Kiểng Thế Nam Bộ
Hai Quang sưu tập
Dù Hội thảo kiểng cổ Nam Bộ được tổ chức tại Cần Thơ do Hội Hoa Lan Cây Cảnh Tỉnh Cần Thơ – Trường Đại học nông nghiệp Cần thơ và Hội Hoa Lan cây cảnh TPHCM – Trường Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM đă thống nhất tên gọi kiểng cổ Nam Bộ cho loại h́nh nghệ thuật độc đáo này của Miền Nam. Nhưng vẫn c̣n vài cá nhân muốn bàn thêm.
T́m hiểu về kiểng xưa, chúng ta nhận thấy rằng chúng rất đa dạng về kiểu h́nh. Tùy theo quan niệm thẩm mỹ, tùy theo từng địa phương mà kiểu h́nh của kiểng xưa có nhiều biến thức khác nhau. Cây kiểng mỗi nơi mang một phong cách riêng và mang nét đặc trưng riêng biệt.
Sự phong phú đa dạng này làm giàu thêm sắc thái nghệ thuật của cây kiểng Việt Nam.
Các tiền nhân của chúng ta, khi tạo h́nh cây kiểng thường gửi gắm những ư tưởng, t́nh cảm của ḿnh vào thế cây. Thông thường, kiểng thế được tạo nên dựa theo các điển tích như (Thất hiền… ) hay tạo ra các vật linh như (Long, Lân, Qui, Phụng… ) hoặc thể hiện những triết lư trong quan hệ xă hội và gia đ́nh như (Tam đa, ngũ phúc…). Riêng cây kiểng được sửa theo lối chiết chi nhị diện, thế tam cang, ngũ thường – thế tam ṭng, tứ đức là một dạng thức rất đặc trưng cho Nam Bộ, không nơi nào có loại h́nh này.
Để hiểu sâu hơn về vấn đề này, chúng ta nên nghiên cứu lại lịch sử quá tŕnh phát triển của Nam Bộ, để thấy rằng trong bối cảnh lịch sử đó đă nảy sinh ra sự sáng tạo, trong việc tạo ra thế kiểng đặc trưng – Cũng giống như sự h́nh thành cải lương ở Nam bộ.
Có thể, kể từ khi Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh đưa người vào phương Nam lập nghiệp. Trong đoàn lưu dân vào Nam khởi nghiệp này, rất phức tạp về thành phần. Có thể do được triều đ́nh chiêu mộ, bị lưu đày biệt xứ… và trong đó cũng có một số ḍng họ, hào sĩ có đầy đủ khả năng về vật lực, nhân lực. Nhưng do chán ghét cảnh tham quan, hủ bại; cực đoan của triều đ́nh nhà Nguyễn mà họ bỏ xứ đàng ngoài vào Nam lập nghiệp.
Nguyên nhân này, đă tác động rất lớn đến tâm tư, t́nh cảm của họ về sau này, khi họ đă xây dựng được sự nghiệp ở vùng đất mới. Họ muốn bộc lộ rơ nhân sinh quan của ḿnh, thể hiện các giá trị đạo đức… cho mọi người xung quanh, thông qua h́nh tượng của cây kiểng.
Đất phương Nam ph́ nhiêu, cộng với sự cần cù của người dân đàng ngoài, dần dà cuộc sống của họ khởi sắc theo sự phát triển của thời gian. Cuộc sống ngày càng đầy đủ, việc trồng cây kiểng hưởng thú thanh nhàn đă dần định h́nh.
Trong tâm tư, t́nh cảm của người đi khai hoang lập ấp ở đất phương Nam, luôn có một t́nh cảm hướng về quê hương, bổn xứ. Họ muốn minh cgứng cho mọi người thấy rằng: dù lập nghiệp phương xa, nhưng họ không phải là người bỏ chúa, bỏ xứ mà đi; Họ muốn bộc lộ rỏ nhân sinh quan của ḿnh với mopị người rằng; Họ vẫn lả con người có khí tiết, trung thành, chẳng qua chỉ là biến động của lịch sử mà thôi.
Thông qua h́nh ảnh của cây kiểng họ muốn chuyển tải điều này cho mọi người và cho thế hệ sau các giá trị tư tưởng, tinh thần của sĩ phu trong giai đoạn lịch sử đó như: Tam cương ngũ thường đối với người đàn ông; Tam tùng tứ đức đối với phụ nữ. Đây chính là cách xử thế của họ, cũng như mọi người trong điều kiện lịch sử đó.
Với h́nh tượng và ư nghĩa của cặp kiểng trước sân nhà (như cặp câu đối) họ tự răn ḿnh, dạy người, dạy cho thế hệ sau cách xử thế trong bối cảnh lịch sử nhiễu nhương này.
- Có thể, điều này c̣n thể hiện việc chống lại nền văn hóa thực dân bằng các quan điểm sống, bằng truyền thống văn hóa Việt Nam của thời bây giờ. Cần phải giữ vững khí tiết của một người Việt Nam yêu nước, giữ ǵn bản sắc văn hóa của dân tộc, không chịu lai căng.
Có thể, đó là những nguyên nhân dẫn đến sự sáng tạo trong việc tạo ra kiểu thức mới trong nghệ thuật uốn sữa cây thế ở Nam bộ trong thời điểm lịch sử bấy giờ.
* Lâu nay người Nam bộ gọi loại h́nh kiểng này là kiểng cổ, theo tôi nghĩ, mục đích là để dễ dàng phân biệt với loại h́nh Bonsai của Nhật mới du nhập vào Việt Nam những thập niên sau này; với suy nghĩ để chỉ ra sự khác nhau về loại kiểng dân tộc có lịch sử từ lâu đời, với loại h́nh kiểng Bonsai mới du nhập.
