CÁI MƠN  và ...

... CÂY ĐÀO LÍU, CÂY CHIM CHÊ

 

         Có lẻ phải từ năm mươi năm về trước v́ tôi đă ngoài tuổi  nầy mà không chứng kiến chỉ nghe nói.  Đó là  vào thời điểm các nơi chưa có thói quen trồng cây ăn quả, chỉ có Cái Mơn. Chúng ta nhớ lại xem.

Đất Giồng th́ trồng khoai, trồng đậu, có lắm là trồng ít mía để có thức ăn giải khác cho vui. Đất ruộng th́ cuốc khoai lang  để chờ  mưa cấy lúa, sau mùa gặt có thể trồng dưa hấu bán Tết và ít hoa màu gọi chung là đồ giồng như dưa leo, bí đao, củ kiệu, khổ qua, đậu nành, đậu búng  v.v…

 Đất rộng, người thưa. Ruộng đồng c̣ bay thẳng cánh, làng nào cũng có đất hoang và nhiều rừng chồi. Nuôi trâu ḅ thả lan, nghĩa là sau mùa lúa cho chúng tha hồ đi hoang, chẳng màng biết đàn ḅ trâu đang ở đâu. Nhiều đàn ḅ, đàn trâu họp lại thành một bầy ḅ, bầy trâu đông vô kể, tự do luyến ái và sinh con !     

Mùa mưa đến, nhà nông gọi là sau mưa, các chủ chăn bắt đầu tách bầy, gom đàn thú  về chuồng, chuẩn bị cày bừa. Điều hay là không mất, không lẩn lộn thú của chủ nầy với chủ khác. Lúc nầy chủ mởi kiểm soát xem năm nay gia đ́nh được thêm mấy con nghé v.v..

 Đất rộng nhưng không trồng cây, có  theo gương ông bà  th́ trồng vài cây cau, dừa, đám tre, nhà giàu trồng thêm cây xoài, vú sửa. Lư luận của người xưa là trồng cây  biết chừng nào có ăn. Chưa tùng thấy trái cây, nên không tin  cây sẻ cho trái. “ Biết sống tới mai để khoai làm giống” đúng là“thập niên chi kế mạc như thụ mộc”.

Trong hoàn cảnh như thế những lái buôn cây giống người Cái Mơn mặc sức làm mưa làm gió. Chỉ cần chở một ghe cây giống với và́ loại tốt xấu lẩn lộn, thế  nhưng ai hỏi cây ǵ là có giống đó. Chưa có kỷ thuật tháp cây,  chỉ có cây ương hạt, mất nhiều năm và tốn nhiều công sức, không đủ cung cấp. Có vài giống cây có thể gây giống bằng cách chiết cành như sabô, lêkima, mận, cam, chanh, ổi v.v  Cách nầy không cung cấp nhiều giống v́ không đủ cành và hư hao nhiều.

Câu chuyện gạt gẩm tai tiếng để đời là thế nầy. Xứ Cái Mơn có ông tên Điều, tổ sư nói khoát, chuyên nghề đi ghe bán cây giống. Một lấn đắt hàng ông chèo ghe không về sớm. Nhiều người đón hỏi mua cây trồng, không c̣n cây bán ông thấy tiếc quá mới nghỉ ra kế. Ông dừng ghe,  lên bờ sông bứng một số cây mướp sát, lấy bẹ chuối bầu lại tử tế rồi tiếp tục chèo ghe đi bán thử nghiệm. Trên bờ sông có  người gọi:

-         Ông chủ ghe, c̣n cây giống không?

-         C̣n vài cây, muốn trồng th́ tôi ghé.

-         Ông cho xem.

-        Tôi chỉ c̣n có vài cây, ông có trồng th́ lấy, tôi để giá phải chăng. Tôi cũng gấp về đi chuyến khác, kỳ nầy đắt quá.                                                                  

          -       Cây ǵ đây ông?

 

            Ông ngập ngừng chút rồi mạnh dạn trả lời:

            -  Đào líu.

            -  Trái có ngon không?            

            -  C̣n tuỳ, ai dùng  được th́ ngon, ai dùng không được th́ chịu  thua .

          - C̣n có mấy cây ông để cho tôi luôn. Bao nhiêu một cây? Ông Điều muốn ngọng nói không nên lời. Nói láo cho vui th́ được nhưng gạt gẩm lấy tiền ông chưa quen, nhưng đă lở buôn lao th́ phải theo lao. Ông đáp:        -  -    

Đường sông nầy tôi qua lại luôn, quen với bà con nhiều, thôi c̣n mấy cây tặng ông trồng làm kỷ niệm, có thơm thảo ông  cho tôi chút ít gạo, mấm dằn ghe đi đường  là tốt rồi

Hôm khác không đủ cây bán  ông lại t́m mấy cây vẹt vô bầu rồi bán với tên mới:cây chim chê, người ta cũng mua .

