Hai Quang sưu tầm:________________________________
|
♣ Cây sống đời Kalanchoe |
|
|
♣ Trồng hoa từ củ |
|
|
♣ Nguồn gốc cây Mai Nu |
|
| ♣ Đủng Đỉnh |
Nhân giống cây
sống đời Kalanchoe
Hai Quang sưu tập
Cây sống đời thuộc họ Crassulaceae gồm nhiều giống,thông thường nhất là giống Kalanchoe. Cây có lá dài hoặc tròn, cho hoa đẹp nhiều màu sắc: hồng ,vàng và bền. Ngoài ra lá sống đời được dùng trong dân gian để làm thuốc trị bỏng
Kalanchoe dể trồng,thích bóng râm chỉ cần bốn tiếng chiếu sáng.Chúng có biến dưỡng carbon thuộc nhóm CAM.
Chúng sinh sản bằng nhân giống vô tính, tức là lá hay một khúc thân giâm xuống đất tạo được một cây mới. Tuy nhiên có sống đời Hà lan cho hoa đỏ hoặc vàng, bền và đẹp nhưng lại không nhân giống bằng giâm lá được.
Trong thiên nhiên các giống Kalanchoe có thể tạo chồi hay rễ: từ khuyết lá xuất hiện rễ hoặc chồi. Thí dụ: Kalanchoe có lá tròn tên. K.pinnata tạo rễ, còn Kalanchoe mortage có lá dài tạo chồi.
Một giống khác có lá tròn tạm gọi Kalanchoe sp tạo nguyên cả cây con từ khuyết lá, chồi lú ra trước, đến thân rồi sau cùng là rễ, và tất cả cây con rớt xuống đất nơi đó chúng phát triển.
Khi lá K.pinnata chạm đất nơi khuyết lá mọc ra rễ và tiếp tục các phần khác của cây con, sau đó cây con sẽ sống độc lập.
Còn lá dài K. Mortage chạm đất, chồi đã lú ra từ phiến lá tiếp tục tạo thân và rễ để hoàn tất cây con, trước khi cây này sống độc lập.
Nhưng tại sao nơi khuyết lá K. Hà lan không có cơ quan nào được tạo cả?
Không phải kích thước và hình dạng lá Kalanchoe quyết định khả năng sinh sản vô tính của lá, nhưng do cấu trúc giải phẩu của mô lá tại vùng khuyết.
Cắt dọc theo gân lá từ khuyết vào gân chính ta ghi nhận khuyết lá K. Pinnata và K. Mortage được nối liền với gân chính bằng một bó mạch libe, và libe là mạch tận cùng tới khuyết. Còn K. Ha lan thì mạch này kết thúc khoảng 1/3 đường trước khi tới khuyết. Như vậy hiện diện của mạch quyết định tạo rễ hay tạo chồi.
Chúng ta giải thích hiện tượng tạo cơ quan rễ hay chồi như sau:
Tại chót mạch có một nhóm tế bào nhỏ gọi là sinh mô, đường kính bằng nhau, tế bào chất đậm đặc xếp chồng song song nhau hướng về một hướng phân chia được. Nối liền sinh mô với gân chính của lá là một gân phụ dẫn nhựa chuyển từ cuống lá tới khuyết lá. Lá K. Hà lan có mạch nhưng không kéo thẳng tới khuyết và không tiếp tế nhựa cho sinh mô, hiện diện của gân lá tức mạch đưa nhựa tới khuyết lá tạo rễ cho K. Mortage, tạo chồi cho K. Pinnata hay tạo một cây con cho K- sp.
Hiện tượng tạo cơ quan này được chia làm 3 giai đoạn tạo rễ là hiện tượng đơn giản nhất.
Giai đoạn một: Tạo sinh mô gân mạch, libe đã kể trên.
Giai đoạn hai: Tế bào sinh mô phân chia theo chiều hướng và tạo một khối u bán cầu. Chân bán cầu kéo dài theo hình bán kính của u tạo trục trung tâm rễ.
