với mọi người, nhưng cái tự nhiên này sẽ biến thái khi các ngài quá tự nhiên với các thanh nữ cũng như với các phụ nữ, dù ǵ chăng nữa th́ hành động tự nhiên đó cũng sẽ là việc “không thuận mắt” với giáo dân, dù cho các ngài ở nước ngoài hay ở trong nứơc th́ các ngài cũng vẫn là người Việt Nam, thái độ quá tự nhiên “ôm hôn thắm thiết” th́ chắc chắn không phải là thái độ của người linh mục, nhất là khi dùng thái độ ấy để đối xử với các thiếu nữ và các phụ nữ, với các bạn trẻ nữ th́ càng phải tế nhị hơn thế nữa, “tự nhiên mà sỗ sàng th́ sinh ra gương xấu” là ở đó.

Thái độ tự nhiên không kiểu cách của một linh mục là : thấy người lớn tuổi bằng cha ông ḿnh th́ xưng hô như ḿnh xưng hô với cha ông của ḿnh, thấy người đáng anh chị ḿnh th́ xưng hô như anh chị ḿnh, thấy người đáng em trai em gái của ḿnh th́ đối xử như em trai em gái của ḿnh, làm được như thế th́ các linh mục có hai cái lợi : một là xoá khoảng cách giữa ḿnh với giáo dân, làm cho họ thấy linh mục của ḿnh là người dễ mến; hai là tập cho ḿnh đức khiêm tốn với hết mọi người.

Có nhiều linh mục nói rằng phải xưng cha con với mọi người là để giáo dân khỏi lờn mặt ! Suy nghĩ như thế th́ quả là chúng ta coi thường giáo dân của ḿnh, bởi v́ lờn mặt hay không không hệ tại cách xưng hô, nhưng chính là hệ tại hành vi thái độ của linh mục đối với giáo dân có diễn tả được t́nh yêu của Chúa Giêsu hay không mà thôi.

Các bạn trẻ thời nay sống rất tự nhiên th́ linh mục càng phải nghiêm trang, nghiêm trang không có nghĩa là bặm môi trợn mắt hoặc là đứng xa xa mà nói chuyện với họ, hoặc là thường trách cứ lời nói hay thái độ của các bạn trẻ, nhưng nghiêm trang chính là lời nói thái độ của ḿnh chừng mực hợp với tư cách của một linh mục, một mục tử và là một người bạn lớn của các bạn trẻ.

Hăy mời gọi các bạn trẻ nên gia nhập vào một đoàn thể nào đó trong giáo xứ, chẳng hạn như Thiếu Nhi Thánh Thể, đoàn Hướng Đạo, ban lễ sinh.v.v... để được huấn luyện có hệ thống, và khi đă vào các đoàn thể rồi th́ không c̣n chuyện mỗi lần họp là mỗi can rượu. Nơi các đoàn thể này, nếu không v́ bận mục vụ chung, th́ các linh mục trẻ nên đến tham gia với họ như khi đi dă trại hoặc các khóa huấn luyện, bởi v́ sự hiện diện của cha sở (cha phó) trong ngày trại là một sự phấn khởi và niềm vui của các bạn trẻ.

Có một vài linh mục trẻ khi đi trại với các bạn trẻ th́ cứ đạo mạo như ông cụ non, không dám xếp hàng sinh hoạt ṿng tṛn với các bạn trẻ v́ sợ dơ áo quần, hoặc đến ngó ngó chỉ chỉ rồi đi về, đến cho có lệ...

 

b. Giới trẻ và tri thức

Khoa học ngày càng phát triển, tri thức rất cần thiết cho mọi người, và nhất là các linh mục là những người lănh đạo giáo dân, và lớp trẻ th́ ngày càng thông minh và hiểu biết hơn nhiều, do đó mà các linh mục trẻ cần phải biết tế nhị trong hạn chế của ḿnh, dù rằng các bạn trẻ rất kính trọng các linh mục của ḿnh nhưng không phải v́ thế mà các linh mục trẻ coi thường họ.

Giới trẻ ngày nay có rất nhiều việc phải lo phải làm hơn một cha phó ở giáo xứ, đó là chuyện có thật mà chúng ta cần phải nhạy bén trong việc huấn luyện và giáo huấn : các bạn trẻ phải lo học mà giờ học của họ thi dày đặc cả tuần, rảnh rỗi là họ đi thư viện hoặc đi học thêm, v́ thế mà họ rất ít có thời giờ để đến nhà thờ sinh hoạt. V́ thế mà các linh mục trẻ phải làm thế nào để khi quy tụ lớp trẻ lại th́ làm cho họ thấy ḿnh là một người cha, người bạn, người anh rất biết thông cảm và sẵn sàng chia sẻ với họ về các vấn đề tâm linh cũng như những vấn đề khác.

Nhu cầu hiểu biết của giới trẻ ngày càng nhiều, tŕnh độ của họ ngày càng cao, cách sống của họ ngày càng phức tạp, mà nếu không có kiến thức căn bản th́ không thể lănh đạo và thu hút họ được.

Có một vài linh mục trẻ cứ nghĩ rằng ḿnh đă “đỗ” chức linh mục rồi nên không cần đọc sách đọc vở ǵ nữa, có đọc chăng là hể gần đến ngày chủ nhật th́ lấy sách lễ ra coi Phúc Âm và chuẩn bị bài giảng rồi th́ chấm hết, c̣n biết bao nhiêu là thời gian rảnh rỗi mà các ngài không đọc sách đọc báo, không sưu tầm tài liệu, không coi một quyển sách để mở thêm kiến thức của ḿnh. Các bạn trẻ sẽ thích đến nhà thờ hơn khi các cha sở biết thông cảm và hiểu được những bức xúc của họ, để an ủi và hướng dẫn họ đi theo lư tưởng của mỗi người mà không đánh mất đức tin của ḿnh, đó chính là điều mà mỗi linh mục đều hiểu rơ ràng hơn những người khác.

Linh mục không phải là quyển tự điển bách khoa cái ǵ cũng biết, nhưng các ngài có thể nói cho các bạn trẻ những vấn đề thời sự của ngày hôm nay đang xảy ra ở trong nước cũng như ở ngoại quốc, các ngài cũng có thể bàn luận với các bạn trẻ về vấn đề cái lợi và cái hại của internet đang xảy ra đối với các bạn trẻ... Đó là những việc mà chỉ cần các linh mục trẻ chịu khó mỗi ngày “để mắt” đến vài tờ báo khoa học, hoặc vài tờ báo thời sự th́ biết ngay chứ khó khăn ǵ đâu.

Các bạn trẻ trong giáo xứ có người th́ đang học phổ thông, có người đang học đại học, có người tốt nghiệp đại học, và có người đang làm thầy giáo, bác sĩ, kỷ sư.v.v... cho nên các linh mục trẻ cần phải trang bị cho ḿnh vốn liếng kiến thức, mà kiến thức hay nhất chính là các ngài sống gương mẫu phù hợp với lời giảng của các ngài, điều này làm cho các bạn trẻ thích thú và hănh diện về các linh mục của ḿnh.

Thiên Chúa không chọn linh mục để các ngài hạch sách nạt nộ giáo dân, Ngài cũng không chọn linh mục để khinh dể người nghèo, nhưng Thiên Chúa chọn linh mục để thay mặt Ngài dạy dỗ và hướng dẫn giáo dân đi trên con đường trọn lành đến với Ngài, và nhất là các ngài giới thiệu khuôn mặt hiền hậu của Chúa Giêsu cho mọi người. Giới trẻ cũng là thành phần của dân Thiên Chúa, tức là dân được tuyển chọn bởi bí tích Rửa Tội, nên giới trẻ cũng đáng được Giáo Hội coi trọng, và như thế, các linh mục cũng phải coi trọng các bạn trẻ, đừng bao giờ nghĩ rằng chúng nó –các bạn trẻ- là con nít, là thành phần hạng thứ trong giáo xứ, nhưng phải yêu thương và nâng đỡ các bạn trẻ khi họ cần lời khuyên bảo của các ngài, giúp cho họ thấy rằng được làm người Kitô hữu th́ hạnh phúc vô cùng, và chỉ cho họ thấy rằng, Giáo Hội đang cần đến họ cộng tác để Nước Trời được rộng mở ở trần gian này và viên măn trên trời mai sau.