Hàng tuần, hằng tháng,ông Điều vẩn bằng yên chèo ghe trên sông bán cây. Nói theo người nhà nông: ngày lụn tháng qua, không nhớ đă mấy năm, nhưng “trời bất dung gian đảng”, cây vẹt và cây mướp sát đều ra trái. Dân chúng bên bờ sông hậm hực chưởi bới ông già nói láo. Bấy giờ đầu câu chuyện trong xóm không phải là miếng  trầu nhưng là cây chim chê, cây đào líu. Người ta cho trẻ con đón ghe ông đề làm cho ra lẻ, có người c̣n nói để làm thịt ông. Ông Điều biết trước việc nầy có ngày sinh chuyện, nhưng trốn đâu bây giờ. Con đường làm ăn, cứ đi, tới đâu tính tới đó.

Và cái ngày không đợi đă đến. Ông b́nh tỉnh chèo ghe giửa sông, thằng bé trông thấy nó thông báo ngay cho hàng xóm:           

            - Bà con ơi! ông già chim chê đến rồi !Cả xóm, già trẻ, lớn bé, nhanh chân chạy ra bờ sông la lớn tiếng.

            - Ông già chim chê, đào líu ghé vô đây có chuyện.

 

Ông dư biết chuyện ǵ rồi nhưng giả bộ ngây thơ, vẩy tay, vui vẻ chào bà con. Họ đâu gọi ông , gọi ông chim chê, đào líu nào đó…Cái vẻ ngây thơ vô tích sự của ông càng làm cho dân trong xóm nóng nảy bực tức hơn. Có tiếng chưởi thề, la ó, vung tay, dậm chân,  thậm chí có người như muốn lội sông kéo ông lên.

Ông vẩn ôn tồn trỏ tay vào ngực hỏi:

 - Gọi tôi phải không?

 

Dân vừa gật đầu vừa la lớn.

           - Đúng rồi, gọi ông đấy.Ông già khéo giả bộ, lên đây rồi biết.

 

Ông nhủ thầm, biết chứ sao không! Ông từ từ chèo ghe vào bờ, vừa tính kế. Phải đậu ghe ở xa bờ một chút, đủ để nói chuyện và  không tên nào có thể nhảy xuống được kẻo sinh chuyện lôi thôi. Thế là cách bờ độ mươi mét ông cấm sào nói chuyện. Dân chúng thúc giục:

-  Nào ông già cho ghe vào bờ rồi lên nói chuyện phải trái.

            -  Chuyện ǵ mà phải trái dử vậy, qua mới đi đến đây chưa buôn bán ǵ cả.

            -  Cây đào líu và cây chim chê chớ chuyện ǵ. Chẳng ngờ ông gian xảo quá

            -  Thế cây chim chê đă ra trái rồi phài không?

            -  Cây vẹt sao ông lại gạt chúng tôi là cây chim chê ?

            -  Th́ mấy người hái cho chim thử coi nó ăn không? Chim không ăn là chim chê. Tôi nói láo mấy người chổ nào?

-  C̣n cây đào líu th́ sao? Nói cho hết đi ông già ba xạo.

            - Bà con đă biết và gọi tên tôi là ông Điều. Đào líu tức là Điều láo.Tôi đă tự nhận  tôi nói láo sao bà con tin, lổi ở bà con hay ở tôi?

 

Có nhiều tiếng th́ thầm thất vọng trên những gương măt c̣n đầy bực tức.Cũng có người mĩm cười kín đáo. Một người cao niên ra vẻ kẻ cả:

           - Thôi chúng tôi chịu thua ông. Ông là người Cái Mơn, trên chợ dưới  sông, nói năng chúng tôi làm sao sánh được. Nhưng tôi biết có trái ǵ chê chê, ngon lắm.

           - Đó là trái sa bô chê, không phải trái chim chê!

 

            Những người ở ven sông thua ông Điều, nhưng họ không oán giận. Người Đồng Bằng Sông Cữu Long đơn sơ, dể tánh là vậy.

Ông Điều thở phào nhẹ nhỏm nhưng vẩn chưa dám lên bờ mặc dầu có người mời. Ông cám ơn, lui ghe và hẹn hôm khác.

    

 Lời bàn: Có lẻ đây là câu chuyện của một người Cái Mơn nào đó bịa ra để chọc quê ông Điều trong lúc trà dư tửu hậu. Chuyện đời đâu có quá dể dàng như vậy. Nhưng vô t́nh câu chuyện tiếu lâm nầy để lại cho Cái Mơn vết sẹo khó tẩy.

Không sao, anh hùng nào mà không mang thẹo : thẹo v́ chiến đấu, v́ tập vơ, v́ tai nạn. Rắc rối của cuộc đời là dân du đảng thường mang thẹo, biết đâu mà đánh giá. Thôi th́ cứ b́nh tinh nhận xét và chậm phán đoán.

            : trồng cây th́ có kế hoạch. Đề ra đươc kế hoach lâu dài chừng nào th́ trinh độ văn minh khoa học cao chừng đó. Người Cái Mơn đă sớm biết sống có kế hoạch khi bắt đầu trồng cây: điểm son của Cái Mơn. Văn minh công giáo đă được các linh mục thừa sai vung trồn rất sớm.