Giai đoạn ba: Các tế bào bao trung tâm phân vách song song với bề mặt của sinh mô bên trong và tạo nhu mô vỏ và biểu bì rễ.
Tóm lại, rễ được tạo ra qua ba giai đoạn: tạo một sinh mô gần bó libe phân chia thành một vùng tượng thể kéo dài; phân hóa thành các mô vỏ, biểu bì và các mạch trong nhu mô vỏ.
Tạo chồi là một hiện tượng cũng gồm ba giai đoạn, nhưng phức tạp hơn.
Giai đoạn một: tạo sinh mô từ tùng mạch libe.
Giai đoạn hai: nhóm sinh mô phân chia thành hai lớp, lớp ngoài tạo bọc chồi, lớp trong tạo lõi và mạch.
Giai đoạn ba: lớp ngoài tạo ra biểu bì và các lá, lớp trong tạo nhu mô, lõi và mạch.
Như vậy cả chồi và rễ xuất hiện là nhờ có mạch libe tận cùng tới khuyết lá.
Vai trò của mạch libe có ý nghĩa gì? Tế bào sinh mô là nơi đồng hóa mạnh, chúng phân chia nên cần thâu thêm protein, hidrat carbon, nước để tạo nguyên sinh chất và vách cho tế bào con. các chất này được chứa trong nhựa luyện do mạch libe tiếp tế. Trong mạch libe còn chứa các chất điều hòa sinh trưởng nội sinh, chất này quyết định hướng và vận tốc phân chia tế bào như:
Auxin điều khiển tăng trưởng tế bào con, hướng di chuyền của tế bào chất.
Gibberellin điều khiển tăng trưởng tế bào già, đặc biệt tế bào lõi.
` Cytokinine quyết định vận tốc phân chia tế bào và vận tốc di chuyển nhựa luyện.
Tùy theo thời điểm và lượng được tổng hợp trong cơ thể cây sống đời thì ta có chồi, rễ hay nguyên cây con được phân lá và xuất hiện nơi khuyết lá.
Nhìn dưới khía cạnh phân tử thì cấu trúc lá, hiên diện gân và phản ứng tổng hợp chất điều hoa sinh trưởng là do gen điều khiển. Nhờ hiểu rỏ sinh lý và giải phẩu của lá sống đời ta mới thấy tầm quan trọng của công nghệ sinh học.
Bài: Gs. Mai Trần Ngọc Tiếng
Trồng hoa từ củ
Hai Quang sưu tầm
Trải qua mùa khô nắng nóng, cỏ cây xơ xác héo tàn. Rừng trở nên thưa đi vì nhiều cây gỗ đã trụi lá trơ cành như chết khô. Không một chồi xanh tồn tại trên mặt đất ngoại trừ lớp lá vàng khô dày đặc. Thế nhưng khi cơn mưa đầu mùa vừa chợt đến thì từ dưới đất đã ló lên vài bông hoa, rồi tiếp đến hàng loạt loài hoa xuất hiện cùng lá xanh mơn mởn.
Tất cả từ dưới đất chui lên nên chúng được gọi là địa thực vật. Chúng có một sự thích nghi để tồn tại qua mùa khô khốc liệt của núi rừng vùng nhiệt đới bằng việc trút bỏ lá, thân trên mặt đất. Sự sống như ngừng nghỉ trong những cơ quan dưới mặt đất.