Dần dà, theo thời gian tên gọi “ kiểng cổ” đă ăn sâu vào suy nghĩ của giới chơi kiểng. Cho nên khi nói đến từ”kiểng cổ” là đa số người liên tưởng ngay đến cây kiểng chiết chi nhị diện của Nam bộ.
Như thế là chúng ta đă hiểu chưa thật đúng về 2 từ kiểng cổ. Cây kiểng cổ là cây kiểng được trồng và uốn sửa lâu năm, do truyền đời lại. Ở đây kiểng cổ(hay là cổ mộc) có nghĩa bao hàm cho cây thế, bonsai, cây cảnh lâu đời… Từ cổ ở đây là xư, lâu đời, hiếm gặp.
Nếu một cây được sửa có ư kiểng hoặc theo một thế bất kỳ nào đó, nhưng tuổi đời c̣n non, tuổi nghệ thuật chưa cao, tính thời gian chưa bộc lộ rơ trên cơ thể của nó, th́ chưa thể nào được gọi là cây kiểng cổ.
Không phải sửa cây theo lời người xưa đă là kiểng cổ. Đó mới là sửa cây theo thế cổ; c̣n cây kiểng vẫn là cây kiểng thế c̣n non. Cần phải trải qua thời gian rất dài, sự tích lũy của tác động kỹ thuật, nghệ thuật lâu có khi hàng trăm năm mới đạt tới được tên gọi kiểng cổ.
- Xét sâu hơn về phong thái của bộ kiểng chiết chi, chúng ta nhận thấy rằng: về mặt cấu trúc chúng được sửa theo thế phụ tử(tam cang, ngũ thường) hay thế mẫu tử (tam tùng, tứ đức) tượng trưng cho ư nghĩa xử thế của người Nam hay nữ trong giai đoạn lịch sử đó.
Như vậy, cái góc căn bản của nó vẫn là cây được uốn sửa theo cách của cây thế 2 thân (cùng hoặc khác gốc): đó là thế mẫu tử, phụ tử… giống như các loại kiểng thế ở các khu vực khác. Duy chỉ có một điều rất khác biệt về cấu trúc của nó là nhị diện, cành không phân bố đều ra các hướng mà chỉ 2 mặt – và nội hàm của từng cành, đoạn của cây có ư nghĩa dạy người: Tam cang, ngũ thường hay tam tùng, tứ đức.
Đây là lối sửa cành có mục đích rất đặc biệt so với các loại kiểng thế khác. Đó là việc tạo ra được bộ kiểng có thể nhận ra được sự khác lạ từ xa, không thể nhầm lẫn được (có thể liên quan đến các hoạt động liên lạc, nhận ra nhau của các ḍng họ, v́ thời điểm này có một số ḍng họ bị truy lùng phải thay đổi họ; hoặc các hoạt động bí mật… ) như là một ẩn ngữ.
Lối sửa cành như thế tạo ra một bộ kiểng có thể quan sát rơ tất cả các chi tiết và ư nghĩa của cây từ xa, từ hướng chính. Nó được trưng bày như cặp câu đối sống trước sân nhà.
Mặc dù có sự biến thức, khác lạ, so với kiểng thế các khu vực nói chung, nhưng cấu trúc cơ bản vẫn tương đồng với cây kiểng thế phụ tử hay mẫu tử, vẫn là một trong những thế kiểng của kiểng thế nói chung.
V́ lư do đó theo quan điểm của tôi nên thống nhất tên gọi là kiểng thế Nam bộ để tránh sự mù mờ, lẫn lộn ư nghĩa của từ kiểng cổ và kiểng thế. Đây là một nhánh phát triển của loại h́nh cây kiểng thế ở đất phương Nam, góp phần làm tăng thêm sắc màu trong bức tranh nghệ thuật đầy màu sắc của nghệ thuật cây kiểng của cả đất nước. Nó là nét độc đáo trong sự sáng tạo của người phương Nam.
Gần đây, có một số quan điểm cho rằng: đây là loại kiểng chỉ nhằn mục đích củng cố quyền lợi của chế độ phong kiến, chỉ là tàn dư, giá trị tư tưởng không cao. Điều này dẫn đến việc xem nhẹ giá trị của nó đối với các loại h́nh kiểng khác.Tôi cho rằng: một cây kiểng đẹp trước hết phải biểu đạt được cái đẹp của thiên nhiên. Cây thế chỉ là một sản phẩm thuộc phạm vi ư thức, chỉ là sản phẩm duy ư chí của con người. Điều quan trọng không phải là thế kiểng này cao quí hơn thế kiểng nọ, mà chính là hơi thở, cái hồn của tác phẩm tác động vào tâm tư,t́nh cảm con người ta như thế nào.
Chơi cây kiểng giúp cho chúng ta vươn tới chân thiện mỹ, tự chiêm nghiệm về bản thân, cùng với các quan hệ khác trong cuộc sống. Các giá trị ư thức sẽ thay đổi theo thời gian, không nên đem giá trị lịch sử của giai đoạn này so sánh với giai đoạn mới, rồi loại bỏ các giá trị mang tính văn hóa của lịch sử.
Nên bảo tồn, trân trọng cái đẹp của người xưa. Một cây đẹp, giá trị có phải chăng là do cái thế, cái ư tưởng nó mang trên người? Hay do cái vẽ tươi đẹp tự nhiên, cái giá trị nghệ thuật của nó!.
Trước một cây cổ kính, có nghệ thuật cao, ai cũng cảm nhận được cái đẹp, cái đẹp của sự trường tồn dù cho nó được tạo nên từ thế nào đi nữa.
Bài: Thái Văn Thiện