 

3. Thiếu nhi

Một kinh nghiệm nho nhỏ xin chia sẻ với các linh mục trẻ về công tác thiếu nhi trong giáo xứ của ḿnh.

Các em thiếu nhi là mầm non của Giáo Hội, là những đoá hoa làm cho giáo xứ rộn ră tiếng vui cười và sinh động hẳn lên, nhất là vào những ngày chủ nhật khi các em đến nhà thờ để theo học các lớp giáo lư của ḿnh.

 

a. Các lớp giáo lư.

Hồi tôi c̣n giúp xứ ở một nhà thờ tại Saigon, trong giáo xứ chỉ có cha sở và tôi làm hết mọi công việc, v́ nhà thờ nghèo, giáo dân cũng nghèo mà đa phần là dân vùng kinh tế mới trở về, tệ nạn là số một của Saig̣n nên việc dạy giáo lư cho các em là một vấn đề lớn, quy tụ các em lại th́ càng khó hơn, bởi v́ không có sân chơi, không có các điều kiện để các em sinh hoạt, nhưng cha sở vẫn cứ tin tưởng mà giao cho tôi dạy tất cả các lớp giáo lư từ lớp giáo lư vỡ ḷng cho đến lớp giáo lư hôn nhân, tôi đều phụ trách, sau này các em lớn đă trở thành giáo lư viên phụ giúp tôi dạy các lớp nhỏ, tôi vẫn c̣n nhớ cha sở đă nói với tôi như thế này : “Có hai lớp giáo lư quan trọng nhất mà thầy phải đích thân dạy, đó là lớp giáo lư vỡ ḷng và lớp “giáo lư bao đồng”, bởi v́ lớp vỡ ḷng là các em bắt đầu làm quen với Chúa Giêsu và giáo huấn của Ngài, lớp bao đồng là v́ các em đă lớn dễ dàng bị cám dỗ với những thói xấu của xă hội, nên thầy phải đích thân dạy để giúp các em trong hai giai đoạn này”.

Giáo lư cho trẻ em, đó là điều quan trọng bậc nhất của cha sở; giáo lư cho trẻ em, đó là ch́a khoá mở tâm hồn trong sáng của các em đón nhận Chúa Thánh Thần, cho nên cha sở đừng tiếc công tiếc của đầu tư vào các “ngân hàng” rất có ích cho tương lai sau này của xă hội và Giáo Hội . Đừng coi thường việc dạy giáo lư cho trẻ em, nhưng hăy tôn trọng Chúa Thánh Thần đang ở trong tâm hồn của các em, v́ chính Ngài chứ không ai hết, sẽ là Đấng làm cho các em dễ dàng đón nhận những điều mà Chúa Giêsu đă dạy qua Giáo Hội và –quan trọng hơn- qua cha sở và những người cộng tác với ngài trong việc dạy dỗ cho các em.

Mà quả thật như thế, sau này làm linh mục đến giáo xứ nào tôi cũng chú trọng đến hai lớp giáo lư này, dù cho đă có các giáo lư viên, nhưng không phải khoán trắng cho họ, bởi v́ chính họ -các giáo lư viên- cũng không muốn như thế, cái họ muốn là cha sở thường xuyên ghé đến họ ít nữa là một tháng một lần.

 

b. Thánh lễ trẻ em.

Đa phần các linh mục trẻ đều nói : giảng lễ cho tụi nhỏ khó hơn giảng cho người lớn. Đó là một thực tế mà nếu không “khổ tâm” nghiên cứu th́ khó mà thu hút trẻ em để cho chúng đó không xầm x́ tṛ chuyện lúc tham dự thánh lễ.

Thánh lễ cho trẻ em là một vấn đề quan trọng của cha sở, bởi v́ hầu như chúng ta chỉ chú tâm đến những thánh lễ dành cho người lớn mà quên đi, hoặc không chuẩn bị ǵ cho thánh lễ trẻ em, như thế là một thiếu sót lớn không thể chấp nhận được.

Đành rằng chúng ta có đội ngũ giáo lư viên giỏi, đành rằng chúng ta có nhiều phương tiện để giảng dạy Lời Chúa, nhưng chúng ta –cha sở, cha phó- không trực tiếp đứng lớp để dạy giáo lư cho các em thiếu nhi, cho nên chúng ta cần phải lợi dụng thánh lễ trẻ em này, để giáo huấn và truyền đạt những việc cần làm của thiếu nhi trong giáo xứ chúng ta, để thống nhất một chương tŕnh từ người lớn đến trẻ em.

Thánh lễ trẻ em, th́ xin giao hoàn toàn cho các giáo lư viên chuẩn bị, và cha sở chỉ can thiệp khi các giáo lư viên lúng túng trong các lễ nghi hay giáo lư mà thôi, ngoài ra c̣n phải để cho các giáo lư viên hướng dẫn các em, và trong thánh lễ cha chủ tế đừng làm ǵ ngoài chương tŕnh mà các giáo lư viên đă chuẩn bị, cũng đừng “cắc cớ” hỏi các em về những ǵ mà các em chưa học hay chưa biết, bởi v́ như thế là làm “bẻ mặt” các giáo lư viên và hạ giá các giáo lư viên trước mặt các em. Cứ hồn nhiên đưa ra những câu hỏi mà các em đă thuộc và đă biết để hướng dẫn các em thực hành trong cuộc sống, đó chính là điều cần thiết hơn là đem kiến thức thần học của linh mục ra hỏi trẻ em...

Tôi đă thấy một linh mục trẻ nọ (học chưa xong chương tŕnh nhưng được chịu chức chui) được cha sở của tôi mời phụ trách dâng thánh lễ cho trẻ em mỗi chủ nhật lúc tám giờ sáng, khi giảng th́ ngài khoe với các em rằng ngài học rất giỏi biết ba thứ ngoại ngữ, nào là tiếng La Tin, tiếng Pháp và tiếng Anh, rồi sau đó th́ chọc cho các em cười mà không nghe ngài nói ǵ về nội dung của bài Phúc Âm hoặc đưa các em đi vào nội dung của thánh lễ...

Giảng cho trẻ em không phải là việc dễ làm, cho nên nếu thấy ḿnh không thích hợp với các em th́ cha sở (cha phó) nên mời một linh mục khác có năng khiếu giảng cho trẻ em đến dâng lễ, đừng để thánh lễ trẻ em thành một lớp thần học hay một buổi cầu nguyện theo kiểu của các tu sĩ... bởi v́ như thế các em sẽ không phấn khởi tham dự thánh lễ của các em.

Theo kinh ngiệm của tôi, các linh mục trẻ (tốt nhất là lúc đang c̣n học trong chủng viện) nên tham dự các khoá huấn luyện của hướng đạo sinh, các khoá huấn luyện về sinh hoạt trong các đoàn thể như Thiếu Nhi Thánh Thể.v.v... th́ các ngài sẽ gặt được nhiều thành quả trong cách sinh hoạt với thanh thiếu niên, và như thế thánh lễ thiếu nhi sẽ sinh động và thu hút các em hơn.

Một kinh nghiệm nho nhỏ nữa xin chia sẻ với các linh mục trẻ là đối với các em đừng bao giờ chấp tay sau lưng trợn mắt nạt nộ các em, đừng bao giờ làm ra vẻ đạo mạo với các em khi chúng nó đang đùa giỡn, nhưng hăy làm cho các em thấy cha sở là người hiền hoà như Chúa Giêsu, yêu thương và chăm lo cho các trẻ em.