Đối với vùng lạnh như ở ôn đới hay hàn đới thì cây cỏ trải qua mùa bất lợi không phải do cái nắng hạn của mùa hạ mà là sự giá lạnh của mùa đông băng tuyết. Tất cả các phần trên mặt đất cũng đều bị hủy hoại. Sự sống chuyển vào các cơ quan dự trữ tồn tại dưới mặt đất. Tất cả các cơ quan dự trữ nằm dưới mặt đất ấy dù ở ôn đới hay nhiệt đới đều được chúng ta gọi chung là củ. Thật ra củ rất đa dạng và phức tạp về cấu tạo và hình dạng dù rằng trồng hoa từ củ chẳng đòi hỏi phương pháp gì đặc biệt và sự thành công thường dễ đạt được. Tất cả chỉ có việc đặt củ vào chất trồng và chờ đợi cho nó ra hoa. Vài loại củ không cần đất, chúng có thể sống với nước( như củ thủy tiên). Vài loài lại không cần ngay cả nước. Điều đó rất có thể vì hoa và lá đã hoàn toàn có sẵn trong củ, sẵn sàng mọc lên ngay tức thì một khi đáp ứng những nhu cầu của nó. Khi lá bắt đầu mọc ra thì nhanh cóng có ngay màu xanh diệp lục để thực hiện việc quang hợp bằng việc lấy nước và CO2 trong không khí để tạo ra thực phẩm, bổ sung cho củ. Khi lá bắt đầu mọc lên thì tiến trình tạo lập củ mới cho năm sau được bắt đầu. Nhưng đó mới là một kiểu củ trong khi danh từ củ mà chúng ta dùng có 2 nghĩa. Nghĩa của các nhà thực vật và nghĩa rộng hơn bao gồm nhóm lớn những cây trải qua mùa nghỉ bằng việc dự trữ thực phẩm cho sự phát triển về sau trong những hình dạng phù mập khác nhau của mô thân hay mô rễ.
Phân biệt các cấu trúc khác nhau ấy có thể không cần thiết, điều quan trọng là trồng chúng như thế nào. Nhưng hiểu biết cặn kẽ sẽ giúp thành công trong việc trồng và nhân giống chúng.
Sau đây là một số phân biệt ấy.
Hành( Bulb) là cơ quan có cấu tạo của nhóm đáy lá già bao lấy chồi mầm và lá mới – căn bản của hành là chính chồi dự trữ thực phẩm. Ví dụ như thủy tiên, Tulip. Hành( Allium).
Giả Hành(Pseudobulb) đó là cơ quan thật chớ không phải giả nhưng chỉ dự trữ thực phẩm để thành lập thân. Từ này thường dùng cho cây lan.
Căn hành( Rhizome) là phần thân dự trữ mập nằm ngang mang lá và rễ, lá có thể biến thành vảy, tồn tại hay rụng sớm như trường hợp của Iris ( Diên vĩ), của sen.
Một dạng khác của hành gọi là corm là phần phù mập với 1 hay nhiều chồi, chồi hiếm khi to lớn, chứa nụ hoa và lá. Hành này chết đi sau khi ra hoa và hành mới được thành lập trên nó. Đấy là trường hợp của Layơn.
Thông thường củ là phần phù mập chứa đựng thực phẩm, hình dạng biến thiên.
Cách trồng: Ở thu hải đường thì củ dẹp và to dần từng năm, chồi sinh ra từ đỉnh của củ dẹp ấy. Ở thược dược thì khác, củ có dạng như ngón tay, kích thước và số lượng tăng lên hàng năm với chồi nằm ở phần gốc của thân năm trước.
Đấy là tổng quát cơ quan nằm trong đất mà ta thường gọi chung là củ, có thể sử dụng để nhân giống, trồng cho hoa trong vườn cảnh. Trong các bài sau chúng tôi sẽ nói rõ từng giống loài cụ thể.
Bài : Dũng Thiện
Nguồn gốc cây Mai Nu
Hai Quang sưu tập
Mai nu là loại mai chiếu thủy nhưng thân có những cục u nần lớn có, nhỏ có, rải rác từ dưới lên trên.
Cục u nần có 2 loại: loại u mặt khỉ, có hình thù giống như mặt con khỉ, có mắt mũi và miệng, đôi khi cục u lớn bằng nắm tay em bé. Loại nhỏ như nắm vú mọc đều khắp thân cây.
Những cục u nầng tạo cho thân cây dáng vẻ giả cỗi, nên có giá trị trên thị trường chơi kiểng.
Những ai đã đi qua miền Gò Công đất phèn, nước mặn thường ngạc nhiên khi nhìn thấy có nhiều hộ dân chơi kiểng. Càng đi sâu vào miệt vườn lại càng nhìn thấy nhiều sân kiểng hơn.
