Hoa Đào
Hai Quang sưu tập
Khi những cánh hoa Mai nở rộ trời Nam và những cánh hoa đào thắm tươi đất Bắc chính là lúc mùa Xuân đã về. Tuổi trẻ thì lòng phơi phới như hoa muôn sắc-hy vọng và đợi chờ. Tuổi già thì nao nao một nỗi niềm bâng khuâng như nắng chiều vàng-trống vắng, mênh mông.
Xuân về mà sao đất trời phương Bắc vẫn còn giá lạnh dễ khiến lòng người cảm thấy cô đơn. Đã lâu lắm tôi vẫn đứng trên đỉnh cao của Trường Thành Vạn Lý để ngắm nhìn núi đồi Bát Đạt Lỉnh trắng xóa cánh hoa đào gợi nhớ trong tôi những đồi hoa sim tím đẹp ở quê hương đất Việt. Không hiểu sao hoa đào nơi đây chỉ có một màu trinh nguyên không tím, đỏ, hồng như những cây hoa đào khác được trồng ở đường phố Bắc Kinh. Có phải chăng màu trắng của hoa đào nơi đây là hóa thân của tình yêu trong sáng, sự thủy chung của nàng Mạnh Khương xưa có chồng đi phu xây vạn lý trường thành ? Bạo quyền đã chia cắt họ đôi nơi nhưng mùa Xuân lại đem họ trở về.
Ngày tháng trôi qua, nhiều thứ trên đời có thể xa ta nhưng mùa Xuân mãi mãi trường tồn. Mỗi giai đoạn của đời người đều có niềm vui riêng của nó, hạnh phúc đơn sơ như cội đào già nở hoa khoe sắc cho đến tận lúc Xuân tàn một kiếp hoa.
Đào tên khoa học làPrunus persica(L). Batsh. Thuộc họ hoa hồng Rosaceae
Đào nhân có vị đắng ngọt, tính bình, có tác dụng phá huyệt, khử tích trệ, nhuận táo, hoạt trường, lợi tiểu. Lá đào có vị đắng, tính bình, có tác dụng làm tan kết tụ và giảm đau, ngoài ra còn có tác dụng lợi tiểu mạnh.
Công dụng: Đào nhân dùng sống trị kinh nghiệm bế tắc, sinh hòn cục, bụng dưới đầy đau, té ngã ứ huyết, dùng chín thì hoạt huyết, chữa đại tiểu khó do huyết táo. Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc. Đào nhân còn được chữa ho như hạt mơ. Lá đào thường được dùng sắc nước hoặc vò ra lấy nước tắm ghẻ, sưng ngứa, chốc lở, xát và ngâm chữa đau chân. Hoa đào được dùng làm thuốc thông tiểu tiện, chữa thủy thủng, bí đại tiện.
Đơn thuốc:
1/Chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng do kinh bế: Đào nhân, tô mộc, đương quy, uất kim, ngưu tất đều bằng nhau, mổi vị 8-12g sắc uống.
2/Chữa bí đại tiện : Dùng Đào nhân 40g luộc ăn vào lúc đói. Hoặc dùng lá đào một nắm giã vắt lây nước uống.
3/Chữa phù thủng: vỏ cây đào 8g, Bạch phục linh 12g sắc uống.
5/Chữa chốc lở, rôm sẩy, té ngã sưng trặc, đau nhứt: giã lá đào tươi xoa bóp.
6/Phấn xoa mặt dưỡng da: Hoa đào, hoa hồng, bạch linh bằng nhau tán bột.
7/Phòng ngừa và các bệnh tim mạch: Đào nhân, điều thất, đơn sâm bằng nhau tán bột. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần một muỗng cà phê.
Bài : Nguyễn Thế Quốc