Ở Việt Nam chúng ta, có những nơi trẻ em sợ cha sở hơn sợ...ông kẹ, bởi v́ chúng nó thấy cha sở bặm môi bạt tai các thanh thiếu niên, chứ chúng nó chưa thấy cha sở của ḿnh có thái độ thân thiện với trẻ em mà chỉ có nhéo tai và hăm doạ, có em thấy cha sở đi đường kia th́ lo chạy trốn, không phải các em làm sự tội mà trốn, nhưng các em chạy trốn v́ sợ cha sở, dù cái sợ này các em cũng không hiểu tại sao mà sợ. Một ngày nọ, tôi đi đến một nhà thờ lớn để coi người ta trang hoàng như thế nào nơi bàn thờ thánh cả Giuse để bắt chước, khi dắt xe đạp vào trong sân nhà thờ rộng lớn th́ thấy một tốp các em nhỏ khoảng 10, 12 tuổi ôm cặp sách chạy tán loạn, vừa chạy vừa la to : “Ông cha ra đó, ông cha ra đó...” và quả thật tôi nh́n vào th́ thấy cha sở của nhà thờ đang vừa đi vừa chỉ tay về phía các em hăm doạ không cho chúng nó vào sân nhà thờ chơi giỡn...

Giáo dục trẻ em th́ có rất nhiều cách, nhưng cách hay nhất vẫn làm là dịu dàng và vui vẻ với các em, các em rất dễ thân thiện nhưng đồng thời cũng khó quên những cái bạt tai và những cái nhéo tai của người lớn không phải là bố mẹ của các em.

 

C. CỬ HÀNH PHỤNG VỤ THÁNH

a. Thánh lễ

- Cử điệu, giọng nói tự nhiên

Linh mục là người được Thiên Chúa tuyển chọn để -qua các ngài- Thiên Chúa tiếp tục chương tŕnh cứu chuộc của Ngài ở trần gian, nhất là việc cử hành thánh lễ và ban các bí tích cho giáo hữu, cho nên vai tṛ của linh mục trong Giáo Hội rất là quan trọng, và quan trọng hơn nữa đối với đời sống tâm linh của giáo dân đó chính là thánh lễ.

Giáo dân đến nhà thờ để tham dự thánh lễ tức là đến để chúc tụng, ngợi khen và cám tạ hồng ân Thiên Chúa đă ban cho họ trong cuộc sống, và với đức tin mà họ đă lănh nhận được, họ tin rằng ơn cứu chuộc đến từ nơi Thánh Giá trên đồi Calvê ngày xưa ấy vẫn đang tiếp tục hiến tế mỗi ngày trên bàn thờ, và qua linh mục, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục hiến tế trên bàn thờ mọi ngày cho đến tận thế.

Cho nên từ cử chỉ động tác cho đến đọc các lời nguyện trên bàn thờ khi cử hành thánh lễ, linh mục chủ tế cần phải ư thức cách trọn vẹn rằng ḿnh đang tiếp tục vai tṛ thánh thiện của Chúa Giêsu ngày xưa trên đồi Golgotha, tức là dâng hiến Chúa Giêsu trên bàn thờ để xin ơn tha tội cho thế gian. V́ thế mà mỗi ngày, các linh mục luôn tự nhắc nhở ḿnh là phải chuẩn bị chu đáo khi dâng thánh lễ, sự nhắc nhở này cần phải thôi thúc hơn trước khi tiến ra bàn thờ cử hành thánh lễ.

Có một vài linh mục trẻ chỉ chú trọng đến bài giảng sao cho chải chuốc đầy ư đầy tứ, và chú ư giọng lưỡi sao cho truyền cảm, mà không để ư đến thái độ cử chỉ của ḿnh trên bàn thánh khi dâng thánh lễ : có vị th́ giang tay rộng hết cở khi đọc lời nguyện, có vị khi đọc lời nguyện hay kinh nguyện Thánh Thể th́ đọc nhanh như sợ ai giành đọc, lại có vị th́ cử điệu y như là...biểu diễn thời trang rất ư là không tự nhiên, đôi lúc làm cho giáo dân cảm thấy khó chịu và lo ra, v́ cha chủ tế cứ uốn giọng sửa tướng trên bàn thờ trước mắt họ.

Thiên Chúa ban cho chúng ta h́nh hài như thế nào th́ cứ thế mà làm sáng danh Ngài, Thiên Chúa ban cho chúng ta dáng đứng tướng đi như thế nào th́ cứ như thế mà làm đẹp ḷng Ngài.

Có một vị linh mục lớn tuổi sau khi cử hành thánh lễ đồng tế đă nói với vị chủ tế là một linh mục trẻ mới chịu chức được một năm như sau : “Khi đọc lời nguyện cha dang hai tay quá rộng che mất hai cha đồng tế đứng hai bên phải trái của cha...”- V́ để “khẳng định” ḿnh là người được học những môn “thần học phụng vụ” mới, nên các linh mục trẻ “thoải mái” pha chế thêm bớt những điều ngoài quy định của Giáo Hội về cử hành thánh lễ : có vị th́ ưa thông báo lúc nào trong thánh lễ th́ thông báo, có vị trước khi đọc lời truyền phép th́ nhắc nhở “đôi điều” giáo lư về Thánh Thể, có vị th́ thánh lễ như là dịp để ḿnh khoe khoang cái hay cái kiến thức uyên bác của ḿnh, mà không chú trọng đến điều cốt lơi để giáo dân đắm ḿnh trong ân sủng của Thiên Chúa, đó là cử điệu đoan trang, giọng nói rơ ràng, thái độ cung kính đầy đức tin và một tâm hồn yêu thương.

Thánh lễ tự nó đă ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của người Kitô hữu do ân sủng của Thiên Chúa ban cho, nhưng thái độ cử chỉ của vị chủ tế cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sự tham dự sốt sắng của giáo dân, bởi v́ ân sủng của Thiên Chúa th́ vô h́nh nhưng cử điệu lời nói của linh mục chủ tế th́ hữu h́nh, cho nên giáo dân sẽ miễn cưỡng đến nhà thờ tham dự thánh lễ với một vị chủ tế mà khi cử hành thánh lễ th́ giống như...thầy pháp vẽ bùa, làm cho nhanh, cho qua chuyện. Mặc dù thâm tâm linh mục có đức tin, hiểu biết sự cao quư của thánh lễ hơn giáo dân rất nhiều, nhưng lại không bày tỏ ra dáng điệu cử chỉ đoan trang thánh thiện khi cử hành thánh lễ th́ cũng là một cớ gây vấp phạm cho giáo dân...

 

- Trên bàn thờ.

Khi đi dự tiệc chúng ta thấy trên bàn được bày biện rất đẹp mắt, lịch sự và trang nhă khiến cho chúng ta vui vui và khen ngợi sự bày biện của nhà hàng.

Cũng vậy, bàn thờ là tượng trưng cho Chúa Giêsu, là nơi để cử hành Thánh Thể, là trung tâm của thánh lễ và nơi quy tụ giáo dân lại, đó là một dấu hiệu hữu h́nh của thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô.

Tôi đă thấy có một vài linh mục trẻ đă làm cha sở, pḥng ngủ của các ngài sang trọng và sạch sẽ hơn pḥng thánh, bàn làm việc của ngài rất trật tự, bàn ăn của ngài th́ sạch sẽ bày biện đẹp mắt hơn bàn thờ dâng lễ nhất là khi có khách. Có những cha sở làm cái bàn thờ rất đắc tiền, bằng đá cẩm thạch hoặc gỗ quư, nhưng trên bàn thờ khi cử hành thánh lễ th́ quá lộn xộn không ngăn nắp trật tự : khăn thánh th́ ố vàng nhăn nhó, chén thánh th́ đă bạc màu, sách lễ th́ quá cũ và gáy sách đă mất, thậm chí có nhiều trang không đọc rơ chữ, khi các ngài chuẩn bị đọc lời truyền phép th́ dĩa thánh chén thánh trên bàn thờ đều để không ngay ngắn trật tự không giống sự ngăn nắp trên bàn ăn của các ngài, thật không xứng đáng là bàn thờ tế lễ Thiên Chúa. Thánh Gioan Maria Vienaney sống rất khó nghèo, nhưng áo lễ của ngài th́ đẹp lộng lẫy, chén thánh dĩa thánh của ngài rất sang trọng, những khăn thánh rất sạch sẽ, bởi v́ ngài ư thức rằng ḿnh đang tế lễ Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất cao sang vô cùng.