Những cặp kiểng này đa số được tạo dáng từ giống mai nu rất đẹp.
Như vây giống mai nu này có nguồn gốc từ đâu?
Câu hỏi này tới nay chưa được giải đáp thỏa đáng.
Theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì giống mai này xuất hiện nhiều vùng Gò Công và đặc biệt tại xã Bình Nhì huyện Gò Công Tây nói riêng.
Lần theo dấu vết chúng tôi được biết giống mai này xuất hiện đầu tiên tại gia đình dòng họ Lê thuộc xã Bình Nhì huyện Gò Công Tây.
Chúng tôi tìm gặp được anh Lê Minh Tâm, 48 tuổi, là nông dân, ngụ tại ấp Thanh Lạc Đông, xã Bình Nhì.
Anh Tâm là con trai nối dòng của gia đình một chi tộc họ Lê tại đây.
Theo lời anh Tâm thì gia tộc anh gốc họ Mai, mà chính anh giờ này cũng không biết lý do tại sao tổ tiên lại đổi thành họ Lê. Quê hương chính là ở miền Trung di dân vào miền Nam lập nghiệp đã lâu đời vào thời xa xưa Gò Công còn là một vùng đất hoang, thuộc Thủy Chân Lạp.
Cũng theo lời anh Tâm, khi rời miền Trung trên đường lưu lạc, gia đình tổ tiên đã lần lượt trụ lại dọc đường một số người con trai. Người thì định cư tại Hóc Môn Bà Điểm, người dừng chân tại Gia Định Bến Nghé, người lại lưu trú tại Đôn Nhơn Bến Tre ( nay là Cái Mơn xã Vỉnh Thành huyện Chợ Lách Bến Tre) . Cuối cùng chỉ còn lại một mẹ và hai người con trai trôi dạt về xứ Gò Công và nhận nơi đây làm quê hương xứ sở.
Hiện một chi họ khác của anh còn bám trụ tại xã Vĩnh Hựu và chị họ của anh thì đóng chốt tại xã Bình Nhì cho tới nay.
Theo lời các bậc tiền bối trong gia đình thì giống mai nu tại nhà anh đang ở đã có từ đời ông sơ của anh, là Lê Văn Dương ( ông này rất giỏi võ và từng là người che chở cho dân vùng này chống lại các loài thú dữ). Ông sơ truyền lại cho một trong những người con là Lê Văn Vui, làm chức Đại Hương cả tức đời ông cố, sau truyền lại cho ông nội là Lê Văn Thành ( sanh 1891) làm Hương Bái.
Kế tới là người cha Lê Văn Vàng tục gọi Tư Kim, tới nay nếu còn sống đã được 84 tuổi.
Cuối cùng ông Tư Kim giao cho người con thứ là Lê Minh Tâm quản lý gia sản của ông cha để lại.
Đủng Đỉnh
Hai Quang sưu tập
Hai bên đường đất từ sau nhà đèn Mỹ Tho dài đến chùa Vĩnh Tràng gần như là rừng đầy duối, ngái, ké bụi và đủng đỉnh thân xám cọng to xanh rì lá chen nhau, tạo cảnh quan tự nhiên vươn nắng. Nhưng cao hơn vẫn là đủng đỉnh đen nhô ngọn giáo đầy lông măng nhuyễn mịn như bẹ cước dừa, bao bọc búp non chỉ thiên thành hai giáo dày đều nhọn, dẩn đường vào chùa như vào nơi lăng tẩm, cung điện mãi đâu đâu xứ người, không là xứ mình. Thật là oai, những ngọn giáo tươi, sống động biết chừng nào.