Chúng ta chỉ chú trọng đến việc xây nhà thờ thật cao to lộng lẫy, làm bàn thờ thật đắc tiền, nhưng đồ dùng cho việc trực tiếp hiến tế là dĩa thánh, chén thánh, áo lễ, khăn thánh th́ lại coi thường. Có giáo dân nọ than phiền với tôi về việc nhà thờ kia cha sở cái ǵ cũng mua sắm rất đắc tiền, nhưng chén thánh dĩa thánh và khăn thánh th́ quá tồi tệ, cái áo lễ đă bạc màu, áo trắng dài (alba) th́ cáu bẩn lâu ngày không giặt, không biết ngài bỏ tiền đâu cả mà không thay cái mới hơn để dùng cho việc thờ phượng Thiên Chúa ? Giáo dân không tiếc tiền với nhà thờ th́ tại sao cha sở lại tiếc tiền với Thiên Chúa !?

Giáo dân ngày xưa và giáo dân ngày nay khác nhau về tŕnh độ giáo lư, cũng như hiểu biết về thánh lễ hoặc về những việc liên quan đến lễ nghi của Giáo Hội, giáo dân ngày nay bức xúc khi thấy một linh mục dâng thánh lễ không nghiêm trang, cảm thấy buồn ḷng khi nghe một linh mục trẻ măng lên giọng cha chú dạy đời giáo dân, và rất bực ḿnh khi thấy một linh mục trẻ ăn nói xấc láo với giáo dân đáng cha chú của ḿnh. Cho nên khi cử hành thánh lễ -có hay không có giáo dân tham dự- th́ linh mục cần phải nhớ rằng ḿnh đang đứng trước ngai toà Thiên Chúa để cử hành thánh lễ, để nhờ đó mà mọi cử điệu của ngài sẽ luôn là cử điệu của Chúa Giêsu trong nhà tiệc ly và trên đồi Golgotha : khiêm tốn và yêu thương.

Có một vài linh mục trẻ được phái đi làm cha phó, trên mặt c̣n phảng phất nét hào quang và thoả măn của ngày chịu chức, đă hùng hổ tuyên bố trên toà giảng với giáo dân rằng : “Thần học mà cha học là thần học mới, phụng vụ mà cha học là phụng vụ đổi mới”, và thế là mấy em giúp lễ hoặc mấy d́ phước dọn pḥng thánh của nhà thờ phải mệt đứ người v́ cha sở làm lễ th́ đơn giản, c̣n cha phó trẻ làm lễ th́ phải thêm cái này bớt cái kia cho ...phù hợp với phụng vụ mới !?

Thánh lễ là trung tâm của người Kitô hữu, do đó vai tṛ chủ tế của linh mục rất quan trọng, bởi v́ nơi các ngài, Thiên Chúa đă trao quyền tế lễ, để nhân danh Chúa Giêsu và Hội Thánh cử hành hiến tế tạ ơn. Quyền tế lễ này không một ai trên mặt đất này thay thế được, nên vai tṛ của linh mục càng quan trọng gấp bội, và giáo dân v́ đức tin, v́ Giáo Hội, v́ Thiên Chúa mà chấp nhận chúng ta như là những đại diện Chúa Giêsu. Nếu chức tư tế này có thể thay thế -th́ có lẽ- giáo dân sẽ thay một người khác đạo hạnh, khiêm tốn và nhân đức hơn chúng ta nhiều để cử hành thánh lễ cho họ.

Cho nên chúng ta -những linh mục trẻ- đường truyền giáo c̣n dài, cần phải khiêm tốn và luôn trau dồi đức hạnh cũng như trí tuệ của ḿnh mỗi ngày, để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh ấy.

 

b. Cử hành bí tích.

Hồi tôi c̣n giúp xứ, cha sở của tôi đă chỉ cho tôi cách làm bản đồ địa bàn giáo xứ và ghi chú rất cặn kẻ chi tiết tên tuổi, địa chỉ, tên đường, hẽm, số nhà và đánh dấu những kư hiệu thật dễ nhớ, ngài giải thích : “Phải chi tiết như thế, để khi có ai kêu đi xức dầu bệnh nhân th́ hỏi rơ tên và tự ḿnh đi cũng được, khỏi phiền giáo dân”. Và quả thật phương pháp này rất có lợi cho cha sở cũng như cho tôi là thầy giúp xứ biết rơ hơn về giáo dân trong họ đạo...

Giáo dân nhờ các linh mục để lănh nhận các bí tích mà Chúa Giêsu đă lập ra, để chuyển ban ơn cứu độ của Ngài cho họ, cho nên cũng có thể nói cách chắc chắn rằng : làm linh mục là v́ phần rỗi của giáo dân.

Đời sống tâm linh của giáo dân rất cần đến các bí tích chữa lành, cứu sống và kiện khang, đó là bí tích Giải Tội, bí tích Thánh Thể và bí tích Xức Dầu bệnh nhân. Ba bí tích này chỉ có các linh mục mới được cử hành, cho nên chúng ta -các linh mục- cần phải đáp ứng nhu cầu của giáo dân khi họ mong muốn lănh nhận các bí tích này.

Có một vài cha sở từ chối thẳng thừng với giáo dân khi họ gơ cửa xin ngài ngồi toà giải tội ngoài giờ quy định. Tại sao chúng ta từ chối không ban bí tích Giải Tội cho họ chứ, tại sao chúng ta từ chối một tội nhân muốn làm hoà với Thiên Chúa chứ, tại sao chúng ta từ chối đón nhận họ trở về với đời sống mới trong bí tích hoà giải chứ ? Có một vài giáo dân đă nhiều năm không đến toà cáo giải, nay nhờ ơn Thiên Chúa giúp họ ăn năn hối cải trở về với Ngài, nếu chúng ta từ chối ban bí tích hoà giải cho họ, th́ v́ mặc cảm, v́ tức giận, v́ thất vọng họ lại sa ngă trong tội th́ sao ? Càng suy nghĩ tôi càng thấy sợ hăi v́ vai tṛ của linh mục là chữa lành, là cứu sống, là hoà giải tội nhân với Thiên Chúa, bây giờ lại từ chối người anh em đang cần đến ḿnh để về với Thiên Chúa là cha nhân từ !

Chúng ta là mục tử nhưng chúng ta không học gương Chúa Giêsu đi t́m con chiên lạc trở về, chúng ta là thầy thuốc tâm hồn nhưng chúng ta không học gương Chúa Giêsu là nhân ái và chữa lành bệnh tật trong tâm hồn của giáo dân, giáo dân gọi chúng ta là cha nhưng chúng ta chưa bày tỏ cho họ thấy ḷng quảng đại của người cha như ư Thiên Chúa muốn.

Dù cho giáo xứ có quy định giờ ngồi toà cáo giải, dù cho mỗi ngày chúng ta –linh mục- ngồi toà trước và sau thánh lễ, th́ chúng ta cũng cần phải luôn vui vẻ, sẵn sàng khi có giáo dân đến xin xưng tội ngoài những giờ ấy, bởi v́ những quy định ấy phần nhiều là dành cho giáo dân thường xuyên đi đến nhà thờ hoặc giáo dân nhiệt t́nh, nhưng không phải giáo dân nào cũng đợi đúng giờ mới đi xưng tội, mà trong giáo xứ vẫn c̣n có những giáo dân thánh thiện muốn đi xưng tội ngay sau khi đă ăn năn thống hối tội ḿnh.

Linh mục nghĩa phụ (bố đỡ đầu) của tôi đă dạy tôi rằng : “Sau này thầy làm linh mục th́ đừng bao giờ từ chối giáo dân khi họ đến xin xưng tội hoặc mời đi xức dầu bệnh nhân bất kể giờ giấc nào trong ngày, bởi v́ làm linh mục là để ban bí tích và phục vụ, mà khi giáo dân cần đến ḿnh th́ tại sao lại từ chối, thế th́ làm linh mục để làm ǵ ?

Lời dạy này của ngài vẫn ngày ngày ở trong tâm hồn tôi và càng suy nghĩ th́ càng thấy là thấm thía, cho nên từ đó, khi đă làm linh mục th́ hể nghe chuông điện thoại reo có người mời đi xức dầu hoặc đưa Ḿnh Thánh Chúa cho bệnh nhân, là tôi vội vàng đi ngay dù đang tiếp khách hay làm việc viết lách, hoặc chuông cửa reo có người muốn xưng tội là tôi vội vă xuống ngay nhà thờ với nụ cười trên môi, để cho họ thấy là ḿnh không làm phiền cha sở.

Và đó là bí quyết để giáo dân thích đến toà cáo giải hơn khi họ có vấn đề nan giải với Thiên Chúa và với tha nhân.

Thiên Chúa là t́nh yêu, t́nh yêu này được thể hiện rơ ràng nhất nơi các linh mục nói chung và các cha sở cha phó nói riêng, bởi v́ linh mục là Chúa Kitô thứ hai, nghĩa là nơi các ngài phải có một t́nh thương yêu mọi người, nhất là những người đau yếu linh hồn, như Chúa Giêsu đă tỏ ḷng thương yêu đám đông dân chúng theo Ngài...

Một linh mục trẻ nói với tôi với giọng chưa hết tức tối : “Anh coi, mở mắt là kêu là réo, họ không biết giờ này là em đang đọc kinh sao, xưng tộ́ th́ từ từ, chết liền đâu mà sợ”, tôi cũng thấy một linh mục trẻ đă không mau mắn ngồi toà cho một giáo dân v́ ngài đang bận tiếp khách, đến khi tiễn khách về th́ không thấy người giáo dân ấy nữa, v́ ông ta đợi quá lâu...

Thánh Vinh Sơn dạy rằng : “Đức ái cao hơn mọi việc, bỏ Chúa th́ được Chúa”. Ư nghĩa của câu nói này th́ cha Vincent Lebbe[1] giải thích cho các con cái ngài như sau : “Cầu nguyện là công việc cần thiết nhưng Đức Ái th́ cao hơn, khi các con đang cầu nguyện (đọc kinh phụng vụ, lần hạt Mân Côi...noi tắt là cầu nguyện) mà nếu có người muốn gặp các con để xin giúp đỡ, để xin xưng tội, để bàn việc khẩn cấp.v.v... th́ các con hăy tạm ngưng cầu nguyện nhưng đồng thời nội tâm vẫn kết hợp với Thiên Chúa để đi thi hành bác ái, v́ tha nhân mà phục vụ”[2]. Câu nói đầy tinh thần bác ái này của thánh Vinh Sơn thiết tưởng rất thích hợp cho các cha sở, cha phó và những người làm công tác truyền giáo, bởi v́ khi chúng ta “tạm bỏ Chúa” để thi hành bác ái v́ danh Ngài th́ hiệu quả càng cao, và chúng ta lại được Thiên Chúa không phải nơi kinh nguyện nhung là nơi tha nhân, là những h́nh ảnh sống động của Ngài...

Từ chối người tội lỗi đến xin ḥa giải với Thiên Chúa trong bí tích Giải Tội, là linh mục tự tay ḿnh xô hối nhân xuống hố tội lỗi, và trách nhiệm này các linh mục phải trả lời trước mặt Thiên Chúa trong ngày thẩm phán của Ngài, bởi v́ chính các linh mục là người hiểu rất rơ về t́nh yêu của Thiên Chúa và sự công bằng của Ngài hơn các giáo dân.

 

a. Xin lễ và bổng lễ

Đây là việc tế nhị dù rằng có quy định rơ ràng của Giáo Hội và của đấng bản quyền địa phương, nhưng giáo dân vẫn cảm thấy như có một cái ǵ đó ngăn họ đến với Thiên Chúa khi nói đến số tiền (bổng lễ) mà cha sở quy định cho giáo dân. Giáo dân hiểu rất rơ rằng không thể dùng tiền để mua thánh lễ, v́ đó là phạm thánh và là gương mù để cho những người ghét Giáo Hội có cớ để nói xấu và chỉ trích Giáo Hội của ḿnh.

Cũng v́ chuyện xin lễ và bỗng lễ mà có nhiều giáo dân không đến nhà thờ, và đối với họ việc xin lễ và bổng lễ là một cách giúp đỡ cho Giáo Hội và cha sở của ḿnh sinh sống, không có ǵ phải nói, nhưng cái mà họ không mấy phấn khởi khi đi xin lễ nơi cha sở là v́ cha sở có những quy định mà –đối với họ- giống như mua bán thánh lễ, làm mất đi ư nghĩa cao quư của việc xin lễ.

Tại giáo xứ nọ, giáo dân hầu hết là nghèo khổ chưa ăn bữa trưa đă lo bữa tối, giáo dân phần đông làm nghề nuôi tôm, nhưng gặp lúc thất mùa v́ mưa lụt, lại càng khổ hơn. Có giáo dân ḅn mót được năm mươi ngàn đồng (VN) giữ lại hai chục ngàn để mua gạo cho gia đ́nh, vị giáo dân này đến cha sở để xin lễ giổ giáp năm cho ba ḿnh, cha sở từ chối không nhận tiền lễ ba mươi ngàn đồng, người giáo dân năn nỉ với ngài là nhà hết gạo rồi bán tháo bán đổ mẻ tôm mất mùa được năm chục ngàn, con giữ lại hai chục ngàn để mua gạo cho gia đ́nh, nhưng cha sở đă không động ḷng thương xót đ̣i cho bằng được bổng lễ năm chục ngàn, vị giáo dân nghèo khổ này đành phải về nhà đem nốt hai mươi ngàn đồng bạc để mua gạo ấy đến xin lễ giỗ cho ba của ḿnh...

Tôi được biết là người giáo dân hơn bốn mươi tuổi có hiếu với ba ḿnh này đă rơm rớm nước mắt, v́ thương ba và tủi cho cảnh nghèo của ḿnh, và chắc chắn trong tâm họ sẽ nghĩ không tốt về cha sở của ḿnh.

Giáo luật về bổng lễ Giáo Hội chỉ định rất rơ ràng, nhưng có một vài cha sở đă không làm đúng như luật Giáo Hội dạy. Giáo luật dạy rằng : “Hết sức khuyên nhủ các linh mục hăy dâng lễ theo ư chỉ của các tín hữu, nhất là những người nghèo cả khi không có bổng lễ”[3].

Không một ai nhẫn tâm trước cảnh khốn khó của người khác, huống chi là một linh mục của Chúa Giêsu, làm linh mục không bao giờ đói cả, mà nếu ngài có đói một ngày cũng không sao, hơn là cả gia đ́nh giáo dân phải nhịn đói để xin lễ giỗ cho ba của ḿnh. Tấm ḷng của giáo hữu với cha sở th́ quá lớn nhưng cha sở trên đây tính từng đồng và –nói theo tu đức- ngài đă không có tâm hồn thương xót người nghèo như là một người cha nhân từ và một mục tử chân chính của Chúa Kitô.

Đạo lư của Chúa Giêsu là ở chổ biết yêu thương người thân cận như chính ḿnh, giúp đỡ người nghèo đói là giúp đỡ cho Ngài, điều này các linh mục hiểu rơ hơn bất cứ người nào trên mặt đất này, và sự giúp đỡ yêu thương này các linh mục rất có nhiều cơ hội để thực hiện, cụ thể là vui vẻ dâng lễ cho những giáo dân nghèo không có tiền làm bổng lễ để xin lễ cho người thân của ḿnh.

Có một vài linh mục mà tôi quen biết đă rất hào phóng làm việc bác ái với giáo dân của ḿnh, các ngài không nhận bổng lễ khi giáo dân có đám tang, đám cưới, bởi v́ quan niệm của các ngài là : họ là con chiên của ḿnh, đời người có một lần (đám ma, đám cưới) ḿnh là cha sở phải chia buồn (đám ma) và chia vui (đám cưới) với họ bằng cách dâng lễ và cầu nguyện cho họ, đó là bổn phận của một cha sở... Ôi, tâm t́nh đầy yêu thương giáo dân của các linh mục này đă làm cho tôi suy nghĩ và quyết tâm học theo gương của các ngài khi làm linh mục, và bây giờ tôi đă và đang thực hiện điều ấy : không bao giờ nhận bổng lễ hoặc bất cứ lễ vật nào khác của giáo dân khi có đám cưới hoăc đám tang. Đó cũng là một cách truyền giáo rất thực tế mà chúng ta- các linh mục trẻ- cần phải khai thác với tất cả sự yêu thương.