Quày là cuống cong dẹp chìa ra từ thân nơi mắt, thêm hai mang đều hai phía như vòng đai tròn, tăng thêm độ bám chắc của quày cây họ cau. Quày chia nhiều chuỗi nhành, lớn nhỏ khá đều nhau, phát triển từ màu vàng non đến xanh xám mốc, mang nhiều hoa dài , hình thuôn như hạt thóc, to thêm mãi, nâng lùi tụt dần, tụt dần cái mo nang khi vô duyên khô khóc làm xấu đi quày đang bung xòe sai trái, có khi mo rơi xuống gốc như số phận của những chiếc lá vàng khác theo gió khua xào xạc trên lối cũ. Hoa đậu thành trái, bầu tròn xám xanh to tròn dần dần theo ngày tháng, chi chít chen nhau đến mọng nước, chuyển màu hệt như màu quả nho từ xanh sang vàng sậm rồi nâu sẫm, chuyển tím đậm, trông vô cùng bắt mắt, cứ tưởng ăn được, ăn ngon. Không đâu! Ngứa vô cùng đấy. Quả chín hương đậm tỏa đi xa làm lũ dơi đói bắt mùi bay ra bay vào, rủ nhau đớp trái, xí phần, giành nhau kêu chí chóe, đánh rới quả chín muồi mềm mại, nghe lộp độp trên lá khô, Từng hạt không cón vỏ cỡ ruột quả cau tầm vung nhỏ, tròn từ cái miệng chuột treo ngược của chúng, bởi đã say nồng mồi quả chín ngọt ngào chết tiệt ấy. Quả, hạt rơi xuống đất, hút ẩm lại lên cây con nho nhỏ, khi vài cây hay cả đám rủ nhau vươn lên, cùng bẹ lột dần, đua thân cây tròn xanh mốc mốc lộ lóng vươn vượt mãi đến già không cao được nữa, bẹ lá cứng vàng, khô, rơi sột soạt trong im ắng trưa hè, nghe nhớ quế lắm!
Búp hoa nhú nở ra buồng, cho trái, được tạo hóa sắp sự xây buồng từ ngọn cây xuống theo từng mắt lá. Bắp nhú, bắp nở cho buồng mang trái đến già, chín. Cứ thế tiếp diễn đến mắt già gần gốc không cho buồng được nữa mới thôi. Giờ thân cây trơn tru không còn chiếc lá, như cột nhà độc trụ chưa liên kết bởi gì, trơ gan cùng tuế nguyệt, một mình một cõi, cây không suy sụp, vỏ cứ xanh mãi, không biết nên gọi là cây già hay cây chết cho đúng.
Những người dùng gỗ đủng đỉnh già nhiều kinh nghiệm, chờ mãi, sau khi cây trơ lá khá lâu, cưa gốc lúc mát trời, để cây tự khô trong mát, sau mới cạo vỏ, bào nhẵn đẹp, lộ sớ như xử lý thân cây dừa già, mới chắc, cứng, để lâu không ngại chi cả.
Dưới gốc cây đủng đỉnh sắp rơi tàu lá già đầu tiên, ngay trong thân tầm rễ tua tũa xuống gốc, nơi mắt có sẹo tự nhiên thỉnh thoảng nảy cây con, như sự sinh sôi cây con ở loài thiên tuế, vạn tuế.
Đủng đỉnh con, cây cỡ trung, cây lớn, mọc phù hợp tự nhiên cũng làm cảnh quan thêm đẹp, huống chi được các nhà trang trí trồng làm cây cảnh cùng cây nhập ngoại.
Ngày nay vẫn còn không ít trại đám vu qui, tân hôn không chỉ ở nông thôn mà ngay những vùng ven nội thị còn sử dụng lá, cọng, buồng, quả đủng đỉnh trang trí bao khung trại, cổng , rèm, màn, bảng lễ, và ngay trên bàn thờ gia tiên giữa nhà cũng được các thợ đơm khéo tay dùng đủng đỉnh tạo tác phẩm tuyệt mỹ, mang ý nghĩa” Loan phụng hòa minh” nổi bật giữa đôi đèn sáp đỏ, khảm cẩn đẹp, cháy sáng chói rực ánh lư đồng vàng chóe. Hàm nghĩa khác, chúc tân lan tân nương sinh con cháu đầy đàn, đủng đa đủng đỉnh như cái tên đẹp của nó, nếu không nghỉ tới kế hoạch hóa gia đình như thời nay.
Bài: Dương Văn Cẩm