Có một vài cha sở lại bày ra luật lệ của ḿnh để chất gánh nặng lên vai giáo dân : các ngài ấn định lễ có hát và lễ không có hát với bổng lễ khác nhau, lễ nhiều tiền là làm ngay theo ư người xin, và lễ ít tiền th́ bỏ vào cái ḥm phía trước nhà thờ mỗi tuần cha sở mở ra một lần để làm lễ theo ư họ.

Đành rằng tiền chi phí điện nước, ca đoàn, giúp lễ là phải có (nên công khai danh mục chi phí này để họ biết mà làm theo đó, lâu ngày thành thói quen) nhưng phần bổng lễ dành cho cha sở th́ nên vui vẻ chân t́nh nói với họ rằng người chết là giáo dân của tôi, tôi có bổn phận phải dâng lễ cầu nguyện cho họ nên không nhận bổng lễ, nếu mỗi cha sở biết làm như thế th́ không những ngài có uy tín với giáo dân, lại c̣n là một mục tử tốt lành dưới con mắt họ, bởi v́ không phải ngày nào cũng có người chết cũng như không phải ngày nào cũng có đám cưới mà sợ không có ǵ ăn !

Có một vài cha sở trẻ rất là không tế nhị về điểm này : có vị th́ lên ṭa giảng nói khéo để giáo dân xin lễ, có vị nói thẳng lớn tiếng với giáo dân là không biết giữ đạo v́ không biết xin lễ, lại có vị th́ chỉ trích thẳng mặt với giáo dân có thân nhân ở nước ngoài là keo kiệt v́ họ chỉ xin đúng số tiền quy định.v.v... nếu không tế nhị và nếu không có tâm hồn quảng đại th́ chúng ta –các linh mục- sẽ là người gây chia rẻ trong giáo xứ của ḿnh về việc bổng lễ : người giàu và người nghèo, mà người phân biệt đối xử trước nhất chính là cha sở khi ngài quy định lễ hát, lễ không hát và lễ ít tiền trong giáo xứ của ḿnh.

Giáo dân không có tiền để xin lễ hoặc xin lễ không đúng với số bổng lễ quy định th́ đă sao, bởi v́ không một tiền bạc vật chất nào trên thế gian này có thể mua nổi một thánh lễ Misa, th́ tại sao chúng ta lại đ̣i cho đúng năm mươi ngàn đồng khi gia đ́nh giáo dân ở nhà con cái thiếu ăn ? Nếu không v́ lễ giáp năm của bố ḿnh th́ chắc chắn người giáo dân ấy sẽ không xin lễ với giá không đúng với số tiền đă quy định, nhưng v́ chữ hiếu mà xin lễ và v́ con cái không có cơm ăn mà phải giữ lại gần nửa số tiền đă bán tôm. Chúa Kitô đă chết trên thánh giá để trở nên của lễ toàn thiêu vô giá dâng lên Chúa Cha xin Ngài tha tội cho thế gian, tại sao chúng ta lại kỳ kèo với người giáo dân nghèo của ḿnh cho đúng với số tiền đă quy định chứ ?

Chúng ta là linh mục tức là những mục tử của giáo dân, mà mục tử th́ phải hy sinh –có khi hy sinh tính mạng- để đàn chiên được béo tốt, là đi t́m nơi nào có đồng cỏ tươi tốt để cho chiên ăn chứ không phải bắt chiên mà ăn thịt.

Giáo dân Việt Nam chúng ta có thói quen tốt lành là xin lễ rất nhiều đến nổi có cha sở làm không hết lễ cho một năm, cho nên có những lúc tôi và các anh em linh mục trong ḍng nói đùa với nhau rằng : làm linh mục ở Việt Nam sướng hơn ở ngoại quốc, mà đúng như thế, v́ giáo dân Việt Nam chúng ta rất kính trọng các linh mục, kính trọng quá mức. C̣n giáo dân ở nước ngoài th́ họ vẫn kính trọng linh mục theo cách của họ, họ vẫn yêu thương các linh mục của họ, dù cha sở của họ là người bản địa hay là người ngoại quốc họ đều yêu quư như nhau, nhưng họ ít có thói quen xin lễ như ở Việt Nam, có giáo xứ quanh năm cha sở chỉ làm vài lễ theo ư giáo dân xin, có giáo xứ mỗi tuần cũng có xin lễ vài ba ngày.v.v... cho nên –xét cho cùng- cha sở ở Việt Nam sung sướng hơn làm cha sở ở ngoại quốc nhiều, xét về mặt xin lễ.

Giáo xứ của tôi phụ trách là một giáo xứ có thể nói được là có tổ chức quy mô và dân trí cao của giáo phận, v́ vị trí của giáo xứ gần các trường đại học nổi tiếng nên đa số các giáo sư công giáo đều ở tại giáo xứ của tôi, tri thức v́ tŕnh độ trên đại học và tiến sĩ, thạc sĩ của giáo dân chiếm ¾ giáo xứ, c̣n lại là đang học đại học hoặc trung học. Tri thức là như thế, nhưng giáo lư th́ không thể so với các giáo dân ở Việt Nam chúng ta, và việc xin lễ th́ càng hiếm hơn nữa, bởi v́ họ ít có thói quen xin lễ...

Nói như thế để cho các linh mục trẻ của chúng ta hiểu rằng, ở Việt Nam, nếu một năm các cha sở trẻ làm “miễn phí” một vài lễ th́ chắc chắn là không chết đói so với giáo dân của ḿnh đem năm chục ngàn đến xin lễ mà trong nhà không có ǵ ăn.

Có giáo dân nói với tôi là cha sở của họ rất là phân biệt người nghèo người giàu, bởi v́ thấy người lao động chân lấm tay bùn vào nhà xứ xin gặp cha sở th́ ngài không có thái độ vồn vă chào hỏi, ghi sổ lễ xong là nói : tôi bận. Nhưng nếu có người giàu có trong giáo xứ vào gặp ngài th́ ngài rất vồn vă, tự tay rót nước mời khách và ngồi tṛ chuyện rất lâu.v.v...

Có lẽ cha sở có việc của ngài, và giáo dân nghèo có lẽ mặc cảm với cái nghèo của ḿnh nên nghĩ ra như thế chăng ? Tuy nhiên đây là một thực tế có thật mà giáo dân rỉ tai nhau nói như thế.

Con người ta nhân vô thập toàn, các linh mục cũng thế, nhưng cái mà mỗi người chúng ta cần phải đạt cho đến trong cuộc sống của ḿnh, đó là nên thánh, các linh mục tu sĩ nên thánh trước và kéo theo giáo dân nên thánh với ḿnh, đó là bổn phận và trách nhiệm của người tu hành mà cụ thể là các linh mục, tu sĩ nam nữ. Giáo dân kính trọng các linh mục và các linh mục tu sĩ nam nữ là ở chổ họ luôn luôn nêu gương sáng cho mọi người, mà người Trung Hoa có câu như sau : “dĩ thân tác tắc” nghĩa là lấy ḿnh làm gương, mà muốn “dĩ thân tác tắc” th́ chúng ta nên công khai cuộc sống của ḿnh, công khai cuộc sống của ḿnh là hoà đồng với hết mọi người, giàu cũng như nghèo, là tiếp đón vui vẻ với mọi giáo dân không phân biệt một ai, bất luận họ đến nhà xứ với lư do ǵ th́ cũng đều coi họ như người trong gia đ́nh : thân t́nh tự nhiên mà không kiểu cách đạo mạo như ông chủ...

Hăy nói nguyên tắc làm việc của ḿnh cho rơ ràng với giáo dân, bởi v́ nguyên tắc nào cũng phải làm cho giáo dân càng ngày càng đến gần Thiên Chúa hơn, cho nên chẳng c̣n ǵ vui thích bằng khi giáo dân nói cho nhau nghe : cứ tới cha sở đi, đừng ngại ǵ cả, v́ ngài rất b́nh dân hoà đồng và sẵn sàng ngổi toà giải tội lúc nào cũng được. Chúng ta đừng sợ giáo dân quấy rầy ḿnh, bởi v́ họ rất tôn trọng các linh mục, nếu họ có đến th́ chỉ có những dịp này : xin xưng tội, hôn phối, an táng và đem quà đến chia sẻ với cha sở của ḿnh mà thôi, không một giáo dân nào ngày ngày đều đến nhà cha sở tṛ chuyện, cũng không có giáo nào quư cha sở đến mức ngày ngày đến hầu chuyện với ngài...

Xin lễ là việc đạo đức thánh thiện và bày tỏ ḷng quảng đại của giáo dân đối với Giáo Hội, cũng như đối với các cha sở và cha phó hay bất cứ linh mục nào của Giáo Hội, nhưng việc xin lễ sẽ mất đi ư nghĩa của nó nếu chúng ta –các linh mục- không đặt t́nh thương yêu trên số tiền xin lễ của giáo dân, bởi v́ của lễ th́ không thể nào quư trọng bằng tâm hồn yêu thương của người xin lễ...

 

D. MỘT NGÀY CỦA LINH MỤC

Đây là kinh nghiệm của cá nhân tôi về một ngày sống của ḿnh, xin chia sẻ với quư linh mục trẻ để có thể giúp cho các ngài được chút ǵ chăng ?

Đời sống của linh mục th́ cũng giống như đời sống của những người khác, cũng là làm việc, ăn uống, ngủ, giải trí, học hành và kinh nguyện, nhưng nói như thế không phải là đời sống của một linh mục hoàn toàn giống như của người khác, bởi v́ linh mục có những công việc của ngài mà không ai có thể làm giùm được, cũng như người khác có công việc của họ mà không ai có thể thay thế được.

Từ sáng sớm ngài đă thức dậy lúc 4, 5 giờ để đọc Kinh Sách và suy tư cho thánh lễ mà ngài chuẩn bị cử hành sáng nay, đây là giây phút yên tĩnh nhất và có thể nói là dễ chịu nhất trong ngày, sau khi tập vài bài thể dục để giữ ǵn sức khỏe, làm vệ sinh cá nhân và nếu được th́ tắm nước lạnh để cho tinh thần sảng khoái, sau đó ngồi vào bàn viết đọc sách, suy tư cho đến khi chuông nhà thờ đổ th́ xuống nhà thờ cùng đọc kinh lần hạt với giáo dân. Ngài sẽ ngồi trong ṭa giải tội để đợi giáo dân đến làm ḥa với Thiên Chúa, nếu không có giáo dân đến xưng tội th́ ngài sẽ ngồi ở đó để đọc kinh, đây là h́nh ảnh đẹp của bức tranh “mục tử nhân lành” của giáo xứ : con cái đọc kinh, cha sở ngồi bên cạnh canh chừng và bảo vệ đoàn chiên của ḿnh bằng bí tích Giải Tội, giáo dân thấy cha sở ngồi trong ṭa, tay đang lần hạt (hoặc đọc sách thiêng liêng) làm cho họ thêm phần an ủi và vui tươi, và họ rất an ḷng vào xưng tội để chuẩn bị tâm hồn tham dự thánh lễ cách sốt sắng...

Giờ lễ Misa đă đến, ngài thật nghiêm trang và thánh thiện tiến ra bàn thờ và mời gọi giáo dân hăy chuẩn bị tâm hồn thật sốt sắng để cử hành mầu nhiệm thánh.

Trong thánh lễ ngài dẫn đưa giáo dân của ḿnh đến bàn tiệc thánh bằng lời giáo huấn đă chuẩn bị hợp với ư lễ ngày hôm đó, và trong bài giảng, ngài chia sẻ cho giáo dân biết những ǵ mà ngài đă cảm nghiệm, đă suy tư và đă sống, để qua ngài, các giáo dân dễ dàng đến với Chúa Kitô hơn.

Thánh lễ xong, ngài quỳ lại hai ba phút để tạ ơn Thiên Chúa v́ những ơn lành mà Thiên Chúa đă ban cho ngài trong thánh lễ, sau đó ngài chuyện tṛ ít phút với giáo dân, hỏi thăm sức khỏe và công ăn việc làm của họ và con cái họ, ai đau yếu cần đưa Ḿnh Thánh Chúa, ai bệnh nặng muốn ngài đến nhà cho giải tội, có ai nằm bệnh viện cần ngài đến an ủi..v... tất cả những hành vi và thái độ ấy được ngài thực hiện với cả tâm hồn yêu mến và chăm lo, chỉ cần vài phút ấy thôi, ngài đă làm cho giáo xứ của ḿnh trở thành một đại gia đ́nh đúng nghĩa yêu thương của nó.

Buổi sáng sau thánh lễ, ngài sẽ tranh thủ vừa điểm tâm vừa đọc báo số ra hằng ngày, hoặc ngài sẽ coi truyền h́nh để biết thêm tin tức trong nước cũng như những tin tức của thế giới. Sau đó ngài chính thức làm việc : đi thăm giáo dân, dạy giáo lư hôn phối, trả lời thư, đọc sách, hoặc làm những việc ǵ khác mà ngài đă lên chương tŕnh cần phải làm trong ngày.

Linh mục trẻ, linh mục đẹp trai, linh mục có tiền, linh mục có địa vị, linh mục có học thức.v.v... tất cả những danh từ ấy người đời gán cho các linh mục, v́ họ thấy đời sống của các linh mục thật cao sang và hưởng thụ hơn người khác, đó là sự thật. Cho nên, nếu trong ngày mà các linh mục không có việc làm th́ sẽ như thế nào ? Thưa, các linh mục sẽ chạy xe đi chơi, đi uống cà phê, đi giải trí, đi đấu láo và đi uống rượu, nếu không là như thế th́ các ngài sẽ coi phim trên video, trên TV hoặc trên internet đến nổi quên cả đi xức dầu cho bệnh nhân, và cuối cùng th́...

 

Các linh mục trẻ thân mến,

Hăy kiếm việc mà làm đừng để cho ḿnh rảnh rỗi, đó là một kinh nghiệm mà các linh mục trẻ thử đi hỏi các vị linh mục đàn anh xem sao, các vị ấy cũng sẽ trả lời như thế : kiếm việc mà làm. Có người sẽ cười việc ǵ mà kiếm ? Th́ tôi xin trả lời là việc của nhà xứ, việc của các đoàn thể, việc của cá nhân linh mục (học hành, đọc sách.v.v...), tóm lại là đừng để cho ḿnh ở không mà không làm ǵ cả, bởi v́ mối thứ bảy trong bảy mối tội đầu là : làm biếng, bởi v́ tất cả các tội, các tệ nạn xă hội cũng đều từ đó mà ra không loại trừ một ai cả...

Tôi vẫn thường cảm nghiệm rằng : nếu một linh mục mà không làm ǵ cả ngoài việc cử hành thánh lễ, các bí tích, đi thăm bệnh nhân.v.v... th́ đời sống tu đức của linh mục ấy sẽ không được triển nở tốt đẹp, bởi v́ không phải ngày nào cũng có người sắp chết để đi xức dầu thánh cho họ, không phải ngày nào cũng đi cho kẻ liệt (người bệnh) rước Ḿnh Thánh Chúa, cũng không phải ngày nào từ sáng đến tối ngồi trong ṭa giải tội, và cũng không phải ngày nào cũng họp hành. Cho nên ngoài những giờ ấy ra, nếu chúng ta –các linh mục- không tự kiếm việc làm th́ chắc chắn sẽ có nhiều điều không tốt xảy ra cho đời sống tu đức và vai tṛ mục tử của chúng ta.

Có linh mục ngoài việc mục vụ ra th́ dùng thời gian rảnh rỗi tự ḿnh sửa điện trong nhà thờ, có linh mục th́ làm thợ mộc đóng vài cái kệ để sách hoặc làm bục giảng rất đẹp, có linh mục th́ viết sách, dịch sách, lại có linh mục th́ dạy học hoặc đi học thêm.v.v... tất cả những việc làm ấy sẽ chiếm khoảng trống thời gian không cần thiết của linh mục, và sẽ là nguồn cảm hứng cảm nghiệm của các ngài trong cuộc sống, để qua suy tư các ngài có đủ chất liệu cần thiết để giảng dạy cho giáo dân của ḿnh...

Tối đến, trong khuôn viên nhà thờ ngài có thể vừa đi vừa lần hạt Mân Côi cũng như để suy tư, sau đó ngài ngồi vào bàn làm việc viết xuống những suy tư của ḿnh đă cảm nghiệm hoặc vừa mới nảy sinh trong ư tưởng của ḿnh.

Buổi tối công việc tạm lắng xuống và khi ngồi trước bàn viết, lắng đọng suy tư th́ dễ cảm nghiệm được ơn Thiên Chúa đă ban cho ḿnh trong một ngày qua. Đây là giây phút hoàn toàn dành cho ḿnh, mọi ư tưởng sẽ như gịng suối chảy ra làm tâm hồn phấn khởi hân hoan. Mặc dù đang yên tĩnh nhưng ngài vẫn sẵn sàng nghe điện thoại khi có người gọi đến mà không bực ḿnh, bởi v́ ngài luôn luôn trong tư thế “sẵn sàng” để đứng dậy và mau mắn đi đến với người hấp hối để xức dầu thánh cho họ, hoặc trả lời những câu hỏi mà giáo dân –qua cú điện thoại- hỏi chúng ta là những cha sở, cha phó về những sinh hoạt trong giáo xứ...

Một ngày của linh mục sẽ chấm dứt khi chuông đồng hồ gơ mười hai giờ đêm, và ngài b́nh an phó thác giấc ngủ trong tay Thiên Chúa đă yêu thương ngài cách đặc biệt.

 

E. LỜI KẾT

Trên đây là những kinh nghiệm mục vụ mà tôi đă áp dụng vào đời sống của một linh mục ḍng đang làm công tác mục vụ ở giáo xứ, dù là linh mục của ḍng tu, nhưng khi làm mục vụ tại giáo xứ th́ cũng đều như các linh mục khác là đem ánh sáng Tin Mừng của Chúa Giêsu đến cho mọi người.

Khi mà xă hội càng ngày càng phát triển, con người ngày càng văn minh tiến bộ và cuộc sống của họ ngày càng mong muốn hưởng thụ vật chất hơn của ăn tinh thần, trong đó cũng có những người Kitô hữu là giáo dân của chúng ta. Họ ngợp mắt trước những thú vui thế gian, họ ngưỡng mộ những minh tinh màn bạc và thích có đời sống hưởng thụ sung sướng, th́ vai tṛ linh mục của chúng ta càng quan trọng hơn nhất là nơi giáo xứ của ḿnh, bởi v́ chính chúng ta là những người có trách nhiệm bảo vệ chân lư đức tin và làm cho nó được phát triển đến với mọi tâm hồn.

Giáo Hội Việt Nam chúng ta rất tự hào v́ có rất nhiều ơn gọi làm linh mục, tu sĩ nam nữ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cấp bách là rao giảng Lời của Thiên Chúa cho mọi người, v́ thế chúng ta –những linh mục- cần thấy rơ vai tṛ của ḿnh hơn để v́ Thiên Chúa v́ Giáo Hội mà hy sinh chính bản thân của ḿnh cho công cuộc truyền giáo ngay trong giáo xứ của ḿnh.

Giáo dân ngày càng trưởng thành trong cách sống đạo th́ chúng ta không thể nói với họ rằng : lời cha (cha sở) là lời của Thiên Chúa khi mà chúng ta đem những điều bất hợp lư đặt lên vai của giáo dân, chúng ta lại càng không thể như một chủ nhân ông chỉ tay năm ngón với thái độ hách dịch khi tiếp xúc với giáo dân, bởi v́ giáo dân ngày nay không như giáo dân của thế kỷ trước, họ sống đức tin giữa đời nhiều hơn là ở trong nhà thờ, họ t́m thấy Thiên Chúa nơi chợ búa hơn là nơi một thánh đường lộng lẫy hùng tráng nhưng cha sở th́ quá hưởng thụ vật chất hơn cả họ.

Truyền giáo tức là đem cái đạo của ḿnh tin ḿnh sống ḿnh thực hành nói cho người khác biết để họ cùng tin cùng làm như ḿnh.

Truyền giáo là bổn phận của những người đă lănh nhận bí tích Rửa Tội, mà trách nhiệm hướng dẫn giáo dân truyền giáo là của các linh mục.

Truyền giáo là diễn lại đời sống yêu thương và hy sinh của Chúa Giêsu ngay trong đời sống của ḿnh.

Truyền giáo ở giáo xứ của ḿnh không đ̣i hỏi phải lặn lội mất ăn mất ngủ mất sức khỏe như đi khai phá thêm những cánh đồng truyền giáo mới, cho nên xét cho cùng, chỉ cần các linh mục có một tinh thần nhiệt thành với công tác mục vụ, một tâm hồn khiêm tốn khi làm mục vụ, một quả tim yêu thương và sự hy sinh khi làm mục vụ th́ có thể biến giáo xứ của chúng ta trở thành một đại gia đ́nh mà trong đó mọi giáo dân biết yêu thương và kính trọng nhau.

Linh mục sẽ là người của mọi người khi ngài biết sống ḥa đồng và lắng nghe, ngài cũng sẽ là người mà giáo dân lấy làm hănh diện v́ ḷng khiêm tốn và sự tận tụy trong công tác mục vụ giữa giáo dân của ngài...

Năm truyền giáo sẽ qua đi nhưng công cuộc truyền giáo sẽ phải vẫn c̣n và tiếp tục cho đến ngày Chúa Giêsu lại đến, và việc truyền giáo đạt kết quả hay không là do chúng ta –các linh mục- cộng tác với ơn thánh của Thiên Chúa ban cho trong bí tích truyền chức thánh, có nghĩa là chúng ta phải tích cực thi hành sứ mạng và sứ vụ mà chúng ta đă lănh nhận từ nơi Giáo Hội để tiếp tục công việc cứu độ của Chúa Kitô cho đến ngày Ngài lại đến.

Bài chia sẻ đến đây là chấm hết, nhưng nó vẫn cứ c̣n tiếp tục trong cuộc sống truyền giáo của chúng ta là những linh mục của Chúa Kitô, mỗi lời nói mỗi việc làm đều phản chiếu lại t́nh thương của Chúa Kitô trên giáo dân của ḿnh, như chính Ngài đă bôn ba lặn lội đi t́m con chiên lạc và chữa lành cho họ.

Lạy Chúa Giêsu Kitô linh mục,

Chúa đă đến trong thế gian để loan báo tin vui Nước Trời,

để đi t́m và chữa lành

để an ủi

những con chiên lạc, những con chiên bệnh hoạn,

khổ đau

và cuối cùng đă chết trên thập giá

với tất cả t́nh yêu và tha thứ

để cứu chuộc nhân loại tội lỗi.

Ngày hôm nay,

Qua chúng con –là những linh mục-

Chúa cũng đang đi t́m và chữa lành, an ủi,

những người con của Chúa đang bôn ba giữa đời:

đang đau khổ v́ không nhà để trú,

đang thất vọng v́ thấy đời quá bất công,

đang buồn phiền v́ bị phân biệt đối xử

đang đói khát v́ không có ǵ ăn...

Họ đang chờ một lời an ủi của chúng con,

đang chờ nụ cười chào hỏi thân t́nh của chúng con,

để thấy lóe lên niềm hy vọng

hy vọng của t́nh người

được thắp lên từ nơi chúng con,

và từ đó

họ nhận ra được dung mạo của Chúa nơi chúng con

là yêu thương, là tha thứ, là phục vụ...

Mọi ngày của linh mục đều là thánh lễ

thánh lễ hi sinh và đền tội,

hi sinh chính ḿnh và đền tội cho tha nhân...

Viết xong ngày 1.10.2004

Lễ thánh Têrêxa Hài Đồng

Taipei-Taiwan

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb